MỞ ĐẦU :
1. Lý do chọn đề tài
Cũng như những quốc gia dân chủ phương Tây khác, nước Úc đã chứng kiến
một sự giảm mạnh số lượng đảng viên chính thức của các đảng phái chính trị.
Trong năm 2006, chỉ có 1.3% dân số Úc là đảng viên chính thức của các đảng
phái, giảm 10% so với 60 năm trước đó.
Trong khi sự quan tâm về chính trị trong dân chúng Úc càng lúc càng suy
giảm và các đảng phái càng ngày càng trở nên ít đại diện cho dân chúng Úc, thì
các đảng phái đang trở nên càng ngày càng có quyền lực.
Một số ít các chính trị gia lãnh đạo các đảng chính trị này trở thành những
nhóm rất ít các chính trị gia Úc, nắm toàn bộ vận mệnh nước Úc trong tay mình.
Họ quyết định vấn đề tài chính, vấn đề chính sách và quan trọng nhất là lựa
chọn những ứng cử viên cho những chức vụ quan trọng nhất của nước Úc.
Tuy nhiên sự tuyển lựa các chính khách của các đảng phái tỏ ra không chính
xác. Nếu chúng ta theo dõi tư cách của những chính trị gia như Craig
Thomsons, Peter Slippers, Geoff Shaws và Robert Furolos, thì rõ ràng những
chính khách này đã làm cho cả đảng và quốc hội của Úc mang tiếng xấu.
Những tai tiếng của các chính trị gia này có được điều tra tới nơi tới chốn
không? Ai điều tra và điều tra như thế nào, kết quả như thế nào? Những câu hỏi
đó đều không có câu trả lời rõ ràng. Trong khi đó những dân biểu này vẫn tiếp
tục đến quốc hội, tiếp tục nhận những đồng lương hậu hĩ từ tiền đóng thuế của
người dân.
Những chính khách của đảng Lao Động NSW như Eddie Obeid, Ian
Macdonald và Eric Roozendaal, đang bị Ủy ban Độc lập chống Tham nhũng
điều tra những vụ bê bối trong thời gian làm việc ở quốc hội. Một ông khác là
Bernard Finnigan, cựu dân biểu ở Nam Úc đang bị điều tra đến những cáo buộc
liên quan đến việc lưu trữ hình ảnh dâm ô trẻ em..
Người ta nói rằng không có các đảng chính trị như tại Úc, thì không thể có
dân chủ. Tuy nhiên để có dân chủ thực sự thì các đảng chính trị nói trên phải
Về kĩ năng:
Rèn luyện kĩ năng phân tích tiêu chí về nội dung, phương thức
cầm quyền, sự lãnh đạo của Đảng cầm quyền Úc.
Về thái độ:
Nghiêm túc nghiên cứu về hoạt động và chức năng nhiệm vụ của
Đảng cầm quyền Úc, luôn cầu thị trong viện tìm hiểu, nghiên cứu thông
tin.
4. Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: là phương thức tổ chức và lãnh đạo của Đảng cầm quyền ở
Úc.
- Phạm vi nghiên cứu:
Về không gian: Trong hộ thống chính trị của Úc
Về thời gian: Những năm gần đây
-Đối tượng nghiên cứu: Bài tiểu luận tập trung nghiên cứu
5. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận : Đề tài sử dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử làm phương pháp luận
Phương pháp nghiên cứu : Đề tài sử dụng những phương pháp nghiên
cứu cụ thể như logic lịch sử, phân tích – tổng hợp, phương pháp lịch sử
cụ thể, hệ thống – cấu trúc, so sánh, tra
6. Đóng góp mới của đề tài
Đề tài đưa ra cái nhìn tổng quát về Đảng Cầm quyền tại nước Úc , những
đánh giá khách quan về những đóng góp cho đến những hạn chế của Đảng
cầm quyền Úc với xã hội.
7. Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo thì nội dung
của tiểu luận được kết cấu gồm 2 chương, 4 tiết
B. NỘI DUNG
nước.
Đảng chính trị là một sản phẩm lịch sử, nó là một hiện tượng chính trị đặc
biệt ra đời do nhu cầu của cuộc đấu tranh giai cấp, đó là sản phẩm tất yếu
của giai cấp và đấu tranh giai cấp. Đảng chính trị chỉ xuất hiện khi xuất
hiện thể chế dân chủ, một thể chế thừa nhận sự tồn tại hợp pháp của các
nhóm lợi ích đối lập cùng các tổ chức đại diện cho nhóm lợi ích đó. Đảng
chính trị cũng ra đời trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở
những nước thuộc địa phụ thuộc.
1.1.2 Bản
chất
Đảng
Chính
trị
Về bản chất, đảng chính trị bao giờ cũng mang bản chất giai cấp. Đảng
chính trị là đại biểu cho hệ tư tưởng, cho lợi ích của giai cấp xã hội nhất
định, không có đảng chính trị nào là phi giai cấp, siêu giai cấp. Dù ở thời
đại nào, dù ở nước nào cũng không thể có một đảng chính trị mà lại vừa
đại biểu cho lợi ích của giai cấp bóc lột thống trị lại vừa đại biểu cho lợi
ích của cac giai cấp, các tầng lớp lao động. Muốn xem xét bản chất giai
cấp của một đảng chính trị thì phải xem xét trên hệ tư tưởng của nó, xem
đảng đó đấu tranh vì ai, bảo vệ lợi ích cho giai tầng nào trong xã hội.
1.2. chức năng và vai trò của Đảng Chính Trị
1.2.1.chức
viên và các tổ chức đảng trong hoạt động thực tiễn
2.1.2. Vai trò của Đảng Chính Trị
Vai trò của Đảng cầm quyền trong việc xác lập: bộ máy nhà nước, vị trí
cán bộ chủ chốt trong bộ máy nhà nước cấp Trung ương và địa phương, vị trí
cán bộ chủ chốt thuộc các bộ phận cấu thành hệ thống quyền lực nhà nước:
Hoạt động của Đảng cầm quyền luôn gây ảnh hưởng đến đời sống chính
trị và hoạt động của bộ máy Nhà nước, làm cho các cơ quan nhà nước hoạt động
không theo quy định của pháp luật và trở nên hình thức, có sự phân chia quyền
lực nhà nước giữa các Đảng.
Ở Cộng hòa Xingapo, Đảng cầm quyền PAP của Xingapo lãnh đạo Chính
phủ và chi phối Quốc hội. Tuy nhiên giữa chúng có sự phân chia quyền lực: các
chủ trương, đường lối, chính sách lớn của Đảng phải được Quốc hội thông qua
mới được thi hành, và Chính phủ là cơ quan triển khai thực hiện các chủ trương,
đường lối đó.
Quốc hội Xingapo là cơ quan lập pháp gồm 51 nghị sĩ do dân bầu. Tổng
thống là người đứng đầu Nhà nước do Quốc hội cử, và chỉ định Thủ tướng
(người đứng đầu Đảng chiếm đa số ghế trong Quốc hội). Theo đề nghị của Thủ
tướng, Tổng thống sẽ chỉ định các thành viên của Nội các (gồm 14 Bộ trưởng và
các quan chức hành chính cao cấp). Một Hội đồng cố vấn được lập ra làm tham
mưu cho Tổng thống, các ý kiến của Hội đồng trong các cuộc họp cấp cao có
thể được Tổng thống tham khảo, ví dụ như việc bổ nhiệm cán bộ chủ chốt cho
nền hành chính của quốc gia.
Ở Malaysia, bộ máy nhà nước được chia thành 3 ngành lập pháp, hành
pháp và tư pháp. Trong đó, Quốc hội liên bang giữ quyền lập pháp của liên bang
(cụ thể là Thượng và Hạ nghị viện), có chức năng làm luật và kiểm soát tài
chính của Chính phủ.
Thượng nghị viện hoạt động dưới sự chủ trì của Chủ tịch hoặc Phó Chủ
tịch, gồm 69 thành viên, trong đó có 40 người được sự chỉ định của Vua. Hạ
trạng có nhiều thành viên Nội các là người của một Đảng hay một Bang nào đó.
Bộ trưởng được chọn trong số đại biểu của 2 Viện, nhưng chủ yếu là của Hạ
nghị viện. Hiện nay, Malysia có 27 Bộ trưởng, trong đó có 4 Bộ trưởng không
Bộ nằm trong Văn phòng Thủ tướng. Thủ tướng có đặc quyền kiêm nhiệm chức
vụ Bộ trưởng ở bất kỳ Bộ nào, không hạn chế.
Hiến pháp Nhật Bản quy định Quốc hội là cơ quan quyền lực tối cao, là
cơ quan lập pháp duy nhất của đất nước. Điều đó cho thấy, Quốc hội được công
nhận về tầm quan trọng của mình cao hơn các cơ quan khác như Nội các và Tòa
án. Vì vậy, nền chính trị nhà nước hoạt động theo nguyên tắc Quốc hội là trung
tâm. Nhật Bản cơ cấu Quốc hội theo chế độ 2 viện được tổ chức hết sức công
phu, dù tổ chức 2 viện khác nhau nhưng phải phù hợp với mục đích của Quốc
hội. Ngoài quyền lập pháp, hai viện của Quốc hội còn có quyền giám sát tài
chính quốc gia và điều tra các hoạt động chính trị của đất nứơc.
Do áp dụng chế độ Nội các Nghị viện nên Thủ tướng Nhật Bản được chỉ
định trong số các nghị sĩ bằng quyết nghị của Quốc hội. Thực tế, nghị sĩ là Chủ
tịch Đảng chiếm đa số ghế tại Hạ nghị viện làm Thủ tướng. Thủ tướng có quyền
bổ nhiệm các Bộ trưởng và hơn nửa số Bộ trưởng phải được chọn trong số các
nghị sĩ Quốc hội (thực tế thì đa số ghế Bộ trưởng trong Nội các thuộc Đảng cầm
quyền).
Nội các gồm Thủ tướng và khoảng 20 Bộ trưởng, cơ quan giúp việc cho
Nội các là Văn phòng Nội các và các cơ quan của Cục pháp chế Nội các. Ngoài
công việc hành chính nói chung, Nội các còn thực thi và chịu trách nhiệm trước
Quốc hội về các công việc hành chính như chấp hành pháp luật, tổng hợp các
công việc của quốc gia, xử lý các quan hệ ngoại giao, ký kết các hiệp ước, ban
hành các sắc lệnh thi hành Hiến pháp, pháp luật và có đặc quyền về ân xá như
đại xá, đặc xá. Các Bộ trưởng được phân công phụ trách các công việc hành
chính như Phủ Thủ tướng, các Bộ và các vị trí quan trọng như: Đổng lý văn
phòng Nội các (tức Bộ trưởng Văn phòng chính phủ), Chủ tịch Uy ban an ninh
của Tổng thống thường đi theo đường lối chính sách của Đảng đã hứa với cử tri
khi vận động bầu cử.
Tổng thống chỉ định tất cả các quan chức cao cấp liên bang và có toàn
quyền trong việc bổ nhiệm các thành viên Nội các – một trong những cơ quan
giúp việc quan trọng nhất của Tổng thống, và các thành viên này là cộng sự đắc
lực có ảnh hưởng lớn trong việc điều hành đất nước của Tổng thống. Để nhận
được sự ủng hộ lâu dài của Đảng, Tổng thống thường bổ nhiệm các Đảng viên
cùng Đảng đã có sự ủng hộ tích cực trong chiến dịch bầu cử vào các chức vụ
quan trọng. Bên cạnh đó, Tổng thống cũng bổ nhiệm một vài chức vụ cho Đảng
viên đối lập nhằm củng cố thêm mối quan hệ trong Bộ máy Nhà nước.
Tổng thống thực hiện quyền lực của mình với sự trợ giúp của trên 100 cơ
quan khác nhau, trong đó quan trọng nhất là Hội đồng an ninh quốc gia, Cơ
quan quản lý ngân sách, Hội đồng đối nội, Cục Tình báo Trung ương, Cục điều
tra liên bang, Hội đồng cố vấn kinh tế, Nội các…
Đứng đầu cơ quan tư pháp Malaysia là Ủy ban tư pháp. Đây là cơ quan
độ lập, chịu sự chi phối trực tiếp của Nhà vua và Hoàng gia. Người đứng đầu
Ủy ban do Vua bổ nhiệm. Thành phần Ủy ban gồm các luật gia, thẩm phán Toà
án Tối cao và Toà án cấp I, II. Thẩm phán do Vua bổ nhiệm trên cơ sở tham
khảo ý kiến của Thủ tướng và người đứng đầu ngành Tư pháp. Các Thẩm phán
được bổ nhiệm đều phải xuất phát từ Ủy ban tư pháp và đi lên từ Tòa án huyện.
Hiến pháp Mỹ quy định: Tổng thống có quyền đề cử và với ý kiến cùng
sự thoả thuận của Thượng nghị viện, bổ nhiệm các đại sứ, công sứ và các lãnh
sự, các thẩm phán Tòa án tối cao liên bang và tất cả công chức liên bang khác…
Theo đó, những người có chức vụ cần được bổ nhiệm một cách trực tiếp hoặc
gián tiếp (do nhân dân chọn lựa), các thẩm phán liên bang được nhân dân chọn
lựa gián tiếp qua những người đại diện cho họ. Quốc hội cũng quy định thủ tục
như vậy đối với việc lựa chọn thẩm phán cho các Tòa án liên bang khác. Như
vậy, việc Tổng thống và Thượng nghị viện cùng quyết định chọn ai là thẩm
nghị sĩ là Đảng viên của Đảng, nắm quyền kiểm soát các hoạt động của Bộ máy
Nhà nước. Hoạt động của Nhà nước luôn tuân thủ theo sự lãnh đạo của Đảng
cầm quyền, cụ thể hóa các mục tiêu, cương lĩnh cũng như quyền lợi của Đảng
vào chính sách của quốc gia.
Một điều có ý nghĩa quyết định của đảng cầm quyền đối với Nhà nước là
đưa tư tưởng của đảng thâm nhập vào chính sách, quyết sách của Nhà nước.
Con đường cơ bản để Đảng cầm quyền củng cố, duy trì vị trí cầm quyền
của mình là người đại diện cho Đảng cầm quyền đang giữ vai trò lãnh đạo trong
bộ máy cơ quan Nhà nước phải thực hiện các chương trình hành động cũng như
làm tròn trách nhiệm đối với các cam kết của Đảng mình trong chiến dịch tranh
cử đối với nhân dân.
Nguồn lực để Đảng cầm quyền duy trì hoạt động của mình là công tác
đào tạo sử dụng cán bộ. Công tác này phải được làm một cách thường xuyên,
liên tục, có kế hoạch, hiệu quả và chất lượng cao
Chương II. PHƯƠNG THỨC TỔ CHỨC VÀ LÃNH ĐẠO CỦA
ĐẢNG CẦM QUYỀN Ở USTRAYLIA
2.1. Đặc điểm chung về nước Úc
2.1.1. Vị trí địa lí của nước Úc
Australia là một quốc gia đảo nằm ở phía Nam châu Á. Với diện tích rộng
7.682.300 km2 Australia là một trong 6 nước lớn nhất thế giới: sau Nga,
Canada, Trung Quốc, Mỹ, Brasil. Australia là một trong những vùng đất lâu đời
nhất, có lịch sử địa chất Tây Âu mới 3.500 triệu năm. Con người có mặt tại Tây
Âu đây cũng khá sớm theo các nhà khảo cổ học thì con người xuất hiện ở đây
trên dưới 50.000 năm. Song lịch sủ quốc gia này lại bắt đầu muộn. Từ thế kỷ
16-17 Châu Âu đã và đang trên con đường phát triển mạnh mẽ về kinh tế- xã
hội, khi nhu cầu thị trường và nguyên liệu ngày càng thôi thúc thì sự can đảm đã
đồng hành với những cuộc phiêu lưu dài ngày trên biển để tìm ra những vùng
Trong một bản báo cáo nội bộ chưa từng được công khai trước dư luận,
đảng Quốc gia Queensland nhận định rằng việc các đảng viên từ bỏ đảng là do
chủ trương bài trừ súng ống của ông Howard sau vụ thảm sát tại Port Arthur ở
tiểu bang Tasmania.
Đảng nói trên đã cố gắng hết sức để vấn đề này không dẫn đến sự mất
đoàn kết nội bộ của liên đảng Quốc gia – Tự do. Tuy nhiên trên thực tế đảng
Quốc gia Queensland đã bị khai tử và không bao giờ hồi phục lại được vị thế
chính trị của mình như trước. Nhiều đảng viên của đảng này trở thành đảng viên
của đảng One Nation và ủng hộ những chính sách đi ngược lại với chính sách
của đảng Quốc gia Queensland.
Tại tiểu bang Victoria, nơi mà đảng Tự do đã có một truyền thống vững
mạnh từ lâu, những báo cáo nội bộ của đảng cho thấy một tương lai ảm đạm
đang chờ đón đảng này. Báo cáo này cho thấy trong năm 1950 tổng số đảng
viên của đảng Tự do tại Victoria là 46 ngàn người. Thì trong năm 2008 tổng số
đảng viên của đảng Tự do tại tiểu bang này chỉ còn có 13 ngàn!
Thêm vào đó độ tuổi trung bình của đảng viên đảng Tự to Victoria là 62
trong khi đó độ tuổi trung bình của tiểu bang Victoria là 43. Như thế chứng tỏ
rằng đã không có đảng viên trẻ gia nhập đảng Tự do trong những thập niên vừa
qua.
Những con số thống kê cũng chẳng tốt đẹp gì hơn cho đảng Lao Động.
Trong năm 2005 trong một cuộc bầu cử chủ tịch đảng liên bang, các viên chức
đảng phát ra 39 ngàn phiếu bầu, nhưng trong thùng phiếu chỉ có tổng cộng 19
ngàn phiếu. Chứng tỏ rằng số đảng viên thực sự quan tâm đến chính trị chỉ có
chừng đó thôi. Một báo cáo khác của đảng tại tiểu bang New South Wales cho
thấy chỉ có 8000 đảng viên trong tiểu bang này, bao gồm những đảng viên về
hưu. Trong khi đó tổng số người Lao Động của tiểu bang này là 3.25 triệu!
Cứ cho rằng một phần ba số đảng viên này là thành viên công đoàn và số
hai phần ba còn lại là sinh viên, thì rõ ràng đảng Lao Động này không thể nói là
đơn vị đảng tại địa phương. Thậm chí đảng Quốc gia đang đối phó lại tình trạng
giảm số lượng đảng viên bằng cách áp dụng hình thức sinh hoạt đảng của Hoa
Kỳ, tức là cho phép sinh hoạt đảng cả đảng viên và cả những người không phải
đảng viên, miễn là họ ủng hộ đảng Quốc gia.
Tình trạng trung ương tập quyền có thể thấy rõ hơn trong nội bộ đảng
Lao Động. Tuy nhiên do tình trạng trung ương tập quyền và số đảng viên giảm,
những chính khách Lao Động trung ương của đảng Lao Động sẽ có thể đưa ra
những ứng cử viên theo sự lựa chọn riêng của mình chứ không để cho đơn vị
đảng địa phương lựa chọn nữa.
Mặc dù một số đảng viên thâm niên của đảng Lao Động tin rằng điều này
khó xảy ra do truyền thống dân chủ từ xưa đến nay của đảng Lao Động, không
ai có thể biết trước rằng liệu đảng bộ trung ương quốc gia của đảng Lao Động
có dành quyền đưa người ra ứng cử tại địa phương trong tương lai hay không.
2.2. Phương thức tổ chức và lãnh đạo của Đảng cầm quyền Ustraylia
Australia theo chế độ quân chủ lập hiến. Nữ hoàng Anh Elizabeth II cũng
là Nữ hoàng của Australia và là người đứng đầu Nhà nước. Nữ hoàng chỉ định
đại diện của mình trên toàn lãnh thổ Australia gọi là Toàn quyền. Ngài Peter
Cosgrove (2014) hiện là Toàn quyền đương nhiệm; đứng đầu mỗi bang là
Thống đốc. Toàn quyền Úc là một chức vụ có tích cách nghi thức trong tổ chức
chính phủ Úc. Chức vụ này do Nữ hoàng Anh bổ nhiệm, để thay mặt Nữ hoàng
chính thức bổ nhiệm nhiều chức sắc trong chính phủ như đại sứ, nghị sỹ, chánh
án và đóng dấu hoàng gia chấp thuận các nghị luật hành pháp và lập pháp. Đồng
thời, vì hiện nay lãnh thổ Bắc Úc chưa chính thức trở thành tiểu bang, Toàn
quyền sẽ đảm nhận tư cách "quan kinh lược" lãnh thổ này.
Trên thức tế, chức vụ Toàn quyền thường do Thủ tướng Úc đề nghị, sau
khi bàn thảo với cá nhân, hoặc đảng phái chính trị, hoặc với hoàng gia Anh. Sau
đó, Thủ tướng sẽ đệ đơn xin Nữ hoàng bổ nhiệm người này. Đơn này có thể bị
bác, nhưng xưa nay hiếm có hiện tượng này. Chức vụ Toàn quyền Úc hiện nay
Cơ quan hành pháp: Hội đồng Hành pháp Liên bang, thi hành theo Toàn
quyền với cố vấn của Thủ tướng và các bộ trưởng;
Cơ quan tư pháp: Tòa Cao đẳng Úc và các tòa án liên bang khác, các
thẩm phán do Toàn quyền bổ nhiệm theo cố vấn của Hội đồng.
Tham nghị viện (thượng nghị viện) có 76 nghị sĩ: mỗi bang có 12 nghị sĩ,
mỗi lãnh thổ ở đại lục (Lãnh thổ thủ đô Úc và Lãnh thổ phương Bắc) có hai
nghị sĩ. Chúng nghị viện (hạ nghị viện) có 150 thành viên được bầu theo hình
thức mỗi đại biểu đại diện cho một khu vực bầu cử, được phân bổ cho các bang
dựa theo dân số, với mỗi bang được đảm bảo tối thiểu là năm ghế. Bầu cử lưỡng
viện theo thường lệ được tiến hành mỗi ba năm, và đồng thời; các thượng nghị
sĩ từ các bang có các nhiệm kỳ 6 năm so le, còn thượng nghị sĩ từ các lãnh thổ
không có nhiệm kỳ cố định mà phụ thuộc vào vòng bầu cử hạ nghị viện; do đó
chỉ có 40 trong số 76 ghế tại Thượng được bầu trong các cuộc bỏ phiếu trừ khi
vòng bị gián đoạn theo một quyết định giải tán lưỡng viện.
Hệ thống bầu cử của Úc sử dụng bầu cử thay thế trong toàn bộ các cuộc
bầu cử hạ nghị viện ngoại trừ tại Tasmania và Lãnh thổ Thủ đô Úc, bầu cử hạ
nghị viện tại hai nơi này cũng như bầu cử thượng nghị viện liên bang và thượng
nghị viện của hầu hết các bang là kết hợp bầu cử thay thế và đại diện tỷ lệ trong
một hệ thống bầu cử có thể chuyển di đơn phiếu (single transferable vote). Bầu
cử là bắt buộc đối với các công dân 18 tuổi và lớn hơn trong mỗi khu vực thuộc
phạm vi quyền hạn, như là ghi danh (ngoại trừ Nam Úc). Đảng nhận được sự
ủng hộ của đa số tại Hạ nghị viện sẽ thành lập chính phủ và lãnh tụ của họ trở
thành Thủ tướng. Trong trường hợp không đảng nào giành được đa số ủng hộ,
Toàn quyền có quyền bổ nhiệm Thủ tướng, và nếu cần thiết thì bãi truất người
để mất tín nhiệm của Nghị viện.
Có hai phe chính trị lớn thường xuyên thành lập chính phủ ở cấp liên
bang và cấp bang: Đảng Lao động Úc (Công đảng Úc) và Liên minh- về chính
thức là một nhóm gồm có Đảng Tự do và đối tác nhỏ là Đảng Quốc gia. Các
chủ hay không? Trong bối cảnh của nước Úc, người đóng thuế đài thọ ngân
sách vận động tranh cử cho các đảng chính trị. Chính vì thế cử tri có quyền đòi
hỏi các đảng chính trị phải thể hiện tính dân chủ ngay từ trong nội bộ.
Như vậy, chính trị nước Úc nhìn chung vẫn đang khá yên ổn, cơ quan tư pháp
hoạt động một cách hiệu quả và nghiêm chỉnh, dân chủ được nâng cao .
DANH MỤC THAM KHẢO
1.
/>
australia.htm
2. />3.www.mofahcm.gov.vn/vi/tintuc_sk/tulieu/.../ns061117151241