BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC
TÌNH TRẠNG BỎ HỌC SỚM CỦA HỌC SINH DÂN TỘC
THIỂU SỐ TRƢỜNG THCS THỊ TRẤN ÍT ONG
HUYỆN MƢỜNG LA
Thuộc nhóm ngành: Xã hội học
Sơn La, năm 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC
TÌNH TRẠNG BỎ HỌC SỚM CỦA HỌC SINH DÂN TỘC
THIỂU SỐ TRƢỜNG THCS THỊ TRẤN ÍT ONG
HUYỆN MƢỜNG LA
Thuộc nhóm ngành: Công tác xã hội
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Mai Lệ
Giới tính: Nữ
Với lòng kính tr ọng và biế t ơn sâu sắ c , chúng tôi xin được bày tỏ l ời cảm ơn chân
thành tới:
- TS.Phạm Thu Hà, một người rất tâm huyết với nghề CTXH, cô đã hế t lòng
giúp đỡ, động viên nhóm nghiên cứu trong những lúc khó khăn và hư ớng dẫn chúng
tôi rất chu đáo trong suố t quá trình thực hiện và hoàn thành đề tài, đã mang đến cho
tôi rất nhiều kiến thức quý báu và truyền cho chúng tôi sự tâm huyết, yêu nghề.
- Ban chủ nhiệm khoa và các thầy cô giảng viên trong khoa Lý luận chính trị
trường Đại học Tây Bắc, Phòng Nghiên cứu khoa học trường Đại học Tây Bắc đã
nhiệt tình giúp đỡ , tạo điều kiện thuận lợi về mặt thời gian và công việc để nhóm
nghiên cứu có thể hoàn thành đề tài theo đúng tiến độ. Xin cảm ơn Ban giám hiệu, và
các bạn học sinh khối lớp 6,7,8,9 của trường THCS Thị trấn Ít Ong huyện Mường La,
UBND huyện Mường La và các vị phụ huynh đã nhiệt tình hợp tác, cung cấp thông tin
để tôi có thể thu thập được những thông tin và số liệu quý báu cho đề tài.
Sơn La, Tháng 5 năm 2017
Người thực hiện
Nguyễn Mai Lệ
Khoàng Thị Phƣớc
Vàng A Nỏ
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CTXH
: Công tác xã hội
DTTS
: Dân tộc thiểu số
: Phỏng vấn sâu
NVCTXH
: Nhân viên công tác xã hội
THCS
: Trung học cơ sở
THPT
: Trung học phổ thông
WTO
: Tổ chức Thƣơng mại thế giới
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ..........................................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài ..........................................................................................................1
2. Tình hình nghiên cứu vấn đề ........................................................................................2
2.1 Các nghiên cứu trên thế giới .......................................................................................2
2.2. Nghiên cứu ở Việt Nam .............................................................................................4
3. Ý nghĩa thực tiễn và ý nghĩa khoa học .........................................................................9
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu .............................................................................10
4.1. Mục đích nghiên cứu ...............................................................................................10
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................................................10
5. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu ............................................................10
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................................49
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Những yếu tố tác động đến việc học sinh DTTS bỏ học theo đánh giá
của học sinh và phụ huynh học sinh ............................................................................30
Bảng 2.2: Đánh giá về lợi ích của việc học theo ý kiến của học sinh ...........................32
Bảng 2.3: Những yếu tố từ gia đình tác động đến việc bỏ học của học sinh DTTS qua
đánh giá của phụ huynh và học sinh...............................................................................33
Bảng 2.4: Những yếu tố từ nhà trường tác động đến việc bỏ học
của học sinh DTTS
qua đánh giá của phụ huynh và học sinh........................................................................35
Bảng 2.5: Những yếu tố từ cộng đồng tác động đến việc bỏ học của học sinh DTTS
qua đánh giá của phụ huynh và học sinh........................................................................36
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trẻ em là tương lai của nước nhà, cần được thụ hưởng những điều kiện tốt nhất
để phát triển hoàn thiện về thể chất và trí tuệ. Một trong những phương cách để hoàn
thiện nhân cách là thông qua con đường giáo dục. Giáo dục cơ bản của nước ta phân chia
thành 3 cấp học nhằm giúp trẻ em tiếp cận với tri thức ở từng mức độ, tầng bậc khác nhau
phù hợp với khả năng tiếp nhận, phân tích thông tin, ứng với quá trình phát triển tâm sinh
lý của. Mục tiêu của giáo dục là giúp cho học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ,
thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản nhằm hình thành nhân cách con người Việt Nam
Xã hội Chủ nghĩa, xây dựng tính cách và trách nhiệm công dân.
Giáo dục con người là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Đảng và nhà
khắc phục để cho tất cả học sinh trong độ tuổi đều được cắp sách đến trường, góp phần
nâng cao tri thức và xây dựng đất nước trong thời kỳ đổi mới.
Có thể thấy rằng, việc khắc phục tình trạng bỏ học của học sinh hiện nay là vấn
đề hết sức bức thiết và đòi hỏi sự quan tâm của nhiều thành phần. Trong điều kiện giới
hạn, nhóm chúng tôi đã chọn thực hiện đề tài: “Thực trạng và giải pháp khắc phục
tình trạng bỏ học sớm của học sinh dân tộc thiểu số trƣờng THCS Thị Trấn Ít
Ong huyện Mƣờng La”.
2. Tình hình nghiên cứu vấn đề
2.1 Các nghiên cứu trên thế giới
Giáo dục được xác định là chiến lược lâu dài cho phát triển bền vững. Vào đầu
thập niên 80 Liên hợp quốc đã đưa mục tiêu phấn đấu “phổ cập hóa giáo dục tiểu học”
cho mọi người dân, tất cả mọi người đi học tiểu học phải được “miễn phí”.
Chỉ số HDI (Human Development Index) về chất lượng cuộc sống cũng lấy tỷ lệ
người biết chữ làm tiêu chí đo lường nhằm đánh giá mức độ phát triển toàn diện của
một quốc gia bên cạnh GPP bình quân và tuổi thọ bình quân đầu người. Ở những nước
phát triển tỷ lệ trẻ em đến trường đạt 95%, các nước có thu nhập thấp thì tỷ lệ trẻ em
học xong trung học cơ sở (THCS) cũng đạt rất thấp, khoảng 77 %. Ví dụ như với
Malaysia tỷ lệ bỏ học ở trường phổ thông là 9,3% đối với vùng đô thị và 16,7% ở nông
thôn. Trong khi đó có 4,4% học sinh tiểu học và 0,8% học sinh phổ thông chưa làm
chủ được ba kỹ năng đọc, viết, làm toán.
Nghiên cứu của UNICEF (2010) chỉ ra rằng “Trong khi tỷ lệ nhập học ngày càng
được cải thiện thì việc học sinh bỏ học đang là một trong những vấn đề mà hầu như tất
cả các nước đang phát triển phải đối mặt. Điều này không những có ảnh hưởng trực
tiếp đến kết quả của việc phổ cập hóa giáo dục cấp tiểu học mà còn là một sự lãng phí
nguồn lực và làm tăng số người mù chữ. Trong các nước đông dân số, tỷ lệ nhập học
cao đồng thời tỷ lệ bỏ học ở các nước này cũng cao”.
2
Okumu, Ibrahim M, Naka jo, Alex and Isoke, Doren (2008) đã phân tích các yếu
dưỡng, trường ở xa nhà, không thích học và những yếu tố nhà trường như cơ sở vật
3
chất, chất lượng giáo viên. Những nguyên nhân này liên quan đến những rào cản về
kinh tế xã hội và có mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ với nhau (Barton, 2006; Barsaga,
1995).
Tóm lại, các yếu tố tác động đến học sinh bỏ học được nghiên cứu khá nhiều trên
thế giới. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng vấn đề bỏ học sớm của học sinh liên quan đến
trình độ phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia, từ những chính sách về kinh tế, dân
số, nhân khẩu đều ảnh hưởng rõ rệt đến vấn đề này. Ngoài ra những nguyên nhân về
bình đẳng giới, sự phân cấp giữa thành thị, nông thôn, giữa nhóm người có thu nhập
cao với nhóm có thu nhập thấp và nhóm DTTS với nhóm người đa số cũng có ảnh
hưởng đến việc xã hội hóa giáo dục. Từ thực tế này chỉ ra rằng bất bình đẳng trong
tiếp cận với giáo dục cho trẻ em vẫn còn diễn ra ở khắp nơi trên thế giới, điều này cần
thiết có sự vào cuộc nghiên cứu của nhiều ngành khác nhau.
2.2. Nghiên cứu ở Việt Nam
Giáo dục phát triển đồng hành cùng đất nước qua từng thời kỳ khác nhau. Các
phong trào bình dân học vụ, diệt giặc dốt, xóa mù chữ ra đời để mọi người dân từ già
đến trẻ có thể tiếp cận với nền học vấn tối thiểu. Trường học được đầu tư ngày càng
nhiều, chi phí cho giáo dục không ngừng tăng qua các năm. Năm 2001 tổng chi cho
giáo dục chiếm 4,1% GDP thì đến năm 2006 con số trên đã đạt 5,6%. Chi ngân sách
cho giáo dục đào tạo chiếm tỷ trọng cao nhất trong lĩnh vực xã hội. Việt Nam nằm
trong những quốc gia có tỷ trọng đầu tư cho giáo dục cao nhất. Hệ thống cơ sở vật chất
đầu tư cho giáo dục được mở rộng, thầy cô giáo được đào tạo để “cắm làng, bám bản”,
gieo cái chữ đến tận biên giới, vùng địa đầu Tổ Quốc. Chính vì sự nỗ lực của toàn thể
nhân dân nên nước ta đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học vào năm 2003, trung
học cơ sở (THCS) vào năm 2010 đó là những thành tựu vô cùng to lớn trong công
cuộc xây dựng một nền học vấn mang tính đại chúng, dễ dàng tiếp cận.
Thời kỳ nào cũng vậy, tuổi trẻ luôn được xem là trụ cột của nước nhà, là những
báo Sài Gòn giải phóng.), trên internet hoặc một số tin ngắn, phóng sự trên các
phương tiện thông tin đại chúng phản ánh các sự kiện liên quan.
Tập trung giải quyết các “điểm nóng” tại buổi họp báo định kỳ tháng 3 năm 2008
của Bộ GD-ĐT tổ chức ở Hà Nội ngày 12/3/2008, do Phó thủ tướng -Bộ trưởng bộ
GD-ĐT Nguyễn Thiện Nhân chủ trì, Bộ GD-ĐT đã dành phần lớn thời gian để nói về
vấn đề bỏ học và giải pháp để khắc phục.
Ngày 14 tháng 3 năm 2008, Bộ GD-ĐT có công văn số 2092/BGD&ĐT-VP gửi
đến lãnh đạo các Tỉnh, Thành phố trên cả nước giải trình về tình trạng học sinh bỏ học
trong học kỳ I năm học 2007-2008.
Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Vinh Hiển, Trần Xuân Nhĩ và một số cá nhân
quan tâm (Thạc sĩ Nguyễn Kim Nương - Đại học An Giang, ông Lê Văn Lâm - Đường
5
Nguyễn Văn Cừ - quận 1) cũng đã có những ý kiến đóng góp trong việc chỉ ra nguyên
nhân và kiến nghị một số biện pháp nhằm ngăn ngừa, khắc phục tình trạng bỏ học của
học sinh trung học.
Tập trung giải quyết các “điểm nóng” tại buổi họp báo định kỳ tháng 3 năm 2008
của Bộ GD-ĐT tổ chức ở Hà Nội ngày 12/3/2008, do Phó thủ tướng -Bộ trưởng bộ
GD-ĐT Nguyễn Thiện Nhân chủ trì, Bộ GD-ĐT đã dành phần lớn thời gian để nói về
vấn đề bỏ học và giải pháp để khắc phục. 10 Ngày 14 tháng 3 năm 2008, Bộ GD-ĐT
có công văn số 2092/BGD&ĐT-VP gửi đến lãnh đạo các Tỉnh, Thành phố trên cả
nước giải trình về tình trạng học sinh bỏ học trong học kỳ I năm học 2007-2008.
Liên quan đến vấn đề bỏ học và lưu ban của học sinh, đã có một số nghiên cứu
nhỏ được tiến hành như:
- Đề tài Các yếu tố tác động đến tình trạng bỏ học của trẻ em vùng Tây Bắc hiện
nay - luận án tiến sĩ chuyên ngành Xã hội học, mã số 62 31 30 01 của NCS. Nguyễn
Thị Thanh Hương dưới sự hướng dẫn của PGS. TS Vũ Tuấn Huy Luận án đã tập trung
nghiên cứu, khảo sát thực trạng và các nguyên nhân bỏ học của trẻ em vùng Tây Bắc
trong bối cảnh đất nước ta đang trong quá trình phát triển và hội nhập. Trên cơ sở khảo
với kinh tế thị trường rất khó khăn và thất học ảnh hưởng rất lớn đến nhận thức để
thay đổi tình trạng kinh tế hiện tại của hộ gia đình.
- Đề tài “Nghiên cứu về nguyên nhân bỏ học của Trẻ em Việt Nam, Hà Nội tháng
11/2010”. Tác giả Đặng Thị Hải Thơ - UNICEF tại Việt Nam. Đề tài đã chỉ ra những
nguyên nhân xuất phát từ gia đình như kinh tế khó khăn, trẻ lao động sớm, gia đình
không hạnh phúc, gia đình không có truyền thống học tập, gia đình khuyết thiếu, đông
con. Những nguyên nhân xuất phát từ nhà trường đó là chương trình giáo dục không
thiết thực, chất lượng dạy học và phương pháp giảng dạy thiếu hấp dẫn, ít hứng thú,
mối quan hệ thầy trò có vấn đề, ngôn ngữ là một rào cản. Bên cạnh đó tác giả đã chỉ ra
các nguyên nhân từ xã hội, từ bản thân trẻ, các nhân tố tác động khác.
- Đề tài “Khảo sát tình hình lưu ban , bỏ học của học sinh 2 trường vùng ven
Thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Đặng Văn Minh, Viện Nghiên cứu giáo dục, năm
1992. Nghiên cứu được tiến hành tại hai trường: Trường THCS Đặng Trần Côn và
Trường Cấp II, III Võ Văn Tần (năm học1990 - 1991). Tác giả đã đánh giá thực trạng
và chỉ ra những nguyên nhân bỏ học của học sinh tại hai trường này. Đề tài đã đưa ra
những nguyên nhân chủ quan, cũng như khách quan khiến học sinh bỏ học, những
nguyên nhân từ phía bản thân học sinh, gia đình, nhà trường và xã hội. Từ việc phân
tích nguyên nhân, tác giả đã đề xuất những giải pháp hữu hiệu ngăn chặn tình trạng bỏ
học, nó thật sự có ý nghĩa đối với ngành giáo dục tại thời điểm đó.
- Bài trích “Hiện tượng lưu ban, bỏ học thực trạng, nguyên nhân, vấn đề và biện
pháp / Thái Duy Tuyên /Nghiên cứu giáo dục - 1992 - Số 242 - Tr.4-6”. Tác giả đã
7
phản ánh thực trạng, nguyên nhân của hiện tượng lưu ban, bỏ học và đưa ra những
biện pháp cần thiết để ngăn chặn và khắc phục tình trạng trên. Qua đề tài, có thể thấy
được tình trạng bỏ học, lưu ban của học sinh ở từng vùng, từng miền là khác nhau: về
nguyên nhân, tỷ lệ, hệ quả. Từ đó tác giả đưa ra những biện pháp ngăn chặn, khắc
phục phù hợp với từng địa bàn nghiên cứu và tham khảo cho vùng khác.
- Bài trích “Về nguyên nhân và biện pháp chống bỏ học
8
mối quan hệ thầy trò có vấn đề, ngôn ngữ là một rào cản. Bên cạnh đó tác giả đã chỉ ra
các nguyên nhân từ xã hội, từ bản thân trẻ, các nhân tố tác động khác.
Công tác xã hội trong lĩnh vực học đường được nhắc đến nhiều trong những
năm gần đây nhằm góp phần cùng giải quyết những vấn đề còn tồn tại trong giáo dục.
Thực tế ta đã thấy, đầu tư cho giáo dục là sự phát triển bền vững. Những thành quả
đầu tư hôm nay là phồn vinh của xã hội ngày mai, là sự phát triển vững chắc khi mà
tầng lớp tương lai kế cận giỏi giang có thể gánh vác nhiệm vụ của thế hệ trước xây
đắp. Vậy nhưng giáo dục trong thời đại hiện nay của nước đối mặt với vô số thách
thức. Gần đây, báo chí dư luận xã hội nói nhiều về những tình trạng xảy ra trong giáo
dục của nước ta thiên về dạy chữ hơn là dạy người , trẻ em thiếu các kỹ năng sống
cần thiết trong hội nhập chính vì vậy trẻ thiếu khả năng giao tiếp, kỹ năng ứng phó
khi có khủng hoảng xảy ra hay khi đối đầu với một vấn đề quá sức chịu đựng của trẻ,
khiến trẻ bị hụt hẫng, căng thẳng và gây ra những hành vi không mong muốn, kể cả
vấn đề trẻ bỏ học giữa chừng cũng là biểu hiện của hành vi thiếu hệ thống hành vi
chuẩn mực để đương đầu với những khó khăn trong quá trình học tập đến từ chủ
quan hay khách quan.
Với những nghiên cứu chỉ ra ở trên có tác dụng rất lớn trong việc tham khảo
trong việc xây dựng đề tài nghiên cứu khoa học. Các nghiên cứu đã là nguồn tài liệu
vô cùng quý giá để đưa ra được những đánh giá về thực trạng cũng như giải pháp để
góp phần khắc phục tình trạng bỏ học sớm của HSDTTS.
Có thể thấy vấn đề bỏ học của học sinh đã và đang được nhiều tác giả quan tâm
nghiên cứu, tuy nhiên chưa có một nghiên cứu cụ thể nào về tình trạng bỏ học của học
sinh dân tộc thiểu số ở Huyện Mường La. Đề tài chúng tôi nghiên cứu là hoàn toàn mới.
3. Ý nghĩa thực tiễn và ý nghĩa khoa học
- Ý nghĩa thực tiễn
Thông qua việc thực hiện đề tài, nhóm chúng tôi mong muốn góp một phần nhỏ
vào việc cải thiện tình trạng bỏ học đang trở thành điểm nóng như hiện nay. Giúp cho
sinh dân tộc thiểu số.
5.2. Khách thể nghiên cứu
- Khách thể chính: 200 HSDTTS THCS Thị trấn Ít Ong huyện Mường La đang đi
học mà xảy ra hiện tượng bỏ học và phụ huynh học sinh.
- Khách thể khác: giáo viên, chính quyền địa phương, tìm hiểu cộng đồng mà học
sinh đang sinh sống
5.3 Phạm vi nghiên cứu
* Phạm vi thời gian: 8 tháng (từ tháng 9/2016 - tháng 5/2017)
* Phạm vi không gian: Nghiên cứu các khách thể trên địa bàn thị trấn Ít Ong
huyện Mường La tỉnh Sơn La
10
6. Giả thuyết nghiên cứu
Có rất nhiều yếu tố tác động đến tình trạng bỏ học của HSDTTS, trong đó yếu tố
gia đình và bản thân học sinh yếu tố tác động mạnh nhất. Việc sử dụng lý thuyết nhận
thức - hành vi để can thiệp sẽ đem lại kết quả tốt cho việc giải quyết vấn đề này.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu (nghiên cứu tài liệu thứ cấp thông qua các báo
cáo của THCS Thị Trấn Ít Ong huyện Mường La, UBND huyện, UBND, phòng giáo
dục, sở giáo dục đào tạo tỉnh Sơn La).
- Phương pháp điều tra bảng hỏi.
- Phương pháp phỏng vấn sâu.
11
NỘI DUNG
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
quyền được học tập, trẻ em học bậc tiểu học trong cơ sở giáo dục công lập không phải
đóng học phí.
Luật giáo dục quy định: “tuổi nhập học cho trẻ em ở bậc tiểu học là sáu, mười một
tuổi cho cấp THCS và mười lăm tuổi đối với học sinh cấp THPT”. Trong đề tài này, khái
niệm học sinh được hiểu là những trẻ em từ 6 đến 20 tuổi đang theo học một lớp bất kỳ tại
hệ thống các trường học thuộc ngành giáo dục.
- Học sinh là ngƣời đồng bào dân tộc thiểu số
Là nhóm trẻ em trong độ tuổi đến trường không thuộc dân tộc Kinh. Với phạm vi
của bài nghiên cứu này thì học sinh dân tộc thiểu số được nghiên cứu là người Thái và
người dân tộc H’Mông
- Học sinh bỏ học
Theo luật giáo dục năm 2004: nếu học sinh đang trong độ tuổi đến trường, đang
theo học một lớp bất kỳ mà nghỉ quá 90 tiết/ năm học (mà không có lý do chính đáng)
thì được xem là bỏ học.
Với bài nghiên cứu này khái niệm bỏ học còn được hiểu là học sinh nghỉ học
cách quãng, nhưng cộng tổng thời gian nghỉ vượt quá 90 tiết/ năm học. Hay là hiện
tượng học sinh đang theo học một lớp nào đó nhưng đi học không đầy đủ, thường
xuyên nhưng vì đặc trưng vùng miền, điều kiện mà các em vẫn được lên lớp để đảm
bảo chương trình mục tiêu về phổ cập giáo dục.
Học sinh người đồng bào dân tộc thiểu số bỏ học là những học sinh không thuộc
dân tộc Kinh, đang theo học tại các lớp thuộc hệ thống giáo dục và nghỉ học quá 90
tiết/ năm.
1.2. Các yếu tố tác động đến tình trạng bỏ học sớm của học sinh
Có nhiều yếu tố tác động đến tình trạng bỏ học của học sinh người DTTS tuy
nhiên trong phạm vi là một bài NCKH này chúng tôi xem xét một số yếu tố điển hình
như sau.
1.2.1 Nhóm yếu tố thuộc về bản thân học sinh
- Sức khỏe thể chất
bản thân chúng trong hiện tại và cả tương lai. Những giá trị được kiến tạo từ học tập,
tự học hầu như chưa được định hướng rõ ràng khi đến trường, trẻ chỉ biết đi học, tham
gia đi học đầy đủ là trọn vẹn mục tiêu giáo dục của trẻ, khi được tìm hiểu thì mục tiêu
của trẻ là sang năm có thể lên lớp, còn việc sử dụng học vấn vào vấn đề gì thì chưa
nhận thức được rõ. Với việc can thiệp về nhóm HSDTTS bỏ học trước tiên cần kiến
tạo cho các em ấy nhận thức đúng đắn về giá trị của việc học tập, học sẽ giúp cho các
em ấy có những gì về cơ hội, về kiến thức, hội nhập, cơ hội tìm kiếm công việc ổn
định, tìm một người bạn đời tốt hơn… để cải thiện tình trạng hiện tại. Hay đơn giản
14
chỉ là học để biết tính toán những phép tính đơn giản trong quá trình làm ăn, buôn bán,
cải thiện tình trạng kinh tế hộ gia đình.
- Sự cản trở về ngôn ngữ trong học tập
Ngôn ngữ được giảng dạy tại các trường hiện nay ở địa bàn xã là tiếng Kinh. Trẻ
đến lớp học không chỉ được học về kiến thức mà còn học về kỹ năng sử dụng tiếng
phổ thông. Điều này rất khó khăn với học sinh là người DTTS vì từ các lớp mầm non,
tiểu học, các em được học ngôn ngữ phổ thông. Trong khi đó, các lớp nhỏ các em
được học ở tại bản, tại các điểm trường gần với bản, học sinh chủ yếu là người DTTS,
các em thiếu cơ hội trải nghiệm, trao đổi với người Kinh nên việc rèn dũa ngôn ngữ
không được thực hiện hiệu quả. Về tại cộng đồng, trong quá trình giao tiếp chủ yếu với
người đồng ngôn ngữ nên rất khó để rèn luyện kể cả những người cán bộ là người
DTTS hiện nay việc sử dụng ngôn ngữ của họ vẫn gặp khó khăn. Rào cản về ngôn ngữ
khiến trẻ tiếp thu bài khó khăn hơn và không hiểu hết ý của thầy cô lúc giảng giải. Một
vấn đề khi đã hiểu rõ thì rất dễ nắm bắt nhưng ngược lại nếu trong suốt quá trình đi
học, lắng nghe mà không hiểu thì sẽ dẫn đến phản ứng ngược, học sinh sẽ buồn ngủ, sẽ
khó chịu khi đến trường và thấy lạc lõng khi ngồi trong lớp học. Ở nhà, về với cộng
đồng trẻ được là chính mình khi có thể trò chuyện, trao đổi và được thể hiện mình
trong các hoạt động, được nói ngôn ngữ mẹ đẻ nên trẻ muốn dành phần lớn thời gian
người ĐBDTTS là có mùi hôi. Mỗi tộc người có một đặc trưng khác nhau, thói quen
sống, sử dụng nguồn nước và tách biệt với những người thuộc cộng đồng tộc người khác
khiến họ bị tách biệt trong giao tiếp. Trẻ con không được giáo dục về hòa nhập khi học
chung với người thuộc dân tộc khác nên dẫn đến việc kỳ thị, phân biệt đối xử giữa những
tộc người trong một quốc gia. Và khoảng cách về phát triển kinh tế, hội nhập đã làm cho
những tộc người này càng tách xa nhau ra và khoảng cách về phân biệt đối xử ngày
càng giãn rộng.
- Chƣơng trình học chƣa phù hợp với điều kiện cụ thể của từng nhóm đối
tƣợng riêng biệt.
Một yếu tố khác cản trở việc đến trường của trẻ nữa là việc trẻ không hòa nhập
được với môi trường học tập. Đối với học sinh là người DTTS tại vùng sâu, vùng xa,
vùng đặc biệt khó khăn là những rào cản về ngôn ngữ khiến cho sự giao tiếp, trao đổi
thông tin giữa thầy cô giáo và học sinh không được thông suốt, người nói và người
nghe đôi lúc không hiểu hết ý nghĩa của nhau. Chương trình học chung một giáo án
cho tất cả những người thuộc về một lớp trong khi ai cũng hiểu rằng mặt bằng chung
của người DTTS thấp hơn người Kinh, cũng thời lượng chương trình đó rất nhiều nhà
giáo cho rằng dung lượng chương trình của học sinh hiện nay là khá dài, trong khi
người DTTS không được học thêm thời gian hoặc kiến thức về hội nhập để hòa đồng
với ngôn ngữ chung. Việc tiếp thu khó khăn từ những lớp bắt đầu khiến khoảng cách
16
về kiến thức dãn rộng ra và một khi họ đến lớp không thấy được lợi ích, niềm vui,
không được quan tâm, cảm thấy bị lạc lõng giữa những nhóm người khác thì họ rất dễ
bị tách rời ra nhóm lớn đó. Mặt khác nhóm bạn bè cũng tách rời, vẫn còn khoảng
cách lớn trong phân biệt đối xử giữa người Kinh với nhóm người thiểu số.
1.2.2. Yếu tố gia đình
Gia đình là môi trường quan trọng trong việc xã hội hóa hình thành nhân cách
cho trẻ em bên cạnh nhà trường. “Cha mẹ hoặc người giám hộ có trách nhiệm nuôi
dưỡng giáo dục, chăm sóc tạo điều kiện cho con em hoặc người giám hộ được học tập,
sóc cây trồng, vật nuôi…
Nghèo trong gia đình người DTTS ngoài tập quán canh tác lạc hậu còn vì đông
con và sinh dày. Do trình độ học vấn thấp nên không hoặc ít tiếp cận với các dịch vụ
kế hoạch hóa gia đình về hạn chế sinh. Trong họ dường như vẫn còn quan niệm về
việc “trời sinh voi sinh cỏ”, những đứa trẻ lớn lên nghỉ học sớm, lập gia đình, sinh con
rồi để những đứa con cũng lập lại chu kỳ như bố mẹ khiến cho việc can thiệp vào tất
cả những biểu hiện đều không thể giải quyết được vấn đề. Trẻ đến trường được miễn
phí nhưng thiếu ăn là một nhẽ, thiếu mặc, thiếu quần áo để con đến trường, thiếu áo
ấm để mặc trong những ngày trời lạnh. Trường đóng ở trung tâm xã, tính khoảng cách
trung bình mỗi đứa trẻ học cấp II phải đi khoảng 2,5km để đến trường, trong khi
không phải nhà nào cũng có điều kiện để mua phương tiện cho con đến trường, hoặc 3
đứa con học cùng một buổi thì sẽ rất khó khăn trong việc di chuyển đến trường của trẻ.
Việc sinh con đông dẫn đến nghèo, điều kiện chăm sóc không được tốt đều xuất phát
từ niềm tin, từ nhận thức của họ về vấn đề mà họ đang gặp phải. Chính vì vậy việc giải
quyết vấn đề nghèo đói của người DTTS cần phải tìm kiếm từ nguyên nhân và can
thiệp vào nguyên nhân nhận thức của họ.
- Thiếu lao động
Thiếu lao động dẫn đến trẻ phải bỏ học để lao động phụ giúp cùng gia đình là
điều không hiếm đối với những gia đình là người DTTS. Trẻ con có thể làm rất nhiều
việc khác nhau tùy theo tình trạng sức khỏe của mình. Trong gia đình người Thái và
người H’Mông vẫn còn mang nặng định kiến về giới. Người đàn ông có gia đình vẫn
giao lưu, uống rượu, đi chơi trong khi người phụ nữ vẫn phải vừa địu con trước ngực,
vừa gùi củi và dắt bò đi sau. Những trẻ em gái có thể trông em, làm cỏ, nấu cơm giúp
việc nhà. Truyền thống dựng chòi làm nương ở cách xa khu vực dân cư sinh sống và ở
lại trên rẫy dài ngày, họ đưa cả gia đình đi theo nên việc trẻ bỏ học để đi theo bố mẹ
lên nương rẫy cũng là điều dễ xảy ra. Ngoài ra trẻ có thể theo bố mẹ làm thuê cho
người Kinh để cùng phụ giúp đỡ đần cho kinh tế hộ gia đình.
- Cha mẹ chƣa nhận thức đƣợc hết giá trị của học tập
Học để làm gì? Học mang lại cho họ những giá trị gì, những lợi ích từ học mang
18