LUẬN văn THẠC sĩ KINH tế CHÍNH TRỊ PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI bền VỮNG ở HUYỆN BA vì, THÀNH PHỐ hà nội - Pdf 43

Chữ viết đầy đủ

Chữ viết tắt

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

CNH, HĐH

Du lịch sinh thái

DLST

Hiệp hội các nước Đông Nam Á

ASEAN

Khoa học - công nghệ

KH - CN

Kinh tế - xã hội

KT - XH

Nhà xuất bản

Nxb

Tổ chức thương mại thế giới

WTO

Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH
SINH THÁI BỀN VỮNG Ở HUYỆN BA VÌ, THÀNH PHỐ
HÀ NỘI THỜI GIAN TỚI
64
3.1. Quan điểm phát triển du lịch sinh thái bền vững ở huyện Ba Vì
Thành phố Hà Nội
64
3.2. Giải pháp phát triển du lịch sinh thái bền vững ở huyện Ba Vì
Thành phố Hà Nội
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

69
93
95
101


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Du lịch là một hoạt động xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử nhân loại.
Trải qua nhiều giai đoạn phát triển, cho đến nay du lịch đã trở thành nhu
cầu không thể thiếu trong đời sống của con người. Đây là một trong những
ngành dịch vụ quan trọng, góp phần vào sự phát triển của nhiều quốc gia,
vùng lãnh thổ trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Một trong những loại
hình du lịch mới ra đời và chiếm được sự quan tâm ngày càng nhiều của xã
hội là du lịch sinh thái. Du lịch sinh thái chú trọng vào tài nguyên và nguồn
lực địa phương, chú trọng đến hoạt động bảo tồn và đảm bảo phát triển
cộng đồng dân cư địa phương, điều này làm cho du lịch sinh thái được

riêng đã có bước phát triển khá nhanh, mang lại nhiều lợi ích kinh tếxã hội cho địa phương.
Tuy nhiên những kết quả đạt được chưa tương xứng với tiềm năng, thế
mạnh của vùng. Các khu du lịch sinh thái, quy mô còn khiêm tốn, sản phẩm du
lịch chủ yếu vẫn dựa vào các yếu tố tự nhiên, khai thác những tiềm năng sẵn có
và chưa được đầu tư thỏa đáng, chưa có sản phẩm du lịch sinh thái đặc trưng;
thêm vào đó việc khai thác quá mức không theo quy hoạch bảo tồn, thiếu sự
bền vững đang đặt ra những vấn đề báo động về ô nhiễm môi trường sinh thái,
hệ lụy bức xúc về văn hóa - xã hội, suy giảm chất lượng cuộc sống cộng đồng
tại các khu, điểm du lịch…tức là sự phát triển thiếu bền vững. Vì vậy tác giả
chọn đề tài: “Phát triển du lịch sinh thái bền vững ở huyện Ba Vì, thành phố
Hà Nội” làm đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành kinh tế chính trị.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Trong thời gian qua đã có nhiều công trình khoa học cả trong nước và quốc
tế nghiên cứu về du lịch và phát triển du lịch sinh thái trong đó có du lịch huyện
Ba Vì, một số công trình tiêu biểu như:
Nguyễn Đình Hòe, Vũ Văn Hiếu (2001), “Du lịch bền vững”, Đại học
Quốc gia Hà Nội. Cuốn sách giới thiệu những vấn đề về mối quan hệ giữa du
lịch và môi trường. Khái niệm, nguyên tắc, chính sách của du lịch bền vững,
du lịch bền vững ở những vùng sinh thái nhạy cảm như du lịch miền núi, du
lịch ven biển, du lịch sinh thái.
Đoàn Liên Diễm (2003), “Một số giải pháp phát triển du lịch bền vững
thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2010”, Luận án tiến sĩ kinh tế, Trường Đại

4


học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh. Luận án đã trình bày tổng quan những
vấn đề lý luận - thực tiễn về phát triển du lịch bền vững; thực trạng và tiềm
năng phát triển, giải pháp và phác họa mô hình phát triển du lịch bền vững.
Nguyễn Thị Nguyên Hồng (2004), “Giải pháp cơ bản khai thác tiềm năng du

giải dưới góc độ kinh tế chính trị.
Lê Huy Bá (2006), “Du lịch sinh thái ”, Nhà xuất bản Đại học Quốc
gia Thành phố Hồ Chí Minh. Tác giả đã đề cập đến lý luận du lịch sinh
thái, vai trò của du lịch sinh thái đối với sự phát ứiển kinh tế - xã hội, luận
giải các nhân tố ảnh hưởng và điều kiện để phát triền du lịch sinh thái.
Nguyễn Đình Hòa, "Du lịch sinh thái - thực trạng và giải pháp để
phát triển ở Việt Nam”, Tạp chí Kinh tế và Phát triển, số 1 /2006 . Bài viết
giới thiệu về những nguyên tắc cơ bản của du lịch sinh thái; phân tích các
khía cạnh của du lịch sinh thái và đánh giá thực trạng phát triển loại hình
du lịch này hiện nay ở nước ta; trên cơ sở đó đưa ra những kiến nghị và
giải pháp nhằm hoạch định chính sách, quản lý kinh doanh du lịch sinh thái
ở Việt Nam.
Đỗ Thị Thanh Hoa (2007), ‘‘Nghiên cứu đề xuất tiêu chí khu du lịch
sinh thái ở Việt Nam”, Đề tài khoa học cấp Bộ. Đề tài đã nghiên cứu tổng
quan cơ sở lý luận về du lịch sinh thái, khu du lịch và khu du lịch sinh thái;
đề cập đến kinh nghiệm và mô hình xây dựng, phát triển khu du lịch sinh
thái ở một số nước trên thế giới; phân tích tổng quan, thực trạng hoạt động
du lịch sinh thái và các khu du lịch sinh thái hiện nay ở Việt Nam; đề xuất
các tiêu chí khu du lịch sinh thái làm cơ sở cho đầu tư, phát triển các khu
du lịch sinh thái theo định hướng chiến lược phát triển du lịch Việt Nam.
Trần Đức Thắng (2008), “Phát triển du lịch sinh thái nhằm nâng cao
chất lượng cuộc sống của cộng đồng dân cư vùng đệm Vườn Quốc gia Cúc
phương’’ luận văn thạc sĩ du lịch, Đại học Quốc gia Hà Nội. Luận văn đã
đề cập đến những vấn đề chất lượng cuộc sống; đánh giá hiện trạng chất
lượng cuộc sống của cộng đồng dân cư vùng đệm vườn quốc gia Cúc
Phương và đề xuất một số giải pháp cho phát triển du lịch sinh thái nhằm
nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng đồng dân cư vùng đệm vườn quốc
gia Cúc Phương.

6

Bình hiện nay”, luận văn thạc sỹ kinh tế, Học viện chính trị, Bộ quốc phòng.

7


Luận văn của các tác giả đã nghiên cứu du lịch sinh thái dưới góc độ chuyên
ngành du kinh tế chính trị và khẳng định vai trò quan trọng của phát triển kinh tế
du lịch sinh thái đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, đánh giá
tiềm năng, thực trạng, đưa ra những quan điểm cơ bản và đề xuất một số giải
pháp phát triển kinh tế du lịch sinh thái ở Ninh Bình.
Hà Xuân Hưng (2014), Bí thư Huyện ủy Ba Vì Bài viết: Chương trình
xúc tiến, quảng bá với chủ đề: "Du lịch Ba Vì đổi mới, thân thiện và phát triển"
. Bài viết không chỉ để giới thiệu về Ba Vì với tiềm năng du lịch đặc biệt mà còn
cho học viên và người đọc tiếp cận với quan điểm, chủ trương, chính sách của
Hà Nội nói chung và Ba Vì nói riêng trong việc đẩy mạnh phát triển du lịch để
Ba Vì là một điểm đến đầy hấp dẫn của Việt Nam, du khách bạn bè quốc tế.
Phạm Minh Luân (2015), “Phát triển kinh tế du lịch ở huyện Ba Vì, thành
phố Hà Nội hiện nay ”, luận văn cao học Kinh tế chính trị, Học viện chính trị,
Luận văn đã đưa ra quan niệm phát triển kinh tế du lịch; khẳng định cơ sở quan
trọng nhất trong quá trình phát triển kinh tế du lịch là xây dựng và phát triển các
sản phẩm du lịch bền vững. Đồng thời, luận văn cũng làm rõ nội dung, tiêu chí
cũng như sự cần thiết phải phát triển kinh tế du lịch ở Việt Nam nói chung và
Thành phố Hà Nội cũng như Ba Vì nói riêng trong giai đoạn hiện nay.
Các luận văn, luận án trên đã hệ thống hóa lý luận cơ bản về du lịch, phát
triển du lịch, nguồn nhân lực du lịch, xúc tiến đầu tư du lịch… chỉ ra những tiềm
năng và lợi thế (tài nguyên thiên nhiên và truyền thống văn hóa lịch sử của Thủ
đô ngàn năm văn hiến); thực trạng phát triển du lịch Hà Nội về quy hoạch, chính
sách đầu tư, điều kiện cơ sở vật chất, đội ngũ lao động, thị trường, vai trò quản lý
nhà nước… đồng thời đưa ra những định hướng và giải pháp để phát triển du
lịch Hà Nội từng bước trở thành ngành kinh tế mũi nhọn

Nghiên cứu phát triển DLST bền vững dưới góc độ Kinh tế chính trị ở
huyện Ba Vì Thành phố Hà Nội
* Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu về nội dung phát triển
DLST bền vững ở huyện Ba Vì: về kinh tế; về xã hội và về môi trường.
Về không gian: Luận văn nghiên cứu ở huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội

9


Về thời gian: Khảo sát từ năm 2011 đến nay.
5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác -Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và các Nghị quyết của
Đại hội đại biểu Đảng bộ, Ban Chấp hành Thành ủy, HĐND thành phố Hà Nội,
Huyện ủy- HĐND -UBND huyện Ba Vì về phát triển kinh tế - xã hội nói chung về
phát triển DLST nói riêng .
* Cơ sở thực tiễn
Thông qua điều tra, nghiên cứu, lấy số liệu tại địa phương và qua các báo cáo
của UBND các cấp, Sở du lịch TP Hà Nội, Phòng văn hóa Ba Vì.
* Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, duy
vật lịch sử; phương pháp nghiên cứu đặc thù của khoa học kinh tế chính trị là phương
pháp trừu tượng hóa khoa học. Ngoài ra, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên
cứu khác như: phương pháp thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp, phương pháp
điều tra khảo sát thực tiễn.
6. Ý nghĩa của đề tài
- Luận văn góp phần cung cấp thêm cơ sở khoa học cho việc xác định
chủ trương, giải pháp phát triển DLST bền vững ở huyện Ba Vì, thành phố Hà

để nghỉ ngơi, giải trí hay chữa bệnh.
Năm 1985, I.I.Pirogionic đưa ra khái niệm: “Du lịch là một dạng hoạt
động của dân cư trong thời gian rỗi liên quan với sự di chuyển và lưu lại tạm
thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát
triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức - văn hoá hoặc thể
thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn hoá” [13,
tr15]
Tổ chức du lịch thế giới WTO định nghĩa: “Du lịch theo nghĩa hành
động được định nghĩa là một hoạt động di chuyển vì mục đích giải trí, tiêu
khiển và tổ chức các dịch vụ xung quanh hoạt động này. Người đi du lịch là

11


người đi ra khỏi nơi mình cư trú một quãng đường tối thiểu là 80km trong
khoảng thời gian hơn 24 giờ với mục đích giải trí, tiêu khiển”.[45, tr18]
Cùng với sự phát triển của phân công lao động xã hội và kinh tế hành hóa,
Du lịch với tư cách là ngành kinh tế xuất hiện từ giữa thế kỷ XIX. Đặc biệt từ
những năm 1950 trở về đây, ngành du lịch phát triển mạnh mẽ và trở thành
ngành kinh tế hết sức quan trọng của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Từ khi
du lịch xuất hiện đã có rất nhiều định nghĩa khác nhau về du lịch được đưa ra
tùy theo góc độ nghiên cứu. Theo Luật Du lịch Việt Nam thì: “Du lịch là các
hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường
xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ
dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” [36, tr.12]. Quan niệm này
dường như nhấn mạnh đến hoạt động từ phía người đi du lịch, khi chỉ ra nội
dung cốt lõi trong hoạt động đáp ứng nhu cầu chuyến đi của du khách; nói
cách khác là bao gồm những hoạt động từ phía cung du lịch.
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, du lịch được hiểu trên hai khía cạnh:
“Trước hết, đó là một dạng nghỉ dưỡng, tham quan tích cực của con người

du lịch có khả năng khai thác và các điều kiện phát triển du lịch, người ta
thường kết hợp các yếu tố này với nhau để xác định các loại hình du lịch.
Mục đích của việc xác định các loại hình du lịch nhằm vào việc xây dựng
chiến lược phát triển du lịch của quốc gia, của địa phương và định hướng
chiến lược kinh doanh cho các doanh nghiệp du lịch. Mỗi một loại hình du
lịch có một thị trường khác nhau và có những đòi hỏi về quy trình, cách thức
tổ chức, con người phục vụ, trang thiết bị và chất lượng phục vụ khác nhau.
Tuy nhiên, trong thực tế hoạt động du lịch có sự đan xen giữa các loại hình du
lịch trong quá trình phục vụ khách du lịch. Việc phân loại các loại hình du lịch
căn cứ vào những tiêu thức cơ bản sau:
1. Phân theo địa lý, lãnh thổ: Cùng với sự phát triển kinh tế và quan hệ
ngoại giao giữa các nước, nhu cầu đi du lịch của khách không chỉ trong phạm
vi quốc gia mà phát triển vượt ra ngoài biên giới của quốc gia. Căn cứ vào
phạm vi địa lý lãnh thổ, có thể chia ra làm hai loại hình du lịch sau:
Du lịch nội địa: là khách du lịch thực hiện chuyến đi du lịch trong phạm
vi quốc gia của mình

13


Du lịch quốc tế: Đó là việc đón khách du lịch nước ngoài đến tham quan
và du lịch
2. Theo nhu cầu (mục đích chuyến đi)
Căn cứ vào tiêu thức này có thể phân ra một số loại hình du lịch sau:
Du lịch nghỉ dưỡng. Du lịch được coi như một phương tiện nhằm tái hồi
sức lao động của con người. Loại hình du lịch này có từ rất lâu, đặc biệt khi
du lịch chưa trở thành phổ biến với mọi người mà chỉ giành cho tầng lớp giàu
có và giai cấp thống trị. Ngày nay, loại hình du lịch nghỉ dưỡng đã thu hút
đông đảo các tầng lớp dân cư tham gia.
Du lịch công vụ. Đó là loại hình du lịch của những người đi công tác, dự

lịch miền núi, du lịch đô thị, du lịch nông thôn)
Như vậy đây là một ngành đặc biệt gồm nhiều mối quan hệ liên quan đến
chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên, nhằm đáp ứng nhu cầu
thăm quan, giải trí, nghỉ dưỡng...của du khách. Hoạt động của ngành du lịch vừa
mang đặc điểm của một ngành kinh tế, vừa mang đặc điểm của một ngành văn
hoá - xã hội. Việc phân loại các loại hình du lịch chỉ là tương đối, trên thực tế các
loại hình du lịch được cung cấp đan xen không có một loại hình riêng lẻ.
Du lịch là một ngành kinh tế - xã hội - dịch vụ có nhiệm vụ phục vụ nhu
cầu tham quan, giải trí, nghỉ ngơi, có hoặc không kết hợp với các hoạt động chữa
bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học và các dạng nhu cầu khác. Phương thức đi
du lịch cũng đang trở nên rất đa dạng, nhiều loại hình du lịch mới đang trở nên
được yêu thích. Ví dụ: hiện nay du lịch ở các khu vực tự nhiên đang rất được ưa
chuộng như: du lịch leo núi, du lịch thăm quan nghỉ dưỡng, du lịch đi bộ dã
ngoại, thăm các hang động... trong đó du lịch sinh thái đã và đang phát triển
mạnh hơn bất kỳ một hình thức nào khác, đang đặt ra nhiều vấn đề về lý luận và
thực tiễn, cần có những phân tích đánh giá để có những giải pháp phù hợp nhằm
phát triển du lịch sinh thái một cách hiệu quả, bền vững.
1.1.2. Quan niệm về du lịch sinh thái
“Du lịch sinh thái” (Ecotourism) là một khái niệm tương đối mới và đã
mau chóng thu hút được sự quan tâm của nhiều người từ những lĩnh vực khác
nhau. Đây là một khái niệm rộng được hiểu khác nhau từ những góc độ khác

15


nhau. Đối với một số người “Du lịch sinh thái” đơn giản được hiểu là sự kết
hợp ý nghĩa của 2 từ ghép “Du lịch” và “Sinh thái” vốn đã quen thuộc với
nhiều người. Song ở góc rộng hơn, tổng quát hơn thì một số người quan niệm
“Du lịch sinh thái” là du lịch thiên nhiên mà trong thực tế đã xuất hiện từ đầu
những năm 1800 (Ashton, 1993). Với khái niệm này mọi hoạt động du lịch có

Ở Việt Nam, trong luật Du lịch do Quốc Hội thông qua 2005,có định
nghĩa khá ngắn gọn về DLST:
“ Du lịch sinh thái là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với
bản sắc văn hóa địa phương với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát
triển bền vững” [36, tr.32 ].
Theo Hội thảo Quốc gia về “Xây dựng chiến lược phát triển DLST ở
Việt Nam” đưa ra định nghĩa: “Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào
thiên nhiên và văn hóa bản địa, gắn với giáo dục môi trường có đóng góp cho
nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng
địa phương” [40. tr12]
Nhìn chung các khái niệm về du lịch sinh thái đang sử dụng tại Việt
Nam đều có sự thống nhất trên quan điểm về nội dung đề cập là: thiên nhiên,
bản sắc văn hóa, trách nhiệm và lợi ích của cộng đồng và phát triển bền vững,
tuy nhiên còn đề cập chung chung và chưa toàn diện.
Theo đó, du lịch sinh thái hình thức phát triển du lịch bền vững. Nội
dung hoạt động diễn ra trong môi trường thiên nhiên, không đáp ứng yêu cầu
của mọi khách du lịch mà chỉ dành cho những người thật sự lấy giá trị sinh
thái làm mục tiêu của chuyến đi. Không chỉ đơn giản là "thưởng thức thiên
nhiên" một cách thiếu ý thức, mà đòi hỏi con người phải biết tôn trọng, học
hỏi và gìn giữ thiên nhiên. Qua đó, có những hành động cụ thể để bảo tồn
thiên nhiên và văn hóa của người dân, đem lại lợi ích kinh tế - văn hóa - xã
hội cho cộng đồng địa phương. Khi đó, con người được thưởng thức, thu nhận
được những bài học sâu sắc về thiên nhiên, con người và hệ sinh thái.
Từ những quan niệm về du lịch sinh thái và từ thực tiễn hoạt động của
du lịch sinh thái, tác giả cho rằng: Du lịch sinh thái là loại hình du lịch có

17


trách nhiệm đối với môi trường ở các khu thiên nhiên còn tương đối hoang sơ



Trong phát triển bền vững, điều cần chú ý nhất là thỏa mãn các nhu cầu
hiện tại và không làm tổn hại đến sự thỏa mãn các nhu cầu trong tương lai,
đảm bảo sử dụng đúng mức và ổn định tài nguyên thiên nhiên, môi trường
sống. Như vậy phát triển bền vững không chỉ là phát triển kinh tế, văn hóa xã
hội một cách bền vững nhờ khoa học, công nghệ tiên tiến mà còn phải đảm
bảo những điều kiện môi trường thiết yếu cho con người đang tồn tại và cho
các thế hệ sẽ tồn tại (những người đang sống và những người sẽ sống). Phát
triển bền vững là một trong những mục tiêu thiên niên kỷ của thế giới và
cũng là mục tiêu hàng đầu cho phát triển của Việt Nam. Ở nước ta, khái
niệm phát triển bền vững mới được tiếp cận từ thật niên 1980, được khẳng
định trong quá trình phát triển KT-XH của đất nước 1991-2000, bằng Chỉ
thị 36 CT/TW ngày 25/06/1998 của Bộ Chính trị về công tác tăng cường
bảo vệ môi trường trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước. Đồng thời cũng
được khẳng định thông qua các chủ trương qua các kỳ đại hội Đảng toàn
quốc lần X, XI, XII, trở thành những định hướng quan trọng cho các ngành
trong đó có ngành du lịch.
Du lịch được coi là ngành công nghiệp không khói lớn nhất trên phạm
vi toàn thế giới, góp phần tích cực vào vào sự nghiệp phát triển kinh tế của
mỗi quốc gia, bảo tồn các giá trị văn hóa cũng như có tác động đến mọi khía
cạnh về tài nguyên và môi trường. Từ quan niệm về DLST và phát triển bền
vững, tác giả quan niệm DLST bền vững như sau:
“Du lịch sinh thái bền vững là việc phát triển các hoạt động du lịch
nhằm tổ chức, khai thác, sử dụng các giá trị tài nguyên thiên nhiên và văn
hóa bản địa thành sản phẩm du lịch nhằm thu hút khách du lịch trong và
ngoài nước để thu lợi ích kinh tế góp phần nâng cao đời sống vật chất tinh
thần cho con người, trong khi đó vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo
các nguồn tài nguyên và phát triển du lịch trong tương lai”
Du lịch sinh thái bền vững không những đóng góp tích cực cho sự phát

đảm bảo lợi ích cộng đồng dân cư trong vùng.
1.2. Quan niệm, nội dung và những nhân tố tác động đến phát
triển du lịch sinh thái bền vững ở huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội
1.2.1. Quan niệm về phát triển du lịch sinh thái bền vững ở huyện Ba
Vì, Thành phố Hà Nội

20


Trên cơ sở những nội dung phân tích ở trên, tiếp cận phạm trù phát triển
DLST bền vững nói chung dưới góc độ kinh tế chính trị, tác giả cho rằng:
“Phát triển du lịch sinh thái bền vững là một hoạt động, dựa
trên cơ sở khai thác hiệu quả tài nguyên du lịch để tạo ra các
sản phẩm du lịch độc đáo, chất lượng cao đáp ứng nhu cầu của
du khách, góp phần phát huy lợi thế các nguồn lực sản xuất, duy
trì ổn định và lâu dài các chỉ tiêu tăng trưởng, không ngừng
nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân, thúc đẩy
văn hóa - xã hội địa phương phát triển, có đóng góp tích cực vào
bảo vệ môi trường sinh thái, giữ gìn tài nguyên du lịch sinh thái
cho các thế hệ tương lai.
Từ cách hiểu về “Phát triển du lịch sinh thái bền vững”, tác giả quan niệm:
để phát triển DLST bền vững cần có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hòa giữa
ba mặt của sự phát triển, bền vững về kinh tế, bền vững về tài nguyên môi
trường, bền vững về văn hóa, xã hội.
Trong đó, bền vững về kinh tế cần được hiểu là sự phát triển ổn định
lâu dài, tạo ra nguồn thu đáng kể, góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế
của một quốc gia, của địa phương có tài nguyên du lịch sinh thái. Sự bền
vững về văn hóa, xã hội: Không ngừng nâng cao và cải thiện chất lượng
cuộc sống cho tất cả mọi người trong suốt quá trình phát triển. Quá trình
khai thác đáp ứng nhu cầu phát triển DLST hiện tại không làm tổn hại, suy

mô, số lượng, chất lượng và khai thác có hiệu quả tài nguyên sinh thái,
bảo vệ và giữ gìn bản sắc văn hóa của huyện Ba Vì, tạo ra các sản phẩm,
dịch vụ độc đáo, chất lượng cao đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của du khách,
không chỉ hiện tại mà cả tương lai. Làm cho du lịch thực sự trở thành ngành kinh
tế trọng điểm của Ba Vì, làm động lực thúc đẩy các ngành kinh tế khác cùng phát
triển. Phấn đấu đưa địa phương trở thành trung tâm du lịch sinh thái của Thành
phố Hà Nội, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, phát triển kinh tế - văn hóa- xã
hội trên địa bàn huyện Ba Vì.

22


Ba là, phương thức phát triển: Đây là hoạt động có sự tham gia của
nhiều chủ thể khác nhau, vì vậy phương thức pháp triển DLST bền vững ở
huyện Ba Vì của mỗi chủ thể cũng khác nhau. Cụ thể là:
- Đối với Đảng bộ, chính quyền các cơ quan ban ngành của huyện Ba
Vì, đề ra chủ trương, định hướng, xây dựng quy hoạch, đề án phát triển DLST
bền vững, sử dụng các công cụ, chính sách tác động vào các nội dung của
DLST bền vững và tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể kinh doanh du lịch
và đảm bảo sự hài hòa lợi ích tập thể, doanh nghiệp và người dân.
- Đối với các chủ thể kinh doanh du lịch thuộc các thành phần kinh tế
khác nhau phải nắm vững chủ trương, định hướng của Đảng bộ, chính quyền
địa phương và các cơ quan chức năng tổ chức kinh doanh theo đúng quy định,
coi trọng bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, văn hóa của địa phương, tạo ra nhiều
sản phẩm du lịch độc đáo, nâng cao chất lượng các dịch vụ phục vụ kinh
doanh du lịch, đảm bảo hài hòa lợi ịch kinh tế, xã hội và sự bền vững của các
nguồn tài nguyên.
1.2.2. Nội dung phát triển du lịch sinh thái bền vững ở ở huyện Ba
Vì, Thành phố Hà Nội
Căn cứ vào quan niệm phát triển DLST bền vững ở huyện Ba Vì, xác

lượng cao. Hiện nay mặc dù Ba Vì có rất nhiều tiềm năng thế mạnh về phát
triển du lịch, song nhìn chung chất lượng các sản phẩm du lịch còn nhiều hạn
chế so với các địa phương khác trong cả nước. Vì vậy, khách du lịch đến với
Ba vì chủ yếu là vào mùa hè, thời gian lưu trú ngắn. Để DLST phát triển bền
vững về kinh tế nhất thiết phải nâng cao chất lượng các sản phẩm du lịch hiện
có và tạo nhiều sản phẩm có chất lượng cao mới và đặc biệt phải quan tâm
đến phát triển thị trường du lịch.
3- Tổ chức kinh doanh các sản phẩm DLST dựa trên điều kiện về thiên
nhiên, lịch sử và văn hóa địa phương (bao gồm thức ăn, nước uống, sản phẩm
thủ công, nghệ thuật biểu diễn và các mặt hàng nông sản) nhằm không ngừng
thu hút, gia tăng số lượng du khách đến tham quan và quay trở lại các điểm du
lịch; chủ động chia sẻ lợi nhuận thu được từ kinh doanh DLST (tài chính, nhân

24


lực hoặc vật chất) để hỗ trợ các hoạt động phục vụ cộng đồng với mục tiêu phát
triển KT-XH của địa phương, qua đó xóa đói giảm nghèo, đảm bảo hài hòa lợi
ích kinh tế giữa các chủ thể kinh doanh du lịch với địa phương và dân cư của
huyện Ba Vì.
Hai là, phát triển DLST bền vững về xã hội. Phát triển DLST bền vững
xét theo nghĩa rộng là việc thúc đẩy, phát triển và giải quyết tốt các mặt của quan
hệ sản xuất, trực tiếp là quan hệ sở hữu; quan hệ lợi ích giữa chủ doanh nghiệp
kinh doanh du lịch với người lao động; quan hệ giữa doanh nghiệp với Nhà nước;
quan hệ giữa những người lao động với nhau theo đúng quy định của pháp luật.
1- Trước hết, phát triển DLST phải gắn liền với việc tạo ra ngày càng nhiều
công ăn việc làm cho người lao động cho cả nước mà trực tiếp là cư dân địa phương.
cải thiện đời sống cho nhân dân tạo tính bền vững về xã hội nhất là ở địa bàn các xã
miền núi còn khó khăn của huyện Ba Vì. Theo đó, trong quá trình phát triển
DLST cần ưu tiên sử dụng các dịch vụ và hàng hoá là sản phẩm nội địa hoặc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status