LUẬN văn THẠC sĩ KINH tế CHÍNH TRỊ PHÁT TRIỂN KINH tế hộ CHĂN NUÔI ở HUYỆN THẠC THẤT, THÀNH PHỐ hà nội - Pdf 43

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết đầy đủ
Bảo vệ Tổ quốc
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Hội đồng nhân dân
Khoa học - công nghệ
Khoa học - kỹ thuật
Kinh tế - xã hội
Kinh tế hộ
Kinh tế hộ chăn nuôi
Lực lượng sản xuất
Quốc phòng - An ninh
Sản xuất, kinh doanh
Uỷ ban nhân dân
Xã hội chủ nghĩa

Chữ viết tắt
BVTQ
CNH, HĐH
HĐND
KH - CN
KH - KT
KT - XH
KTH
KTHCN
LLSX
QP - AN
SX,KD
UBND
XHCN


Thành tựu, hạn chế, phát triển kinh tế hộ chăn nuôi ở
huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội
Nguyên nhân của thành tựu, hạn chế và những vấn đề
đặt ra cần giải quyết từ thực trạng phát triển kinh tế hộ
chăn nuôi ở huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội

34
34

50

Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ
HỘ CHĂN NUÔI Ở HUYỆN THẠCH THẤT, THÀNH
PHỐ HÀ NỘI THỜI GIAN TỚI

3.1.
3.2.

Quan điểm phát triển kinh tế hộ chăn nuôi ở huyện
Thạch Thất, thành phố Hà Nội
Giải pháp phát triển kinh tế hộ chăn nuôi ở huyện Thạch
Thất, thành phố Hà Nội trong thời gian tới

KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

60
60

điều kiện cho KTH chăn nuôi phát triển: từ sự gia tăng về số lượng hộ chăn nuôi,
gia tăng số lượng đàn gia súc, gia cầm đến sự đa dạng, phong phú về mô hình tổ
chức, cách thức chăn nuôi. KTH chăn nuôi đã trở thành bộ phận quan trọng đóng
góp không nhỏ vào sự phát triển ngành chăn nuôi của huyện. Tuy nhiên thực tế
3


hiện nay cho thấy: Phát triển KTHCN trên địa bàn huyện Thạch Thất còn nhiều
bất cập thiếu tính ổn định và độ bền vững. Nhiều hộ chăn nuôi theo phong trào, tự
phát, thiếu kiến thức khoa học và kinh nghiệm thực tiễn nên hiệu quả hoạt động
thấp, tính rủi ro cao. Các mô hình hộ chăn nuôi áp dụng công nghệ cao còn ít; sự
hợp tác, liên kết chuỗi giá trị còn thấp,... Do vậy, việc phát triển KTHCN ở huyện
Thạch Thất cho thấy còn nhiều vấn đề bất cập cần phải giải quyết. Xuất phát từ lý
do trên, tác giả lựa chọn vấn đề “Phát triển kinh tế hộ chăn nuôi ở huyện Thạch
Thất, thành phố Hà Nội”, làm luận văn tốt nghiệp cao học kinh tế chính trị.
2. Tinh hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Những năm qua, các nhà khoa học trong nước đã dành nhiều công sức
quan tâm nghiên cứu khá toàn diện và đa chiều về sự phát triển kinh tế nông
thôn, song vấn đề nổi trội được đề cập tập trung là “hộ”, "kinh tế hộ",
KTHCN được xem xét, luận giải khá toàn diện từ vị trí, vai trò, đặc điểm, con
đường phát triển đến mô hình tổ chức, quản lý, hướng tiếp cận rất phong phú
và đa dạng, dưới góc độ khác nhau, được công bố dưới dạng chuyên đề, luận
văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ, các kỷ yếu hội thảo; đề tài cấp bộ, các bài viết
đăng trên các báo, tạp chí. Tiêu biểu có các công trình sau:
Hoàng Văn Chính (1993), “Những vấn đề chủ yếu về phát triển kinh
tế nông hộ ngoại thành Hà Nội”, Luận án phó tiến sỹ khoa học Kinh tế,
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân. Tác giả trình bày cơ sở hình thành và
phát triển kinh tế nông hộ trong nền nông nghiệp nửa tự nhiên đến nền nông
nghiệp đô thị ứng dụng công nghệ cao; đánh giá ưu khuyết điểm của kinh tế
nông hộ, trên cơ sở đó đề xuất phương hướng và những giải pháp chủ yếu để

hệ thống những lý luận cơ bản về khái niệm, đặc điểm, vị trí, vai trò của KTH
nông dân đối với sự phát triển KT - XH ở tỉnh Hải Dương; khảo sát thực
trạng, đánh giá thành tựu hạn chế, chỉ ra nguyên nhân, phát hiện những mâu
thuẫn cần được giải quyết, xác định phương hướng cơ bản đồng thời đưa ra
những giải pháp nhằm tiếp tục phát triển KTH nông dân với bảo đảm nguồn
nhân lực cho khu vực phòng thủ tỉnh Hải Dương.
5


Từ Kim Xuyến (2001), Những giải pháp phát triển KTH nông dân vùng đồi
gò tỉnh Hà Tây, luận án tiến sĩ kinh tế, Đại học Kinh tế quốc dân. Tác giả đã hệ
thống hoá vấn đề lý luận cơ bản về KTH nông dân, nghiên cứu và đánh giá thực
trạng những kết quả đạt được và tồn tại của KTH nông dân vùng đồi gò tỉnh Hà
Tây; đồng thời làm rõ những tiềm năng phát triển, đề xuất những giải pháp chủ yếu
nhằm phát triển KTH nông dân vùng gò đồi Hà Tây. Tuy nhiên, những vấn đề tác
giả nêu ra chỉ trong phạm vị hẹp (vùng gò đồi) trong tỉnh, đối tượng nghiên cứu
thuộc ngành kinh tế nông nghiệp nên chỉ bàn đến một chủ thể là KTH nông dân.
Cho nên, chưa đánh giá hết được lợi thế vị trí, tiềm năng nguồn lực, lợi thế so sánh
trong phát triển đa dạng ngành nghề và tinh nghề của KTH theo hướng sản xuất
hàng hoá, hiệu quả, bền vững và hội nhập WTO, TPP.
Nguyễn Tiến Dĩnh (2003),“Hoàn thiện các chính sách kinh tế phát
triển nông nghiệp, nông thôn ngoại thành Thành phố Hà Nội theo hướng
công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, luận án tiến sĩ kinh tế, Học viện Chính trị
hành chính Quốc gia. Tác giả đã đề cập những lý luận cơ bản về chính sách
kinh tế, thực trạng tác động của các chính sách kinh tế thúc đẩy kinh tế nông
nghiệp, nông thôn ngoại thành Hà Nội phát triển theo hướng nông nghiệp đô
thị, sinh thái thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.
Lâm Quang Huyên (2004), Kinh tế nông hộ và kinh tế hợp tác trong
nông nghiệp Việt Nam, Nhà xuất bản Trẻ, tác giả đã luận giải cơ sở lý luận và
thực tiễn về vấn đề KTH nông dân theo tư tưởng của Mác-Ăngghen, Lênin,

quốc phòng trên địa bàn hiện nay”, Luận án tiến sĩ kinh tế, Học viện Chính
trị. Tác giả trình bày những vấn đề lý luận về phát triển KTH trên thế giới và
Việt Nam; khảo sát thực trạng phát triển KTH trên địa bàn thành phố Hà Nội;
đánh giá thành tựu hạn chế, nguyên nhân, những vấn đề cần giải quyết. Trên
cơ sở đó, đề xuất quan điểm, giải pháp có tính khả thi cho phát triển KTH và
tác động của nó đến chuẩn bị kinh tế cho thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc
phòng trên địa bàn thành phố Hà Nội.

7


Đỗ Văn Quân (2012),“Phát triển KTH gia đình trong tiến trình xây dựng
nông thôn mới ở đồng bằng sông hồng hiện nay”, Viện Xã hội học, Học viện
Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh. Tác giả đã luận giải chính sách của
Đảng, Nhà nước về vai trò của nông nghiệp, nông thôn và nông dân, về phát triển
KTH và xây dựng nông thôn mới trong quá trình đổi mới và phát triển đất nước;
Đảng và Nhà nước ta đã có những chủ trương, chính sách về nông nghiệp, tạo
điều kiện cho KTH gia đình phát triển. Trên cơ sở đó, khẳng định: Kinh tế hộ gia
đình là một lực lượng sản xuất quan trọng ở nông thôn Việt Nam. Hộ gia đình
nông thôn thường sản xuất, kinh doanh đa dạng, kết hợp trồng trọt với chăn nuôi,
tiểu thủ công nghiệp và kinh doanh ngành nghề phụ.
Trần Thanh Giang (2013), “Quá trình xác lập và phát triển của kinh tế hộ
nông dân ở nước ta trong thời kỳ đổi mới”, Tạp chí Nghiên cứu văn hóa, sô 1
năm 2013.Trong bài báo, tác giả đã khái quát lịch sử hình thành, phát triển của
KTH nông dân Việt Nam trong thời kỳ đổi mới; chỉ rõ những khó khăn, thách
thức trong quá trình phát triển KTH ở nước ta. Theo tác giả, trong thời kỳ đẩy
mạnh CNH, HĐH và mở rộng hội nhập quốc tế, KTH đang đứng trước nhiều
thách thức to lớn, đòi hỏi nhà nước phải có chính sách hỗ trợ kịp thời, hiệu quả.
Ngô Quang Vịnh (2014), Phát triển kinh tế hộ dịch vụ nông nghiệp ở tỉnh
Hưng Yên hiện nay, Luận văn thạc sĩ Kinh tế chính trị, Học viện Chính trị. Đề tài

thuật, đất đai; muốn phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn trước hết phải
phát triển KTH gia đình. Hiện nay, sự kết hợp những ngành, những công việc
khác nhau, KTH tạo ra động lực sản xuất mới ở nông thôn, tạo ra nhiều việc
làm, phù hợp với phát triển kinh tế thị trường.
Những nghiên cứu của các công trình nêu trên có nhiều khía cạnh hợp
lý, là tài liệu quý cho tác giả nghiên cứu đề tài; đã giúp cho đề tài tác giả
hiểu rõ hơn về vai trò, nội dung, đặc điểm của KTH ở nông thôn, từ đó hình
thành phương pháp luận và hướng tiếp cận để xây dựng cơ sở lý luận và
thực tiễn của vấn đề phát triển KTH chăn nuôi, làm cơ sở xây dựng nội

9


dung, giải pháp phát triển KTHCN ở huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội
hiện nay dưới góc độ nghiên cứu của kinh tế chính trị.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Luận giải cơ sở lý luận thực tiễn, đánh giá thực trạng phát triển
KTHCN ở huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội hiện nay; trên cơ sở đó đề
xuất quan điểm và giải pháp nhằm đẩy mạnh phát triển KTHCN ở huyện
Thạch Thất, thành phố Hà Nội thời gian tới.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lý luận về phát triển KTHCN.
- Đánh giá thực trạng phát triển KTHCN ở huyện Thạch Thất, thành
phố Hà Nội thời gian qua.
- Đề xuất quan điểm và giải pháp phát triển KTHCN ở huyện Thạch
Thất, thành phố Hà Nội thời gian tới.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Phát triển kinh tế hộ chăn nuôi dưới góc độ kinh tế chính trị.

6. Ý nghĩa của đề tài
Với kết quả đạt được, luận văn được thực hiện thành công góp phần làm
sáng tỏ thêm cơ sở lý luận khoa học cho việc phát triển KTHCN ở huyện Thạch
Thất, Thành phố Hà Nội trong quá trình CNH,HĐH nông nghiệp nông thôn,
hội nhập phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN. Kết quả nghiên cứu
của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan, chính quyền
cơ sở huyện Thạch Thất trong hoàn thiện cơ chế, chính sách, giải pháp phát
triển KTHCN; đồng thời có thể làm tài liệu tham khảo phục vụ cho nghiên
cứu, giảng dạy những nội dung liên quan ở các trường đại học, cao đẳng trong
và ngoài quân đội.
7. Kết cấu của đề tài

11


Gồm phần mở đầu, nội dung luận văn 3 chương (6 tiết), kết luận, danh
mục tài liệu tham khảo và phụ lục.

12


Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ CHĂN NUÔI
Ở HUYỆN THẠCH THẤT, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
1.1. Kinh tế hộ chăn nuôi, vai trò của nó trong phát triển kinh tế xã hội ở nông thôn
1.1.1. Quan niệm về kinh tế hộ chăn nuôi
* Về chăn nuôi
Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, việc chăn nuôi các loài
vật bắt nguồn từ quá trình chuyển đổi lối sống của loài người sang định canh
định cư chứ không còn sinh sống kiểu săn bắt hái lượm. Con người đã biết

đổi có tính qui luật trong đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp là chuyển
dần từ sản xuất trồng trọt sang phát triển chăn nuôi, trong ngành trồng trọt,
các hoạt động trồng ngũ cốc cũng chuyển hướng sang phát triển các dạng
hạt và cây trồng làm thức ăn chăn nuôi.
Như vây, chăn nuôi đóng vai trò quan trọng trong việc gia tăng thu nhập
ở các vùng nông thôn Việt Nam, chủ yếu theo quy mô hộ gia đình. Sản phẩm
của các hộ chăn nuôi chiếm tới 70% sản lượng thực phẩm ngành chăn nuôi.
Thực tế này cho thấy tiềm năng phát triển ngành nghề chăn nuôi chuyên
nghiệp, quy mô ở nước ta rất lớn, là cơ hội cho những ai có niềm đam mê
phát triển nghề chăn nuôi.
* Về kinh tế hộ
Về KTH (KTH gia đình), đã có nhiều quan niệm khá phong phú và có
nhiều định nghĩa khác nhau. Trong tính phong phú và đa dạng đó có điểm chung
là dưới góc độ kinh tế thì khái niệm “hộ” được hiểu là “KTH”; đều tiếp cận
KTH là một đơn vị kinh tế tự chủ SX,KD trong lĩnh vực nông nghiệp, nông
thôn.
Tiếp cận về phương diện thống kê, Liên hợp quốc đưa ra quan niệm:
“Hộ là những người cùng sống chung dưới một mái nhà, cùng ăn chung và
có chung một ngân quỹ” [43, tr.99].

14


Ở Việt Nam, vấn đề KTH vẫn đang được tiếp tục nghiên cứu, tổng kết.
Hộ, KTH, kinh tế gia đình là những khái niệm còn chưa được thống nhất. Cho
đến nay chưa có một cuộc hội thảo nào bàn về học thuật xung quanh KTH và
các phương pháp nghiên cứu về KTH. Dường như có sự mặc nhiên thừa nhận
“hộ” là “gia đình”, “KTH” chính là “kinh tế gia đình”. Thực tế cho thấy, hộ là
gia đình, không có hộ nào lại không phải là gia đình; KTH là kinh tế gia đình.
Nghiên cứu KTH dưới góc độ khoa học kinh tế chính trị, Tiến sỹ Trần

mạnh về mọi mặt trong một khoảng thời gian cụ thể, đặc biệt không chỉ đơn
thuần về chăn nuôi được thể hiện qua lợi nhuận, doanh thu, qui mô, sản
lượng,… mà còn hoàn chỉnh về cơ cấu.
Kinh tế hộ chăn nuôi là nền tảng, một bộ phận của nền sản xuất trong
nông nghiệp, khác với các ngành sản xuất khác: Lâm nghiệp phụ thuộc nhiều
vào điều kiện đất đai, khí tượng và thời tiết; nhưng đối với chăn nuôi đó chỉ là
những ảnh hưởng tác động đến vật nuôi, nó phụ thuộc chính vào điều kiện
chăm sóc, nuôi dưỡng của các chủ hộ. Sản phẩm của chăn nuôi phục vụ trực
tiếp nhu cầu, tiêu dùng của đại đa số người dân.
Kinh tế hộ chăn nuôi là sự phát triển tất yếu của qui luật sản xuất hàng
hoá, trong điều kiện kinh tế thị trường, xuất phát từ nhu cầu thị trường, do vậy
các yếu tố đầu vào như vốn, giống, lao động, KH - CN, cũng như các sản
phẩm đầu ra của chăn nuôi như thịt, trứng, sữa, da, lông... đều là hàng hoá.
1.1.2. Vai trò của kinh tế hộ chăn nuôi trong phát
triển kinh tế - xã hội nông thôn
Kinh tế hộ nói chung và KTHCN nói riêng là hình thức tổ chức sản xuất quan
trọng trong nền nông nghiệp. Trong những năm gần đây, ở Việt Nam, KTHCN đã
đóng góp vai trò không nhỏ trong việc phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn
cũng như những lợi ích về mặt xã hội và môi trường ở mỗi địa phương. Thể hiện:
Một là, KTHCN đem lại nhiều tiện ích cho phép huy động
khai thác và phát huy các nguồn lực lao động, đất đai và nguồn
lực khác hợp lý và có hiệu quả.

16


Với tính cách là một thực thể kinh tế, đơn vị kinh tế tự chủ, KTHCN
được xem xét tự chịu trách nhiệm về hoạt động SX,KD nhằm tạo ra lợi nhuận
và các sản phẩm hàng hoá, đáp ứng nhu cầu trên thị trường và xã hội. Do đó,
KTHCN cho phép khai thác, sử dụng phát huy có hiệu quả nguồn lực đất đai, mặt

đình, thực sự là phương thức xoá đói giảm nghèo [30]. Riêng huyện Thạch
Thất, tính đến hết năm 2015 có 179 KTHCN tập trung. Trong đó có 57 hộ
chăn nuôi trang trại lợn; 34 hộ trang trại nuôi gia cầm; 13 hộ trang trại nuôi
trâu, bò; 40 hộ trang trại nuôi dê; 40 hộ trang trại nuôi lợn rừng [59, tr.3].
Theo đó, là nguồn thu nhập đáng kể trong hộ gia đình, thực sự là phương thức
xoá đói, giảm nghèo. Điều này khẳng định KTHCN là một hình thức tổ chức
kinh tế phù hợp góp phần giải quyết công ăn việc làm, nâng cao thu nhập cho
lực lượng lao động trong cả nước nói chung và ở huyện Thạch Thất nói riêng.
Các chủ hộ chăn nuôi nắm quyền quản lý, điều hành các khâu, các bước trong
quy trình chăn nuôi; chủ động bố trí kế hoạch sản xuất sản phẩm vật nuôi; chủ động
chăm lo nguồn vốn, giống, thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y, thị trường đầu vào, đầu ra,
liên kết hợp tác với ai, ở khâu nào; là nơi trực tiếp ứng dụng những thành tựu mới của
KH - CN về chăn nuôi, nâng cao năng xuất lao động, hiệu quả kinh tế theo từng hộ;
đồng thời, đó là quá trình sàng lọc và cải tiến kỹ thuật truyền thống, làm cho nó thích
ứng với sản xuất chăn nuôi và phát huy sáng tạo, năng lực nội sinh; tự chịu trách
nhiệm về lỗ - lãi và được pháp luật thừa nhận cho tồn tại và phát triển.
Hai là, KTHCN góp phần cung cấp thực phẩm dinh dưỡng cho đời sống
con người, cung cấp phân bón cho trồng trọt, cung cấp nguyên liệu cho ngành
công nghiệp, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của đời sống xã hội.
Trong đời sống con người khi KT - XH phát triển mức sống con người
càng được nâng cao, trong điều kiện cường độ lao động và lao động trí óc ngày
càng cao, tính chất lao động có sự thay đổi, thì nhu cầu thực phẩm từ sản phẩm
chăn nuôi, sẽ ngày càng chiếm tỷ lệ cao trong bữa ăn hàng ngày của người dân.
Các sản phẩm từ chăn nuôi như: thịt, trứng, sữa đều là thực phẩm có giá trị
18


dinh dưỡng, hàm lượng protin cao. Vì vậy, chăn nuôi chất lượng, hiệu quả là
nguồn cung cấp thực phẩm dinh dưỡng sẽ đáp ứng được nhu cầu đó.
Phát triển KTHCN chất lượng, hiệu quả góp phần cung cấp phân bón cho

các nhà máy sản xuất dược, len, vải sợi, các nhà máy sản xuất: áo, giày, túi, ví...các
loại. Do vậy, nếu các đàn gia súc, gia cầm từ các hộ chăn nuôi tăng lên, nguồn cung
cấp nguyên liệu cho các nhà máy chế biến sản phẩm chăn nuôi cũng không ngừng
được bổ sung, các nhà máy, xí nghiệp có điều kiện mở rộng quy mô, nâng cao trình
độ sản xuất. Đây là điều kiện cơ bản để góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng tích cực. Kết quả sự gia tăng số lượng hộ chăn nuôi sẽ làm cho lao động trực
tiếp trong trồng trọt cũng có xu hướng ngày một giảm, lao động trong chăn nuôi ngày
một tăng lên. Mặt khác, phát triển KTHCN sẽ là điều kiện để chuyển dịch cơ cấu
trong nội bộ ngành nông nghiệp theo hướng giảm dần tỷ trọng phân ngành trồng trọt,
tăng dần tỷ trọng chăn nuôi, thủy sản, tạo điều kiện phát triển toàn diện, hình thành
các vùng chăn nuôi tập trung, với sản phẩm bảo đảm về số lượng, chất lượng đáp
ứng nhu cầu thị trường trong vùng và có xuất khẩu.
Bốn là, KTHCN là một mắt xích quan trọng trong sản xuất nông
nghiệp bền vững tạo việc làm, tăng thu nhập, góp phần xoá đói giảm nghèo.
Quá trình phát triển KTHCN chuyên môn hoá sản xuất, tạo ra cơ cấu
kinh tế mới đa dạng ở nông thôn; là quá trình áp dụng tiến bộ công nghệ, đổi
mới phương thức quản lý, tích tụ vốn,... Tình hình đó đã đặt ra nhu cầu mới,
mà khả năng của từng hộ độc lập không thể biệt lập, mà phải có sự liên kết.
Phát triển KTHCN có vai trò quan trọng đóng góp vào tăng trưởng
ngành nông nghiệp và phát triển KT- XH ở địa phương: với lợi thế về thời
gian cho sản phẩm nhanh, lợn thịt 6 tháng/lứa, gà thịt 8 tuần/lứa, vịt thịt 6
tuần/lứa; khả năng sinh sản cao: lợn nái 10 - 12 con/lứa, 2 lứa/năm; gà trứng
cho 280 - 300 quả/năm [29]. Sử dụng các phụ phẩm từ trồng trọt, chế biến giá
trị dinh dưỡng thấp để tạo ra những sản phẩm có giá trị dinh dưỡng cao như
thịt, trứng, sữa. Vì vậy, các đối tượng vật nuôi được xem là đối tượng quan
tâm phát triển đáp ứng yêu cầu vòng quay vốn, xoá đói giảm nghèo. Chăn
nuôi tận dụng phụ phẩm của trồng trọt, thuỷ sản tạo nên hệ sinh thái nông
nghiệp theo các mô hình VAC (vườn ao chuồng), VACR (vườn ao chuồng
20


21


Tiếp cận dưới góc độ kinh tế, “Phát triển” là sự tăng trưởng kinh tế gắn
liền với hoàn thiện cơ cấu, thể chế kinh tế và nâng cao chất lượng cuộc sống.
Từ những quan niệm chung về phát triển kinh tế, cho thấy phát triển KTHCN
là quá trình biến đổi lớn mạnh của chăn nuôi trong phát triển KT - XH. Thực
chất của sự phát triển KTHCN là khả năng thích ứng của hộ chăn nuôi trong
mỗi hình thức tổ chức sản xuất xã hội ở nông thôn. Do đó, phát triển KTHCN
không chỉ tăng lên về mặt số lượng hộ chăn nuôi, số lượng chuồng trại, số
lượng đầu vật nuôi, mà điều quan trọng là sự nâng lên cả về mặt chất lượng
hoạt động chăn nuôi, có cơ cấu hộ chăn nuôi ngày càng hợp lý trong quá trình
phát triển của nó.
Phát triển KTHCN ở huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội chính là sự
phát triển KTHCN trong một địa phương cụ thể. Tuy nhiên, Thạch Thất là địa
bàn rộng, điều kiện KT - XH có nhiều nét đặc thù riêng, do đó sự phát triển
KTHCN ở đây cũng mang những đặc điểm, tính chất riêng.
Vì vậy, phát triển KTHCN ở huyện Thạch Thất là quá trình gia tăng
cả về mặt lượng và chất các hoạt động chăn nuôi ở hộ gia đình trên địa bàn,
biểu hiện ra ở việc mở rộng về các loại hình, tăng lên về số lượng, nâng cao
chất lượng, có cơ cấu hợp lý, hiệu quả từ các hoạt động chăn nuôi, mang lại
thu nhập ngày càng cao cho các hộ; góp phần thực hiện thắng lợi các mục
tiêu KT-XH của địa phương.
Với việc phân tích các dấu hiệu nội hàm về mục đích, chủ thể, phương
thức quan niệm phát triển KTHCN ở huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội
nêu trên phản ảnh một số vấn đề sau:
Mục đích, phát triển KTHCN ở huyện Thạch Thất là nhằm, góp phần
thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển KT - XH ở huyện Thạch Thất, thành
phố Hà Nội. Nâng cao hiệu quả sản xuất chăn nuôi ở mức độ tập trung hoá và
chuyên môn hoá cao hơn. Đó là quá trình không ngừng nâng cao năng lực sản

nuôi sinh thái. Căn cứ vào đối tượng là sản phẩm chính hay sản phẩm phụ
khác nhau mà chủ thể hộ chăn nuôi có phương thức khác nhau, nhưng nhìn
tổng thể đó là phương thức do các chủ hộ bỏ vốn và sức lao động, hoạt

23


động trực tiếp theo sự điều hành của chủ hộ trên cơ sở có sự thống nhất về
cách thức hoạt động, kỹ thuật, phương thức thanh toán.
1.2.2. Nội dung phát triển kinh tế hộ chăn nuôi ở huyện Thạch Thất,
thành phố Hà Nội hiện nay
Căn cứ vào quan niệm phát triển KTHCN ở huyện Thạch Thất, thành
phố Hà Nội, xác định nội dung phát triển KTHCN ở huyện Thạch Thất, thành
phố Hà Nôi hiện nay bao gồm nội dung chủ yếu sau: Phát triển quy mô, số
lượng, chất lượng, cơ cấu.
Một là, mở rộng quy mô, số lượng, đa dạng hóa các loại hình
chăn nuôi
Mở rộng quy mô KTHCN ở huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội hiện
nay thực chất là phát triển KTHCN theo chiều rộng. Biểu hiện ở mức tăng số
lượng hộ chăn nuôi mới; phát triển thêm nhiều hộ chăn nuôi trên quy mô
trang trại; xây dựng thêm hệ thống chuồng, trại, ao hồ, đầm; tăng thêm đàn
gia súc, gia cầm bảo đảm hộ chăn nuôi có tốc độ tăng trưởng ổn định.
Việc mở rộng quy mô KTHCN ở huyện Thạch Thất, đó là đầu tư nâng
cấp, mở rộng năng lực SX,KD của các hộ chăn nuôi hiện có trên địa bàn
nhằm nâng cao sản lượng, tốc độ tăng trưởng của các hộ chăn nuôi. Đồng
thời, việc mở rộng qui mô hộ chăn nuôi ở huyện Thạch Thất hiện nay còn bao
hàm cả đa dạng hóa các sản phẩm chăn nuôi, mở rộng thị trường cung cấp sản
phẩm và tiêu thụ sản phẩm.
Hai là, nâng cao chất lượng, hiệu quả và và gia tăng giá trị trong chăn
nuôi ở từng hộ gia đình

ứng dụng những thành tựu mới của khoa học kỹ thuật về chăn nuôi, sàng lọc
và cải tiến kỹ thuật truyền thống phát huy sáng tạo, năng lực nội sinh nâng
cao năng suất lao động, hiệu quả chăn nuôi, giảm giá thành sản phẩm, tăng
tính cạnh tranh trên thị trường.
Ba là, xây dựng cơ cấu KTHCN theo hướng hợp lý, bền vững
25


Trích đoạn Tập trung xây dựng đề án, tiếp tục bổ sung, hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách phát triển kinh tế hộ chăn nuô Tăng cường bảo đảm nguồn nhân lực; ứng dụng thành tựu KH-CN mới trong chăn nuôi, tạo ra sản phẩm có giá trị kinh tế cao Đẩy mạnh hoạt động liên doanh, liên kết, thị trường hình thành nên chuỗi giá trị trong chăn nuô
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status