VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN ANH TUẤN
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN VIÊN CHỨC
TỪ THỰC TIỄN QUẬN HAI BÀ TRƢNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành
: Chính sách công
Mã số
: 60 34 04 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. VĂN TẤT THU
Hà Nội, 2016
LỜI CAM ĐOAN
Đề tài nghiên cứu “Thực hiện chính sách phát triển viên chức từ thực
tiễn quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội” của luận văn này là kết quả của
sự nỗ lực cố gắng, tìm tòi và sáng tạo của riêng bản thân tôi cùng với sự
hướng dẫn tận tình của người hướng dẫn khoa học PGS.TS Văn Tất Thu. Tôi
xin cam đoan, kết quả nghiên cứu của công trình hoàn toàn là kết quả của
cuộc điều tra xã hội học mà tôi đã tiến hành nghiên cứu tại quận Hai Bà
Trưng, thành phố Thành phố Hà Nội. Các thông tin có nguồn gốc rõ ràng,
1.6. Những yêu cầu cơ bản đối với tổ chức thực hiện chính sách phát triển
31
viên chức
1.7. Các phương pháp tổ chức thực hiện chính sách phát triển viên chức
33
1.8. Chủ thể tham gia thực hiện chính sách phát triển viên chức
35
Chƣơng 2. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT
TRIỂN VIÊN CHỨC TẠI QUẬN HAI BÀ TRƢNG, THÀNH PHỐ
39
HÀ NỘI
2.1. Các yếu tố của quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội ảnh hưởng
39
đến tổ chức thực hiện chính sách phát triển viên chức
2.2. Thực trạng tổ chức thực hiện chính sách phát triển viên chức tại
40
quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội
2.3. Thực trạng các chủ thể tham gia thực hiện chính sách phát triển
46
viên chức tại quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội
2.4. Kết quả thực hiện chính sách phát triển viên chức tại quận Hai Bà
47
Trưng, thành phố Hà Nội
2.5. Đánh giá chung kết quả thực hiện chính sách phát triển viên chức
50
tại quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội
Chƣơng 3. PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO
HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN VIÊN
54
CHỨC TẠI QUẬN HAI BÀ TRƢNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
trong phát triển kinh tế, xã hội và phục vụ nhân dân, Đảng và Nhà nước ta đã
ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm nâng cao chất lượng hoạt động
của đội ngũ này, cụ thể là Luật Viên chức Việt Nam năm 2010 và các văn bản
dưới luật nhằm hướng dẫn tổ chức, thực hiện và kết quả đã có những chuyển
biến tích cực. Số lượng viên chức cơ bản đáp ứng nhu cầu, năng lực chuyên
môn dần được cải thiện, phù hợp với vị trí việc làm. Tuy nhiên, chất lượng
hoạt động vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế. Năng lực chuyên môn của một bộ
phận viên chức chưa đáp ứng yêu cầu công việc, đạo đức, trách nhiệm nghề
nghiệp chưa cao, việc đổi mới phong cách làm việc còn chậm. Do đó, những
1
kết quả đạt được chưa tương xứng với vị trí, vai trò của viên chức trong đời
sống xã hội.
Thành phố Hà Nội, với vị trí vai trò là trung tâm chính trị, văn hóa của
cả nước, đã có nhiều chính sách khác nhau nhằm xây dựng đội ngũ viên chức
có kiến thức chuyên môn sâu, kỹ năng làm việc thành thạo, hiệu quả, gắn với
từng vị trí việc làm, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp của viên chức. Nghiên
cứu, ban hành nhiều cơ chế chính sách ph hợp, đảm bảo tuyển dụng viên
chức trên cơ sở tự do cạnh tranh; có cơ chế phát huy động lực làm việc, tạo
môi trường làm việc, khuyến khích sự sáng tạo, cống hiến của đội ngũ viên
chức.
Quận Hai Bà Trưng là một quận nội thành của thành phố Hà Nội, quận
có địa bàn rộng. Căn cứ các văn bản Hướng dẫn của Chính phủ, Bộ Nội vụ,
UBND thành phố Hà Nội và sự lãnh đạo, chỉ đạo, quan tâm sát sao của cấp
ủy, chính quyền địa phương, nên việc triển khai, thực hiện chính sách phát
triển viên chức đã được tiến hành đúng quy định, chất lượng đội ngũ viên
chức đã có những chuyển biến tích cực, tuy nhiên, hiệu quả chưa thực sự nổi
bật và còn tồn tại những hạn chế nhất định.
cung cấp đầy đủ và hệ thống về lý luận và thực tiễn việc thực hiện chính sách
phát triển viên chức tại một đơn vị hành chính cấp quận, cụ thể là quận Hai
Bà Trưng, thành phố Hà Nội.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách phát triển
viên chức để có cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng việc thực hiện chính sách
phát triển viên chức trên địa bàn quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội; và đề
3
xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phát triển viên
chức ở nước ta hiện nay.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách phát triển
viên chức;
- Phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện chính sách phát triển viên
chức từ thực tiễn quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội; chỉ rõ những kết
quả, hạn chế và nguyên nhân của các hạn chế;
- Đề xuất quan điểm, định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả thực
hiện chính sách phát triển viên chức.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn tập trung nghiên cứu hệ thống lý luận về thực hiện chính sách
phát triển viên chức và thực tiễn việc thực hiện chính sách phát triển viên
chức tại quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.
Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi không gian: Luận văn nghiên cứu việc thực hiện chính sách
phát triển viên chức thuộc quản lý của quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.
Trưng, thành phố Hà Nội nói riêng. Các kết quả nghiên cứu của đề tài đóng
góp thiết thực vào việc xây dựng đội ngũ viên chức của quận Hai Bà Trưng,
thành phố Hà Nội.
5
7. Cơ cấu của luận văn
Luận văn được bố cục gồm 3 chương ngoài phần mở đầu, kết luận,
danh mục tài liệu và phụ lục.
Chương 1. Những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách phát triển
viên chức
Chương 2. Thực trạng thực hiện chính sách phát triển viên chức tại
quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội
Chương 3. Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện
chính sách phát triển viên chức tại quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội
6
Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN
CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN VIÊN CHỨC
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Viên chức
Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm,
làm việc tại đơn vị sự nghiệp theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ
quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật (Điều 2
Luật Viên chức).
Đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của
sách nhưng vẫn chưa có sự thống nhất về khái niệm chính sách. Trên thế giới,
có thể kể đến một số khái niệm về chính sách như: “Chính sách là một quá
trình hành động có mục đích theo đuổi bởi một hoặc nhiều chủ thể trong việc
giải quyết các vấn đề mà họ quan tâm” (James Anderson) hay “Chính sách là
quyết tâm và định hướng. Chính sách định hướng nhưng không bao gồm, các
chương trình và chi tiết hành động” (Glen Milne)…Tại Việt Nam, Từ điển
bách khoa Việt Nam đã đưa ra khái niệm về chính sách như sau: “Chính sách
là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ. Chính sách được
thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó”.
Như vậy, có thể đưa ra cách hiểu Chính sách là chương trình hành động do
các nhà lãnh đạo hay nhà quản lý đề ra để giải quyết một vấn đề nào đó thuộc
phạm vi thẩm quyền của mình. Các tổ chức, các doanh nghiệp, các đoàn thể
đều có thể đề ra những chính sách riêng biệt để áp dụng trong phạm vi một tổ
chức, doanh nghiệp hay đoàn thể đó. Các chính sách này nhằm giải quyết
những vấn đề đặt ra cho mỗi tổ chức, chúng chỉ có hiệu lực thi hành trong tổ
chức đó vì vậy chúng mang tính chất riêng biệt và được coi là những “chính
sách tư”. Tuy nhiên, mặc d được sử dụng rộng rãi (chính sách bán hàng,
chính sách đào tạo nhân viên, chính sách cạnh tranh…), nhưng “chính sách
8
tư” hầu như không được đề cập đến và được nghiên cứu với tư cách là một
ngành khoa học.
Chính sách công thể hiện mối quan hệ giữa nhà nước và công dân, do
đó khái niệm về chính sách công phụ thuộc nhiều vào bản chất của Nhà nước.
D trong điều hành và quản lý nhà nước cũng như lĩnh vực hoạt động của luật
pháp và cả trong nghiên cứu và học thuật, khái niệm chính sách công thường
xuyên được d ng nhưng không phải lúc nào khái niệm này cũng được hiểu
hoàn toàn giống nhau. Cho đến nay trên thế giới, cuộc tranh luận về khái
Ở Việt Nam, mặc dù ngành khoa học chính sách công là một ngành
khoa học khá mới mẻ nhưng đã có một số nhà nghiên cứu khoa học chính
sách công đưa ra khái niệm về chính sách công. PGS.TS Lê Chi Mai (Học
viện Hành chính Quốc gia) đưa ra cách hiểu về thuật ngữ chính sách công “là
thuật ngữ dùng để chỉ một chuỗi các quyết định hoạt động của nhà nước
nhằm giải quyết một vấn đề chung đang đặt ra trong đời sống kinh tế-xã hội
theo mục tiêu xác định”. Theo cách hiểu này, chính sách công có bốn đặc
trưng cơ bản đó là: Thứ nhất, chủ thể ban hành chính sách công là nhà nước,
cụ thể là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành chính sách. Thứ hai,
các quyết định này là những quyết định hành động, có nghĩa là chúng bao
gồm cả những hành vi thực tiễn. Chính sách công không chỉ thể hiện dự định
của nhà hoạch định chính sách về một vấn đề nào đó mà còn bao gồm những
hành vi thực hiện các dự định nói trên. Thứ ba, chính sách công tập trung giải
quyết một vấn đề đang đặt ra trong đời sống kinh tế-xã hội theo những mục
tiêu xác định. Thứ tư, chính sách công gồm nhiều quyết định có liên quan lẫn
nhau. Chính sách là một chuỗi hay một loạt các quyết định c ng hướng vào
việc giải quyết một vấn đề chính sách, do một hay nhiều cấp khác nhau trong
bộ máy nhà nước ban hành và thực thi trong một thời gian dài. Ở Việt Nam,
chính sách công biểu hiện dưới nhiều loại văn bản chính sách khác nhau, bao
gồm cả Luật, Nghị định, Thông tư, Quyết định, Chiến lược…T y theo điều
10
kiện hoàn cảnh mỗi nước với hệ thống và nền chính trị khác nhau sẽ có những
cách tiếp cận khác nhau về “chính sách”. PGS.TS Đỗ Phú Hải (Học viện
Khoa học xã hội Việt Nam) đưa ra cách định nghĩa về chính sách công trong
điều kiện chính trị cụ thể của Việt Nam “Chính sách công là một tập hợp các
quyết định chính trị có liên quan của Đảng và Nhà nước nhằm lựa chọn mục
tiêu và giải pháp, công cụ chính sách nhằm giải quyết các vấn đề xã hội theo
xã hội. Tổ chức thực hiện chính sách phát triển viên chức là một hệ thống
thống nhất với hoạch định, xây dựng và đánh giá chính sách phát triển viên
chức.
1.2. Quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nƣớc đối với phát
triển viên chức
Viên chức là một bộ phận của hệ thống cán bộ, công chức của nước ta
nói chung. Chính vì vậy, quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước
đối với viên chức nằm trong tổng thể quan điểm của Đảng và chính sách của
Nhà nước đối với cán bộ, công chức ở nước ta nói chung.
1.2.1. Quan điểm của Đảng về cán bộ và đãi ngộ đối với cán bộ, công
chức, viên chức
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh, người sáng lập Đảng ta, đã nhiều lần
căn dặn: “Cán bộ là cái gốc của mọi việc”, “Muôn việc thành công hay thất
bại đều do cán bộ tốt hay kém”. Vì đội ngũ cán bộ, công chức là “cầu nối”
giữa Đảng, Nhà nước với quần chúng. Cũng theo Hồ Chủ tịch, thực hiện tốt
chính sách đối với cán bộ, công chức cũng như các lực lượng khác có tác
dụng và ý nghĩa to lớn nhằm tạo ra động lực vật chất, tinh thần để nâng cao
chất lượng đội ngũ. Người khẳng định “Đảng và Chính phủ rất mong muốn
đời sống của công nhân, công chức và bộ đội càng khá hơn”.
Những năm qua, Đảng ta đã quán triệt, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh
về xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức. Đảng ta đã đưa ra nhiều quan đểm
12
đối với hệ thống đội ngũ cán bộ, công chức nói chung và cán bộ, công chức,
viên chức nói riêng thông qua các Văn kiện Đại hội, Nghị quyết, Chỉ thị:
Nghị quyết số 03-NQ/TW ngày 18/6/1997 của Hội nghị lần thứ Ba Ban
Chấp hành Trung ương khóa VIII về “Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” đã chỉ ra thực trạng đội ngũ cán bộ
đại bàn khó khăn, ở cơ sở”.
Văn kiện Đại hội XI của Đảng, đặc biệt là Cương lĩnh và Chiến lược
đều nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác cán bộ và chính sách đối với cán
bộ, công chức, đặt công tác này ở vị trí chiến lược với quan điểm coi con
người là chủ thể, là trung tâm của phát triển, là mục tiêu và động lực của đổi
mới. Một trong những vấn đề chủ yếu về công tác cán bộ trong Văn kiện Đại
hội XI của Đảng đó là “đổi mới chính sách và cơ chế về cán bộ, quản lý, sử
dụng, bồi dưỡng, đào tạo và phát triển năng lực cán bộ”. Hàng loạt chính
sách được đặt ra từ giáo dục và đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ để bảo đảm
tiêu chuẩn cán bộ, chính sách sử dụng cán bộ, bố trí, bổ nhiệm, đề bạt, đãi
ngộ, tạo động lực khuyến khích tài năng, thu hút nhân tài, nhất là các chuyên
gia giỏi, tài năng trẻ, kể cả thu hút tài năng trong cộng đồng người Việt ở
nước ngoài.
Không chỉ đưa ra những quan điểm chung về cán bộ và chính sách cán
bộ, Đảng ta còn đưa ra những quan điểm riêng về các bộ phận cấu thành trong
chính sách cán bộ, đó là quan điểm về chính sách tiền lương và phụ cấp, thi
đua khen thưởng. Kết luận Hội nghị Trung ương 9 khóa X của Đảng đưa ra
quan điểm “cải cách cơ bản chế độ tiền lương, tiền tệ hóa tiền lương và các
chế độ theo lương, ban hành chính sách về nhà ở, nhà công vụ đối với cán bộ,
công chức và lực lượng vũ trang. Cải cách công tác thi đua, khen thưởng để
tạo động lực thúc đẩy phong trào thi đua yêu nước một cách thực chất, khắc
phục bệnh thành tích, hình thức, lãng phí. Tổ chức phong trào thi đua xây
14
dựng môi trường làm việc tốt để phát huy tốt nhất khả năng cống hiến và phát
triển của cán bộ”.
Thông báo số 13-TB/TW ngày 28/3/2011 của Bộ Chính trị đã đưa ra
những quan điểm chỉ đạo Chính phủ, sửa đổi những bất hợp lý về chính sách
tạo, bồi dưỡng viên chức; trọng dụng người có đức có tài. Nâng cao chất
lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; kiên quyết đấu tranh khắc phục tình trạng
chạy theo bằng cấp, học hàm, học vị.
1.2.2. Chính sách của Nhà nước về phát triển viên chức
Triển khai, thực hiện các chủ trương, quan điểm của Đảng về phát triển
viên chức, Nhà nước đã ban hành chính sách về phát triển viên chức. Chính
sách phát triển viên chức của Nhà nước được xác định trong thể chế xây dựng
và quản lý viên chức, cụ thể như: trong Luật viên chức số 58/2010/NĐ-CP
ngày 12/04/2012 của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức;
trong Nghị định số 43/2006/NĐ-CP của Chính phủ quy định về quyền tự chủ,
tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài
chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập; trong Nghị định số 16/2015/NĐ-CP
ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp
công lập; trong các chương trình, dự án, đề án chính sách phát triển viên chức
được Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định phê duyệt, ví dụ như Quyết
định số 163/QĐ-TTg ngày 25/01/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề
án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức giai đoạn 2016-2025.
Luật viên chức năm 2010 quy định cụ thể về chính sách xây dựng và phát
triển các đơn vị sự nghiệp công lập và đội ngũ viên chức: “Nhà nước tập
trung xây dựng hệ thống các đơn vị sự nghiệp công lập để cung cấp những
dịch vụ công mà Nhà nước phải chịu trách nhiệm chủ yếu đảm bảo, nhằm
phục vụ nhân dân trong lĩnh vực y tế, giáo dục tại miền núi, biên giới, hải
đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, v ng có điều kiện kinh tế đặc
biệt khó khăn”; “Nhà nước có chính sách xây dựng, phát triển đội ngũ viên
16
chức có đạo đức nghề nghiệp, có trình độ và năng lực chuyên môn đáp ứng
yêu cầu ngày càng cao của khu vực cung ứng dịch vụ công; phát triển, thu
Tổ chức thực hiện chính sách phát triển viên chức có vị trí đặc biệt
quan trọng, là bước hiện thực hoá chính sách vào đời sống xã hội. Để có được
chính sách phát triển viên chức tốt, các nhà hoạch định, xây dựng phải qua
một quá trình nghiên cứu tìm kiếm công phu. Nhưng d tốt đến đâu thì chính
sách cũng trở thành vô nghĩa nếu nó không được đưa vào thực hiện.
Tổ chức thực hiện chính sách không tiến hành tốt dễ dẫn đến thiếu tin
tưởng, thậm chí có sự chống đối của viên chức đối với Nhà nước.
Tổ chức thực hiện chính sách phát triển viên chức giúp bổ sung hoàn
thiện chính sách. Việc phân tích, đánh giá chính sách phát triển viên chức
(mức độ tốt xấu) chỉ có thể đầy đủ, có sức thuyết phục sau khi thực hiện chính
sách. Qua tổ chức thực hiện chính sách phát triển viên chức biết được chính
sách có phù hợp hay không phù hợp, vào cuộc sống hay không vào cuộc sống.
Đưa chính sách phát triển viên chức vào thực tiễn là quá trình phức tạp, đầy
biến động chịu trách động của một hoạt các yếu tố, thúc đẩy hoặc cản trở việc
thực thi.
Thực hiện chính sách là một khâu cấu thành chu trình chính sách, là
toàn bộ quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể chính sách thành hiện thực với
các đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu nhất định. Tổ chức thực thi chính
sách là trung tâm kết nối các khâu (các bước) trong chu trình chính sách thành
một hệ thống. Hoạch định được chính sách đúng, có chất lượng là rất quan
trọng, nhưng thực hiện đúng chính sách còn quan trọng hơn. Có chính sách
đúng nếu không được thực hiện sẽ trở thành khẩu hiệu suông, không những
18
không có ý nghĩa, mà còn ảnh hưởng đến uy tín của chủ thể hoạch định và
ban hành chính sách (uy tín của nhà nước). Nếu chính sách không được thực
hiện đúng sẽ dẫn đến sự thiếu tin tưởng và sự phản ứng của nhân dân đối với
nhà nước. Điều này hoàn toàn bất lợi về mặt chính trị và xã hội, gây những
trong và ngoài nước, đóng góp tích cực cho nền viên chức nước nhà. Ngược
lại, nếu thực hiện chính sách phát triển viên chức không tốt thì sẽ tác động
tiêu cực đến động lực làm việc của viên chức, tạo nên tâm lý chán nản, không
có động lực phấn đấu, nảy sinh những hành động cũng như thái độ tiêu cực
trong làm việc.
Thứ ba, thông qua việc thực hiện chính sách phát triển viên chức, các
nhà hoạch định chính sách có thể phát hiện ra những vấn đề chính sách nảy
sinh trong quá trình thực hiện, từ đó có những điều chỉnh, bổ sung cho phù
hợp trong quá trình thực hiện chính sách. Trong trường hợp thực hiện điều
chỉnh chính sách mà vẫn không mang lại hiệu quả mong muốn, các nhà hoạch
định chính sách sẽ thay đổi chính sách khác cho phù hợp, hiệu quả hơn.
Thứ tư, thực hiện chính sách phát triển viên chức để thể hiện tính đúng
đắn, tính phù hợp của chính sách. Nếu trong quá trình thực hiện chính sách sẽ
nảy sinh nhiều vấn đề và chính sách không được cán bộ, công chức trong
ngành hưởng ứng thực hiện thì đó là chính sách không ph hợp, không đúng
đắn. Ngược lại, nếu trong quá trình thực hiện chính sách thuận lợi, được mọi
người thực hiện và phổ biến rộng rãi thì đó là chính sách đúng đắn, phù hợp.
Hay nói cách khác, đó là sự kiểm định thực tiễn của chính sách.
Thứ năm, thực hiện chính sách phát triển viên chức có ý nghĩa quan
trọng đối với việc phân tích và đánh giá chính sách. Việc phân tích và đánh
giá chính sách chỉ đầy đủ và có tính thuyết phục sau khi thực hiện chính sách
này trên thực tế.
20
1.4. Nội dung các bƣớc thực hiện chính sách phát triển viên chức
1.4.1. Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách phát triển
viên chức
Để thực hiện chính sách phát triển viên chức, các cơ quan từ Trung
bộ, công chức phải am hiểu chính sách, phải nắm chính xác, đầy đủ mục tiêu,
nội dung, nhiệm vụ, yêu cầu, phạm vi, đối tượng của chính sách. Đồng thời,
phải nhận thức được đầy đủ mục đích, yêu cầu, nội dung, nhiệm vụ của việc
tuyên truyền, phổ biến chính sách phát triển viên chức. Trên cơ sở đó, xác
định lựa chọn các kỹ năng, các giải pháp phổ biến, tuyên truyền chính sách
phù hợp cho từng đối tượng viên chức tại địa bàn. Tùy từng loại đối tượng và
tùy từng đặc điểm của mỗi cơ quan làm công tác viên chức mà có các hình
thức phổ biến, tuyên truyền và quán triệt thực hiện chính sách cho phù hợp
như: mở các lớp tập huấn tập trung để quán triệt nghiên cứu các nội dung
chính sách, bàn các giải pháp và phân công thực hiện chính sách; tổ chức các
lớp tuyên truyền chính sách cho các cơ quan thông tấn, báo chí để họ tuyên
truyền; xây dựng văn bản hướng dẫn phổ biến cụ thể việc thực hiện chính
sách gửi cho các cơ quan, đơn vị và cán bộ, công chức để họ thực hiện chính
sách. Trong xây dựng các văn bản hướng dẫn cụ thể thực hiện chính sách phát
triển viên chức trên địa bàn cũng như các văn bản phổ biến, hướng dẫn chính
sách này phải đảm bảo chính xác, đúng với các quy định trong chính sách,
làm sao đơn giản, cụ thể, dễ hiểu, dễ thực hiện. Tuyệt đối không được bổ sung
các quy định mang tính chất thủ tục dườm rà, khó thực hiện và làm sai lệch
chính sách. Việc phổ biến, tuyên truyền chính sách không phải là công việc
đơn giản, đòi hỏi cán bộ, công chức làm công tác phổ biến tuyên truyền chính
sách phải am hiểu sâu sắc chính sách phát triển viên chức, có trình độ năng
lực chuyên môn và có kỹ năng phổ biến, tuyên truyền chính sách.
22