ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THỊ HỒNG HẠNH
VIỆC THAM GIA TỐ TỤNG DÂN SỰ CỦA
VIỆN KIỂM SÁT CẤP HUYỆN QUA THỰC
TIỄN TẠI VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN QUẬN
HAI BÀ TRƢNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội - 2015
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THỊ HỒNG HẠNH
VIỆC THAM GIA TỐ TỤNG DÂN SỰ CỦA
VIỆN KIỂM SÁT CẤP HUYỆN QUA THỰC
TIỄN TẠI VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN QUẬN
HAI BÀ TRƢNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành
Mã số
: Luật Dân sự và tố tụng dân sự
CHƢƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ VIỆC THAM GIA TỐ TỤNG DÂN SỰ ........
CỦA VIỆN KIỂM SÁT CẤP HUYỆN .......................................................... 13
1.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA VIỆC THAM GIA TỐ
TỤNG DÂN SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG TỐ
TỤNG DÂN SỰ .............................................................................................. 13
1.1.1. Khái niệm về việc tham gia tố tụng dân sự của Viện kiểm sát nhân
dân cấp huyện .................................................................................................. 13
1.1.2. Đặc điểm của việc tham gia tố tụng dân sự của Viện kiểm sát nhân
dân cấp huyện .................................................................................................. 18
1.1.3. Ý nghĩa của việc tham gia tố tụng dân sự của Viện kiểm sát nhân dân
cấp huyện......................................................................................................... 20
1.2. NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG TỚI VIỆC THAM GIA TỐ TỤNG
CỦA VIỆN KIỂM SÁT CẤP HUYỆN .......................................................... 20
1.2.1. Chủ trƣơng của Đảng trong việc cải cách tƣ pháp là yếu tố thúc đẩy
hoạt động kiểm sát án dân sự của Viện kiểm sát cấp huyện ........................... 20
1.2.2. Tính hợp lý trong các quy định về việc tham gia tố tụng dân sự của
Viện kiểm sát cấp huyện là yếu tố tác động tới hiệu quả của công tác kiểm
sát án dân sự .................................................................................................... 21
1.2.3. Trình độ, năng lực của Kiểm sát viên Viện kiểm sát cấp huyện là yếu
tố có ảnh hƣởng đến chất lƣợng kiểm sát án dân sự ....................................... 23
1.2.4. Sự gia tăng các án kiện dân sự và khiếu nại, tố cáo trong bối cảnh
hạn chế nguồn nhân lực dẫn tới sự quá tải của Viện kiểm sát cấp huyện ...... 23
1.3. SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP
LUẬT VIỆT NAM VỀ VIỆC THAM GIA TỐ TỤNG DÂN SỰ CỦA
VIỆN KIỂM SÁT............................................................................................ 24
4
1.3.1. Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1959 .................................................. 24
1.3.2. Giai đoạn từ năm 1959 đến năm 1989 .................................................. 25
SÁT QUẬN HAI BÀ TRƢNG ....................................................................... 62
3.1.1. Khái quát về đặc điểm tình hình, tổ chức, cán bộ của Viện kiểm sát
nhân dân Quận Hai Bà Trƣng ......................................................................... 62
3.1.2. Về kiểm sát việc thụ lý giải quyết các vụ, việc dân sự ......................... 65
3.1.3. Về việc Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, phiên họp dân sự ............... 70
3.1.4. Về kiểm sát bản án, quyết định về dân sự của Toà án .......................... 77
3.1.5. Những tồn tại, hạn chế và vƣớng mắc, bất cập trong thực tiễn tham
gia tố tụng dân sự của Viện kiểm sát Quận Hai Bà Trƣng, Thành phố Hà
Nội ................................................................................................................... 89
3.2. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ TỪ VIỆC THAM GIA TỐ TỤNG DÂN SỰ
CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƢNG, THÀNH
PHỐ HÀ NỘI ................................................................................................ 106
3.2.1. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về việc tham gia tố tụng của Viện
kiểm sát cấp huyện ........................................................................................ 106
3.2.2. Kiến nghị thực hiện pháp luật về việc tham gia tố tụng của Viện kiểm
sát Quận Hai Bà Trƣng.................................................................................. 112
KẾT LUẬN CHƢƠNG 3.............................................................................. 117
KẾT LUẬN CHUNG .................................................................................... 118
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................... 120
6
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CHXHCN : Cộng hòa xã hội chủ nghĩa.
KSND : Kiểm sát nhân dân.
TTDS : Tố tụng dân sự.
HĐXX : Hội đồng xét xử.
BHXH : Bảo hiểm xã hội.
TTLT : Thông tƣ liên tịch.
họp giải quyết các vụ việc dân sự. Tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự
năm 2004 quy định “ Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên Tòa đối với những
vụ án do Tòa án thu thập chứng cứ mà đương sự có khiếu nại, các việc dân sự
thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, các vụ việc dân sự mà Viện kiểm sát
kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án”.
Sau một thời gian áp dụng trong thực tiễn, Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của Bộ luật TTDS năm 2011 lại có những sửa đổi theo hƣớng mở rộng hơn
thẩm quyền của Viện kiểm sát trong việc tham gia các phiên toà dân sự, bảo đảm
việc thực hiện có hiệu quả chức năng kiểm sát trong tố tụng dân sự. Theo quy
định tại Điều 21 BLTTDS sửa đổi năm 2011 thì “Viện kiểm sát nhân dân tham
gia các phiên họp sơ thẩm đối với các việc dân sự; các phiên toà sơ thẩm đối với
những vụ án do Toà án tiến hành thu thập chứng cứ hoặc đối tượng tranh chấp
là tài sản công, lợi ích công cộng, quyền sử dụng đất, nhà ở hoặc có một bên
đương sự là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất, tâm thần”.
Xét thực tiễn thi hành BLTTDS trong thời gian qua cho thấy, quy định của
BLTTDS về việc tham gia của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự đã bộc lộ
những hạn chế, bất cập, chƣa tạo điều kiện cho Viện kiểm sát thực hiện đƣợc đầy
đủ chức năng, nhiệm vụ của mình theo quy định của Hiến pháp và Luật Tổ chức
Viện kiểm sát nhân dân. Trong điều kiện thực tiễn của Việt Nam, do những khó
khăn về trình độ dân trí, điều kiện kinh tế của ngƣời dân nên việc tự bảo vệ hoặc
nhờ Luật sƣ bảo vệ quyền lợi cho mình trƣớc Toà án cũng còn nhiều hạn chế.
Mặt khác, do sự bất cập, thiếu ổn định của hệ thống pháp luật, những tác động
tiêu cực của nền kinh tế thị trƣờng, năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ xét xử
còn bất cập so với yêu cầu cải cách tƣ pháp...nên dẫn tới có nhiều vụ việc giải
quyết chƣa bảo đảm tính khách quan, gây khiếu kiện bức xúc, kéo dài, quyền lợi
8
hợp pháp của ngƣời dân không đƣợc bảo vệ kịp thời. Việc khảo sát thực tiễn
kiểm sát án dân sự tại Viện kiểm sát nhân dân Quận Hai Bà Trƣng, Thành phố
của VKS trong TTDS mà chƣa có sự nghiên cứu một cách hệ thống về việc tham
gia tố tụng dân sự của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện.
Việc tham gia tố tụng dân sự của Viện kiểm sát cấp huyện qua thực tiễn
tại Viện kiểm sát Nhân dân Quận Hai Bà Trƣng, Thành phố Hà Nội là vấn đề
pháp lý tƣơng đối hẹp nên trong khoa học luật tố tụng dân sự từ trƣớc đến nay
chƣa có công trình nghiên cứu khoa học riêng biệt và chuyên sâu về những vấn
đề này.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Luận văn nghiên cứu về việc tham gia tố tụng dân sự của Viện kiểm sát
cấp huyện qua thực tiễn tại Viện kiểm sát Nhân dân Quận Hai Bà Trƣng, Thành
phố Hà Nội:
+ Nghiên cứu những vấn đề lý luận về việc tham gia tố tụng dân sự của
Viện kiểm sát cấp huyện theo các quy định của pháp luật Việt Nam.
+ Nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật Việt Nam tại
Viện kiểm sát nhân dân Quận Hai Bà Trƣng, Thành phố Hà Nội để từ đó tìm hiểu
một số những vƣớng mắc, bất cập trong thực tiễn tham gia tố tụng dân sự.
+ Đề xuất và luận chứng những quan điểm, giải pháp chủ yếu nhằm nâng
cao chất lƣợng về việc tham gia tố tụng dân sự tại Viện kiểm sát nhân dân Quận
Hai Bà Trƣng, Thành phố Hà Nội.
- Trong khuôn khổ của Luận văn thạc sỹ luật học, Luận văn giới hạn phạm
vi nghiên cứu công tác kiểm sát án dân sự ở Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện
và thực tiễn ở một địa phƣơng cụ thể mà không tiếp cận nghiên cứu về công tác
kiểm sát thi hành án dân sự. Luận văn có những nghiên cứu, đánh giá tổng quan
về việc tham gia tố tụng dân sự của Viện kiểm sát cấp huyện nói chung và từ đó
lồng ghép phân tích về thực tiễn thực hiện tại Viện kiểm sát nhân dân Quận Hai
Bà Trƣng trong những năm gần đây. Việc xác định giới hạn và định hƣớng
nghiên cứu này thực sự có ý nghĩa thiết thực và phục vụ trực tiếp cho công tác
kiểm sát án dân sự tại địa phƣơng nơi học viên công tác.
4. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
- Luận văn luận giải và chỉ ra đƣợc những điểm mới của BLTTDS sửa đổi
năm 2011 về việc tham gia tố tụng dân sự của Viện kiểm sát cấp huyện; đánh giá
thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về việc tham gia tố tụng dân
sự của Viện kiểm sát nhân dân từ thực tiễn tại Viện kiểm sát Nhân dân Quận Hai
Bà Trƣng, Thành phố Hà Nội.
11
- Luận văn đƣa ra đƣợc đề xuất và cơ sở của đề xuất hoàn thiện pháp luật
và thực hiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả kiểm sát án dân sự trong thực
tiễn.
- Luận văn có thể đƣợc sử dụng làm tài liệu tham khảo trong quá trình
nghiên cứu hoàn thiện các quy định của pháp luật về thủ tục sơ thẩm và về nhiệm
vụ, quyền hạn của VKS trong tố tụng dân sự.
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tƣ liệu tham khảo phục vụ cho
công tác nghiên cứu, giảng dạy khoa học pháp lý nói chung và đào tạo chức danh
Tƣ pháp nói riêng. Nội dung của luận văn cũng có thể góp phần xây dựng kỹ
năng nghề nghiệp của chuyên viên, Kiểm tra viên, Kiểm sát viên, kỹ năng nghiên
cứu hồ sơ, đặc biệt là đối với các Kiểm sát viên kiểm sát các vụ, việc dân sự tại
Viện KSND Quận Hai Bà Trƣng, Thành phố Hà Nội theo BLTTDS sửa đổi năm
2011.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 03 chƣơng.
- Chương 1: Khái quát về việc tham gia tố tụng dân sự của Viện kiểm sát
cấp huyện.
- Chương 2: Quy định của pháp luật hiện hành về việc tham gia tố tụng
dân sự của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện.
- Chương 3: Thực tiễn việc tham gia tố tụng dân sự của Viện kiểm sát
nhiệm chức năng này là hoàn toàn phù hợp với lý luận cũng nhƣ thực tiễn. Theo
V.I Lênin trong tác phẩm “Bàn về chế độ trực thuộc song trùng và pháp chế” đã
khẳng định: “…pháp chế chỉ có một, để thiết lập pháp chế thống nhất chống lại
một cách hiệu quả bệnh cục bộ, địa phương chủ nghĩa cần thành lập cơ quan
VKS”. [2]. Viện kiểm sát chỉ làm một công việc mà thôi, tức là làm thế nào cho
pháp chế đƣợc hiểu biết và tuân thủ thống nhất trong toàn nƣớc cộng hòa.
13
Trong quá trình đổi mới, xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền Việt Nam, Hiến
pháp năm 1992 (sửa đổi) đã xác định vai trò của Viện KSND. Theo đó, Viện
KSND là một hệ thống cơ quan có vị trí độc lập trong bộ máy nhà nƣớc, đƣợc tổ
chức thành một hệ thống từ trung ƣơng xuống địa phƣơng (cấp tỉnh và huyện), có
chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tƣ pháp, bảo đảm
cho pháp luật đƣợc chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất. Tại Điều 1 của Luật
tổ chức Viện KSND công bố ngày 12/4/2002 cũng ghi nhận lại chức năng của
VKS: “Viện KSND thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp
theo quy định của Hiến pháp và pháp luật”. Đặc biệt, Hiến pháp năm 1992 sửa
đổi, bổ sung năm 2002 quy định “VKS thực hành quyền công tố và kiểm sát các
hoạt động tư pháp”. Nghị quyết 49-NQ/TƢ ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về
Chiến lƣợc cải cách tƣ pháp đến năm 2020 vẫn khẳng định hai chức năng cơ bản
của Viện kiểm sát: “Viện KSND giữ nguyên chức năng như hiện nay là thực
hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp”.
Xuất phát từ chức năng chung của ngành kiểm sát, Viện KSND cấp huyện
tham gia vào quá trình giải quyết các vụ, việc dân sự của Toà án nhằm kiểm sát
việc tuân theo pháp luật trong toàn bộ quá trình tố tụng, bảo đảm tính pháp chế
trong các phán quyết của Toà án, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nƣớc
cũng nhƣ mọi thành viên trong xã hội. Việc tham gia của Viện KSND cấp huyện
vào quan hệ pháp luật TTDS là tất yếu và khách quan, nhằm đáp ứng yêu cầu về
bảo đảm sự tuân thủ theo pháp luật trong tố tụng dân sự của Toà án cấp huyện –
chính, kinh tế, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật nhằm
bảo đảm việc giải quyết các vụ án đúng pháp luật, kịp thời”.
Điều 21 Luật Tổ chức Viện KSND năm 2002 quy định: “ Khi kiểm sát
việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân gia đình, hành chính, kinh tế, lao
động và những việc khác theo quy định của pháp luật, Viện kiểm sát nhân dân có
những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
1. Kiểm sát việc thụ lý, lập hồ sơ vụ án; yêu cầu Toà án nhân dân hoặc tự
mình xác minh những vấn đề cần làm sáng tỏ nhằm giải quyết đúng đắn vụ án;
2. Khởi tố vụ án theo quy định của pháp luật;
3. Tham gia các phiên tòa và phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát nhân
dân về việc giải quyết vụ án;
4. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử của Toà án
nhân dân;
5. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng;
15
6. Kiểm sát các bản án và quyết định của Toà án nhân dân;
7. Yêu cầu Toà án nhân dân áp dụng những biện pháp khẩn cấp tạm thời
theo quy định của pháp luật;
8. Yêu cầu Toà án nhân dân cùng cấp và cấp dưới chuyển hồ sơ những vụ
án dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh tế, lao động và những việc
khác theo quy định của pháp luật để xem xét, quyết định việc kháng nghị.
Điều 22 Luật Tổ chức Viện KSND năm 2002 quy định: “Khi kiểm sát việc
giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh tế, lao động
và những việc khác theo quy định của pháp luật, Viện kiểm sát nhân dân có
quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án,
quyết định của Toà án nhân dân theo quy định của pháp luật; kiến nghị với Toà
án nhân dân cùng cấp và cấp dưới khắc phục những vi phạm pháp luật trong
việc giải quyết các vụ án; nếu có dấu hiệu tội phạm thì khởi tố về hình sự”.
Nhƣ vậy, VKS cấp huyện tham gia vào TTDS góp phần giúp Toà án cấp
huyện giải quyết đúng đắn vụ, việc dân sự, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
Nhà nƣớc và công dân, đó cũng chính là bảo đảm pháp chế XHCN đƣợc tôn
trọng trong toàn bộ quá trình tố tụng của Toà án. Từ việc phân tích trên, có thể
định nghĩa về việc tham gia tố tụng dân sự của VKSND cấp huyện nhƣ sau:
“Việc tham gia tố tụng dân sự của VKSND cấp huyện là việc VKSND cấp huyện
tham gia vào quá trình tố tụng dân sự với tư cách là cơ quan tiến hành tố tụng,
có chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật nhằm đảm bảo cho pháp luật
được thi hành nghiêm chỉnh, thống nhất trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự
tại Toà án”.
Theo Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 thì VKSND cấp
huyện gồm có các bộ phận công tác và bộ máy giúp việc do Viện trƣởng, các Phó
viện trƣởng phụ trách. Viện KSND cấp huyện gồm có Viện trƣởng, các Phó viện
trƣởng và các Kiểm sát viên. Theo đó, Viện KSND cấp huyện là cơ quan tiến
hành tố tụng; Viện trƣởng Viện kiểm sát và Kiểm sát viên Viện KSND cấp huyện
là những ngƣời tiến hành tố tụng thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo
pháp luật trong tố tụng dân sự nhằm bảo đảm việc giải quyết vụ việc dân sự kịp
thời, đúng pháp luật. Do vậy, nếu hiểu theo góc độ chủ thể cụ thể tiến hành việc
kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự thì “Việc tham gia tố tụng
dân sự của VKSND cấp huyện là hoạt động của Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm
sát viên thuộc Viện KSND cấp huyện trong việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật
của Toà án cấp sơ thẩm, của đương sự và những người tham gia tố tụng khác
17
trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự theo thủ tục sơ thẩm, nhằm bảo đảm
việc giải quyết vụ việc dân sự kịp thời, đúng pháp luật”.
1.1.2. Đặc điểm của việc tham gia tố tụng dân sự của Viện kiểm sát nhân dân
cấp huyện
Trong suốt quá trình tham gia kiểm sát việc giải quyết vụ, việc dân sự,
cấp huyện không mang tính chất bắt buộc thƣờng xuyên liên tục. Về mặt pháp lý,
Viện KSND cấp huyện chỉ tham gia một số hoạt động kiểm sát nhƣ kiểm sát
thông báo thụ lý, kiểm sát thông báo trả lại đơn khởi kiện, kiểm sát bản án, quyết
định…
Khi tham gia phiên tòa, phiên họp Kiểm sát viên đại diện cho Viện KSND
cấp huyện thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Viện KSND đƣợc pháp luật TTDS
quy định. Đó là kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Toà án, ngƣời tham gia tố
tụng. Vấn đề này đƣợc thể hiện rõ nét nhất tại phiên tòa mà chủ thể tiến hành là
Kiểm sát viên Viện KSND cấp huyện. Việc tham gia tố tụng dân sự của Kiểm sát
viên cấp huyện tại phiên tòa, phiên họp vừa thể hiện vai trò giám sát, vừa thể
hiện sự hỗ trợ cùng với Toà án trong việc giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự.
Tuy thực hiện việc kiểm sát trong tố tụng dân sự nhƣng Kiểm sát viên Viện
KSND cấp huyện cũng phải tuân theo các quy định về trình tự, thủ tục đƣợc pháp
luật tố tụng dân sự quy định.
- Thứ ba, Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện chỉ thực hiện việc kiểm sát
việc tuân theo pháp luật đối với các hoạt động tố tụng tại Toà án cấp huyện
Việc kiểm sát của Viện kiểm sát cấp huyện chỉ giới hạn trong phạm vi
những hoạt động tố tụng dân sự tại Toà án cấp sơ thẩm nhƣ kiểm sát việc thụ lý,
trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự; tham gia phiên tòa,
phiên họp sơ thẩm tại Toà án cấp huyện, phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát
về việc giải quyết vụ án, vụ việc; kiểm sát bản án, quyết định của Toà án; kiểm
sát hoạt động tố tụng của ngƣời tham gia tố tụng; yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ
chức có thẩm quyền xử lý ngƣời tham gia tố tụng vi phạm pháp luật; kháng nghị,
kiến nghị bản án, quyết định của Toà án có vi phạm pháp luật; kiến nghị, yêu cầu
Toà án, cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động tố tụng.v.v...Nếu phát hiện
sai lầm, vi phạm của Toà án cấp huyện thì Viện trƣởng Viện kiểm sát cấp huyện
có thể kháng nghị phúc thẩm nhƣng không đƣợc tiến hành các hoạt động kiểm
sát tại Toà án cấp phúc thẩm, không có quyền tham gia phiên toà và phát biểu
quan điểm của Viện kiểm sát cấp huyện tại Toà án cấp phúc thẩm.
của Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng khóa X trình Đại hội Đảng toàn quốc lần
thứ XI nêu rõ: Nhà nƣớc ta là Nhà nƣớc pháp quyền XHCN của nhân dân, do
nhân dân, vì nhân dân...Quyền lực Nhà nƣớc là thống nhất; có sự phân công, phối
hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành
pháp và tƣ pháp. Nhà nƣớc ban hành pháp luật; tổ chức, quản lý xã hội bằng
20
pháp luật và không ngừng tăng cƣờng pháp chế xã hội chủ nghĩa, tăng cƣờng các
cơ chế giám sát [26, tr 85, 251] . Qua sơ kết 03 năm thực hiện Nghị quyết số 49NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lƣợc cải cách tƣ pháp đến
năm 2020, Bộ chính trị đã chỉ rõ: Một trong những nguyên nhân làm cho chất
lƣợng xét xử các vụ án dân sự thời gian qua còn thấp là do chƣa có cơ chế giám
sát, kiểm sát hiệu quả việc giải quyết các vụ án này[14]. Kết luận số 79-KL/TW
ngày 28/7/2010 của Bộ Chính trị về Đề án đổi mới tổ chức và hoạt động Toà án,
VKS, Cơ quan điều tra khẳng định: “VKSND có chức năng thực hành quyền
công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp như hiện nay...”. Báo cáo chính trị của
Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng Khóa X trình Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
XI yêu cầu cần phải “bảo đảm tốt hơn các điều kiện để VKSND thực hiện hiệu
quả chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp” [32,
tr ] . Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng (khóa XI)
xác định: VKSND là cơ quan thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động
tƣ pháp. Trong hệ thống cơ quan kiểm sát thì Viện kiểm sát cấp huyện là cơ quan
đóng vai trò quan trọng, phần lớn các hoạt động tố tụng dân sự của Toà án cần
phải kiểm sát là hoạt động tố tụng do Toà án cấp huyện thực hiện. Nếu thực hiện
tốt đƣợc khâu kiểm sát tố tụng dân sự tại cấp sơ thẩm này thì sẽ hạn chế đƣợc
khối lƣợng công việc phát sinh ở Viện kiểm sát cấp tỉnh và cấp tối cao. Vì vậy,
đƣờng lối cải cách tƣ pháp dân sự với định hƣớng nâng cao hiệu quả kiểm sát
hoạt động tƣ pháp dân sự là yếu tố tạo thêm sức mạnh, động lực và quyết tâm của
ngành trong việc tăng cƣờng công tác kiểm sát án dân sự của Viện kiểm sát cấp
huyện.
nhiệm vụ nghiên cứu để phát hiện vi phạm, sai lầm của Toà án khi giải quyết
tranh chấp. Vấn đề đặt ra là nếu chỉ kiểm sát thông qua nghiên cứu vụ án bằng
việc đọc các quyết định, bản án để phát hiện sai lầm, vi phạm của Toà án khi giải
quyết tranh chấp là không khả thi. Việc bãi bỏ quy định về quyền kiểm sát hồ sơ
của Toà án dẫn tới việc hạn chế, thậm chí làm giảm đáng kể hiệu quả kiểm sát
của Viện kiểm sát cấp huyện đối với công tác kiểm sát án dân sự. Xét cả về lý
thuyết và thực tiễn, bản án đƣợc ban hành có thể không phản ánh đầy đủ, đúng
các tình tiết, sự kiện, chứng cứ có trong hồ sơ, tính chân thực trong lời khai báo,
trình bày của đƣơng sự, ngƣời làm chứng. Ngoài ra, việc Toà án chƣa thu thập
đầy đủ chứng cứ, tài liệu cần thiết để giải quyết vụ án, hoặc không còn khả năng
để xác minh làm rõ hơn, tình tiết quan trọng của vụ án, bỏ qua một vài tình tiết
có liên quan đến đánh giá, vận dụng pháp luật nội dung...cũng có thể dẫn tới bản
22
án của Toà án có những sai lầm nghiêm trọng. Nếu chỉ dựa vào bản án, quyết
định thì Viện kiểm sát cấp huyện cũng thiếu dữ liệu cần thiết, không thể đủ cơ sở
tin cậy để phát hiện sai lầm, vi phạm của Toà án. Trên phƣơng diện cải cách tƣ
pháp, nếu yêu cầu tăng cƣờng vai trò của Viện kiểm sát thực hiện chức năng
kiểm sát các hoạt động tƣ pháp thì việc hạn chế quyền hạn của Viện kiểm sát
trong tố tụng dân sự có thể dẫn tới Viện kiểm sát cấp huyện không thể thực hiện
có hiệu quả chức năng của mình.
1.2.3. Trình độ, năng lực của Kiểm sát viên Viện kiểm sát cấp huyện là yếu
tố có ảnh hƣởng đến chất lƣợng kiểm sát án dân sự
Việc nghiên cứu cho thấy kiểm sát án dân sự là một lĩnh vực khá phức tạp
và nhạy cảm, liên quan trực tiếp đến quyền lợi của dân nên đòi hỏi cán bộ làm
công tác này phải am hiểu sâu sắc về chính sách pháp luật về dân sự, hôn nhân
gia đình, thƣơng mại, lao động qua từng thời kỳ lịch sử đồng thời phải nắm vững
quy trình và thủ tục tố tụng tƣ pháp. Do vậy, trình độ, năng lực của Kiểm sát viên
Viện kiểm sát cấp huyện là yếu tố có ảnh hƣởng không nhỏ đến chất lƣợng kiểm
1.3. SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP
LUẬT VIỆT NAM VỀ VIỆC THAM GIA TỐ TỤNG DÂN SỰ CỦA VIỆN
KIỂM SÁT
1.3.1. Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1959
Ngay từ sau cách mạng tháng tám, để xây dựng và củng cố chính quyền
cách mạng non trẻ, Nhà nƣớc ta đã ban hành hàng loạt văn bản pháp luật quy
định về tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nƣớc. Pháp luật Nhà nƣớc ta
trong giai đoạn này quy định về vị trí, chức năng và nhiệm vụ của Công tố viên
trong TTDS nhƣ sau: Trong cuộc cải cách tƣ pháp ở nƣớc ta lần đầu: Sắc lệnh số
13 ngày 24/01/1946 về tổ chức Tòa và các ngạch thẩm phán theo quy định thẩm
phán đƣợc chia thành hai ngạch: Sơ cấp và đệ nhị cấp (trong đó, Thẩm phán ở
ngạch đệ nhị cấp đƣợc chia thành hai loại: Thẩm phán xét xử và Thẩm phán buộc
tội). Công tố viện lúc đó đƣợc ra đời ở Tòa thƣợng thẩm và chịu sự lãnh đạo của
Bộ trƣởng tƣ pháp, đứng đầu Công tố viện và chƣởng lý. Cơ quan công tố không
đƣợc thành lập ở tòa đệ nhị mà chỉ có cán bộ làm công tác biện lý. Trong giai
đoạn này, Thẩm phán buộc tội đã hợp thành một bộ phận độc lập và chịu sự lãnh
đạo của Chƣởng lý. Khi tham gia phiên tòa, “Biện lý ngồi ghế Công tố viên”. Sắc
lệnh số 7/SL ngày 15/1/1946 còn quy định: “Đứng buộc tội, tùy quyết nghị của
Bộ trƣởng Bộ tƣ pháp sẽ là nhân viên của Công tố viện do Chƣởng lý Tòa
thƣợng thẩm chỉ định”. Theo quy định của Sắc lệnh số 51/SL ngày 17/4/1946 thì
24
Công tố viện tham gia TTDS dƣới hình thức, đó là tham gia tố tụng đối với
những vụ án dân sự với tƣ cách là ngƣời thi hành quyền công tố (Điều 22 sắc
lệnh) và khởi tố vụ án dân sự (đứng làm Chánh tố - Điều 41 Sắc lệnh). Nhƣ vậy,
công tố viện bƣớc đầu đƣợc hình thành và nằm trong hệ thống của cơ quan Toà
án với chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật và thực hành quyền công tố
Nhà nƣớc.
Công cuộc cải cách tƣ pháp lần thứ hai: Bắt đầu vào năm 1950, Công tố