MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
3
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG
THÔN HUYỆN PHÚ XUYÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
1.1. Khái niệm kinh tế nông thôn và phát triển kinh tế nông
thôn
1.2. Nội dung phát triển kinh tế nông thôn và các yếu tố ảnh
hưởng tới phát triển kinh tế nông thôn ở huyện Phú Xuyên,
Thành phố Hà Nội
1.3. Vai trò của phát triển kinh tế nông thôn với phát triển kinh
tế - xã hội ở huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội
Chương 2. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG THÔN
11
11
16
27
Ở HUYỆN PHÚ XUYÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1. Đánh giá thành tựu, hạn chế trong phát triển kinh tế nông
thôn ở huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội thời gian qua
2.2 Nguyên nhân của thực trạng và những vấn đề đặt ra cần
33
giải quyết
lãnh đạo đất nước. Trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước hiện nay thì tiến
trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn được coi là một trong những vấn đề
được ưu tiên đặc biệt của Đảng và Nhà nước ta. Việc tập trung đầu tư xây
dựng kết cấu hạ tầng nông thôn, đầu tư phát triển giống mới có năng suất,
chất lượng cao, phát triển các cụm công nghiệp, làng nghề, tiểu thủ công
nghiệp, chương trình xây dựng nông thôn mới đã có tác động tích cực đến
việc sản xuất, tạo việc làm và xóa đói, giảm nghèo, làm thay đổi bộ mặt nông
thôn cả nước trong đó có huyện Phú Xuyên.
Là một huyện ngoại thành, nằm ở phía nam Thủ đô, Phú Xuyên có
nhiều tiềm năng và lợi thế để phát triển kinh tế nông thôn cả về đất đai, thổ
nhưỡng, khí hậu, nguồn nhân lực và truyền thống, kinh nghiệm sản xuất,
kinh doanh. Thực hiện đường lối CNH, HĐH và chương trình xây dựng
nông thôn mới của Đảng và Nhà nước, trong những năm qua, Đảng bộ và
nhân dân huyện Phú Xuyên đã tập trung mọi nguồn lực, kiên trì phấn đấu
đạt được những thành tựu bước đầu nhưng rất quan trọng trong việc phát
triển kinh tế nông thôn, làm thay đổi từng bước bộ mặt của huyện, cải thiện
và nâng cao đời sống vật chất, văn hóa của nhân dân, tạo ra những điều kiện
và tiền đề mới cho sự phát triển tiếp theo của nông thôn, nông nghiệp, nông
dân trên địa bàn huyện.
Tuy nhiên quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa hiện nay đã làm cho
phạm vi kinh tế nông thôn dần bị thu hẹp. Những năm gần đây, việc phát triển
kinh tế nông thôn tại huyện Phú Xuyên phải đối diện với rất nhiều khó khăn,
thách thức khác, nhất là tình trạng nông dân bỏ ruộng để chuyển đổi nghề
3
sang dịch vụ, kinh doanh thương mại, xây dựng... nhưng tình trạng thất
nghiệp vẫn ở mức cao, vẫn còn nhiều bộ phận người dân có đời sống khó
khăn thuộc hộ nghèo và cận nghèo. Đồng thời, việc phát triển kinh tế nông
công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn tại các địa phương ở Việt Nam.
- Nguyễn Đình (1997), Công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn các
nước châu Á và Việt Nam, sách tham khảo, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Tác giả đã nghiên cứu và làm rõ những vấn đề liên quan tới thực trạng tiến
trình thực hiện công nghiệp hóa nông thôn tại các nước Châu Á và Việt Nam
trong thời kỳ những năm 90 của thế kỷ 20.
- Lê Văn Thông (2012), Sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Gia
Lâm, Thành Phố Hà Nội, Luận văn thạc sỹ kinh tế chính trị, Đại học Nông
nghiệp Hà Nội. Ngoài việc hệ thống hóa cơ sở lý luận về sản xuất nông
nghiệp, nghiên cứu này đã chỉ ra rằng nông nghiệp đóng vai trò quan trọng
trong đời sống kinh tế cũng như xã hội của các hộ dân ở huyện Gia Lâm.
Kinh tế nông nghiệp đã góp phần làm tăng thu nhập, đảm bảo nguồn lương
thực cho người dân, đồng thời góp phần giải quyết việc làm, và giải quyết các
vấn nạn xã hội trên địa bàn. Tuy nhiên, trong quá trình quy hoạch đô thị,
nhiều người dân bị thu hồi đất, nảy sinh nhiều vấn đề bất cập và mâu thuẫn
giữa việc CNH-HĐH đất nước và phát triển kinh tế nông nghiệp. Tác giả đã
phân tích và đưa ra các giải pháp nhằm giải quyết các mâu thuẫn nêu trên.
- Nguyễn Văn Tản (2014), Phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn
trên địa bàn huyện Thường Tín - Hà Nội, Luận văn thạc sỹ kinh tế chính trị,
Học viện chính trị - Bộ Quốc phòng. Trong luận văn của mình, tác giả đã hệ
thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về kinh tế nông nghiệp, nông thôn và
phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn. Đồng thời, tác giả đã phân tích
những điều kiện thuận lợi và khó khăn của huyện Thường Tín trong phát triển
kinh tế nông nghiệp, nông thôn. Chương 2, tác giả đã phân tích, đánh giá thực
trạng phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn của huyện Thường Tín thời
5
gian qua và nhận định rõ những vấn đề đặt ra cần giải quyết. Chương 3 của
tế, Đại học Lâm nghiệp Hà Nội. Tác giả luận án đã khái quát cơ sở lý luận về
kinh tế nông nghiệp và phát triển kinh tế nông nghiệp, đồng thời chỉ rõ vai trò
của sản xuất hoa màu trong vấn đề sản xuất nông nghiệp. Tác giả cũng nêu
những điều kiện thuận lợi và khó khăn của huyện Hoài Đức trong sản xuất
nông nghiệp, đồng thời phân tích đánh giá về mô hình thí điểm sản xuất hoa
màu tại một số địa phương trên địa bàn huyện, từ đó đưa ra những thành tựu
và những khó khăn còn tồn tại trong công tác sản xuất hoa màu tại huyện.
- Bùi Hữu Dương (2013), “Phát triển kinh tế nông thôn, hướng đi nào
cho nông dân Việt Nam trong thời kỳ đô thị hóa”, Tạp chí Cộng sản, số 8.
Trong bài viết của mình, tác giả đã phản ánh những bế tắc, hạn chế, khó khăn
trong việc phát triển nông thôn trong khi diện tích đất đai đang bị thu hẹp dần
cho quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa, trong khi giá trị nông sản nhìn
chung là thấp, nhiều người dân bỏ ruộng không tiến hành canh tác, nhưng vẫn
thất nghiệp, nguyên nhân là công sức và chi phí bỏ ra để làm ruộng không
được bù đắp, năng suất thu hoạch về thấp, người dân lỗ thêm trong khi một số
địa phương, công tác thủy lợi và phát triển nông nghiệp trên địa bàn chưa
được quan tâm đúng mức.
- Nguyễn Hữu Tú (2012), “Mô hình VAC trong phát triển kinh tế nông
nghiệp hiện nay”, Báo Mới, số 13. Bài viết đã phần nào nói lên vai trò của
phát triển kinh tế nông nghiệp tại các vùng nông thôn Việt Nam, và đưa ra ưu
điểm, hạn chế của mô hình VAC đối với các hộ gia đình. Mặc dù mô hình
VAC là một mô hình cũ, được khai triển từ rất lâu nhưng rất ít hộ kinh tế
nông nghiệp giữ vững được mô hình này, tác giả phân tích một số nguyên
nhân ảnh hưởng làm cho các hộ gia đình ít áp dụng mô hình VAC, mà nguyên
nhân lớn nhất là do diện tích đất bị thu hẹp, ô nhiễm môi trường, dịch bệnh…
- Phan Công Long (2012), “Năng lực quản lý của chính quyền địa
phương trong việc dồn điền đổi thửa tại các huyện ngoại thành Hà Nội”, Báo
7
Ngoài những công trình khoa học đươc tác giả nêu trên vẫn còn có
nhiều bài báo khoa học, báo cáo nghiên cứu về kinh tế nông thôn và phát triển
kinh tế nông thôn của các tác giả trong và ngoài nước. Tuy nhiên chưa có
công trình nào nghiên cứu vấn đề “Phát triển kinh tế nông thôn ở huyện Phú
Xuyên, Thành phố Hà Nội” dưới góc độ khoa học kinh tế chính trị như một
công trình nghiên cứu chuyên ngành. Vì vậy, đây là một “khoảng trống” khoa
học để tác giả quyết định lựa chọn vấn đề trên làm đề tài luận văn thạc sĩ.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
* Mục đích nghiên cứu
Luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn của phát triển kinh tế nông thôn ở
huyện Phú Xuyên. Trên cơ sở đó đề xuất những phương hướng và giải pháp
nhằm phát triển kinh tế nông thôn gắn liền với CNH –HĐH ở huyện Phú
Xuyên trong thời gian tới.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ nội dung phát triển kinh tế nông thôn của huyện Phú Xuyên
và vai trò của nó trong phát triển trên các mặt của đời sống kinh tế, xã hội trên
địa bàn huyện.
- Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển kinh tế nông thôn của huyện
Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội trong thời gian qua, tìm ra các nguyên nhân và
những vấn đề cần tiếp tục giải quyết.
- Đề xuất những phương hướng và giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế
nông thôn gắn liền với CNH, HĐH của huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội
trong thời gian tới.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
* Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu làm rõ sự phát triển kinh tế nông thôn trên địa bàn huyện
vùng ngoại thành thủ đô.
* Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội.
9
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG THÔN HUYỆN PHÚ
XUYÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
1.1. Khái niệm kinh tế nông thôn và phát triển kinh tế nông thôn
1.1.1. Khái niệm nông thôn
Việt Nam là một đất nước có nền văn minh lúa nước, nền kinh tế quốc
gia xuất phát từ kinh tế nông nghiệp, nông thôn. Theo thống kê đến cuối năm
2013, tỷ lệ dân cư sống ở nông thôn Việt Nam là 69,30% [43, tr. 112]. Vì thế
cuộc sống và tổ chức nông thôn ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến toàn xã hội.
Nông thôn là vùng đất đai, khí hậu, thổ nhưỡng với một cộng đồng dân
cư chủ yếu làm nông nghiệp (nông, lâm, ngư nghiệp), cơ sở hạ tầng kém phát
triển, trình độ văn hoá, khoa học kĩ thuật, trình độ sản xuất hàng hoá và thu
nhập, mức sống của dân cư thường thấp hơn đô thị.
Theo quan niệm truyền thống, nông thôn là khái niệm dùng để chỉ một
địa bàn mà ở đó sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn và gắn liền với nó là
dân cư mà đại bộ phận là nông dân. Nông thôn có thể được xem xét trên
nhiều góc độ về kinh tế, chính trị, văn hoá…
Theo giáo trình kinh tế chính trị Mác - LêNin cho rằng: Nông thôn là
khái niệm dùng để chỉ phần lãnh thổ của một nước hay của một đơn vị
hành chính mà ở đó sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn, dân cư chủ
yếu làm nông nghiệp. Trong đó, nông nghiệp theo nghĩa hẹp là ngành sản
xuất ra của cải vật chất mà con người phải dựa vào quy luật sinh trưởng
của cây trồng, vật nuôi để tạo ra sản phẩm như lương thực, thực phẩm... để
thoả mãn các nhu cầu của mình.
Nông nghiệp theo nghĩa rộng, là tổ hợp các ngành gắn liền với các quá
trình sinh học bao gồm cả trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp (trồng và khai
thác bảo vệ tài nguyên rừng), ngư nghiệp (đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản).
11
12
là một sự phát triển tổng hợp, đa ngành nghề, với những biến đổi quan trọng
trong phân công lao động xã hội ngay tại khu vực nông thôn, do đó tạo ra
những lực lượng sản xuất mới mà nền nông nghiệp truyền thống trước đây
chưa từng biết đến.
Kinh tế nông thôn trước hết có nông, lâm và ngư nghiệp đảm bảo nhu
cầu về lương thực, thực phẩm cho xã hội, nguyên liệu cho công nghiệp chế
biến, sản xuất ra các sản phẩm hàng hoá cho thị trường trong và ngoài nước.
Kinh tế nông thôn nhất thiết phải có công nghiệp gắn với nông, lâm,
ngư nghiệp, trước hết là công nghiệp chế biến. Cùng với sự phát triển của
kinh tế nông thôn, công nghiệp ở nông thôn không chỉ dừng lại ở khâu công
nghiệp chế biến mà còn có thể phát triển những ngành công nghiệp phục vụ
đầu vào của sản xuất nông nghiệp như công nghiệp cơ khí sửa chữa máy móc
nông nghiệp, thuỷ lợi… Công nghiệp ở nông thôn còn bao gồm một bộ phận
tiểu thủ công nghiệp với các công nghệ trình độ khác nhau, sản xuất các hàng
hoá phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Nh vậy, công nghiệp ở nông
thôn là làm cho công nghiệp và nông nghiệp kết hợp ngay tại chỗ thành cơ
cấu ngành nghề.
Kinh tế nông thôn ngoài nông, lâm, ngư nghiệp và công nghiệp còn có
các loại hình dịch vụ thương nghiệp, tín dụng, khoa học công nghệ và tư
vấn… Các loại hình dịch vụ này cùng với các cơ sở hạ tầng ở nông thôn
(điện, đường, trường, trạm…) sẽ là những bộ phận hợp thành của kinh tế
nông thôn và sự phát triển mạnh mẽ và hợp lý của chúng là biểu hiện trình độ
phát triển của kinh tế nông thôn.
Kinh tế nông thôn là một cơ cấu kinh tế nhiều thành phần. Nền kinh tế
quốc dân có bao nhiêu thành phần kinh tế thì kinh tế nông thôn cũng có bấy
nhiêu. Tuy nhiên, các bộ phận kinh tế trong kinh tế nông thôn sẽ có những
xuất khẩu. Sự phát triển của công nghiệp nông thôn cũng phải chú ý ngay từ
đầu bảo vệ môi trường, thực hiện công nghệ sạch bằng các giải pháp thích
hợp với tình trạng nghèo vốn và công nghệ, làm cho cả công nghiệp và nông
nghiệp đều sạch.
14
Công nghiệp chế biến trong kinh tế nông thôn tất nhiên cần những vùng
nông nghiệp tập trung sản xuất chuyên canh nguyên liệu. Nhưng vùng tập
trung chuyên canh vẫn phải có cơ cấu hợp lý phù hợp với điều kiện sinh thái,
thổ nhưỡng… không loại bỏ mà dung nạp được hệ thống VAC trong nông
nghiệp, hệ thống này vốn là từ truyền thống nông nghiệp Việt Nam và ngày
nay đang trở thành một xu hướng hiện đại trong nông nghiệp thế giới.
1.1.3. Phát triển kinh tế nông thôn
Phát triển là khuynh hướng vận động đã xác định về hướng của sự vật:
hướng đi lên từ thấp đến cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn. Như vậy,
phát triển được hiểu là một quá trình lớn lên, tăng tiến mọi lĩnh vực. Bất cứ
trong lĩnh vực nào, sự phát triển đều thỏa mãn các thành tố như: sự tăng lên
về cả chất và lượng; sự thay đổi về cơ cấu, thể chế, chủng loại, tổ chức; sự
thay đổi về thị trường; và giữ công bằng xã hội, an ninh, trật tự.
Theo đó, phát triển kinh tế có thể được hiểu là quá trình tăng tiến về
mọi mặt của nền kinh tế, bao gồm cả việc gia tăng sản lượng, chất lượng sản
phẩm, hiệu quả sản xuất kinh doanh và chuyển dịch cơ cấu kinh tế - xã hội
theo hướng tiến bộ và nâng cao chất lượng cuộc sống của con người.
Như vậy, phát triển kinh tế nông thôn được hiểu là sự phát triển tổng
hợp các ngành nghề kinh tế trên một vùng đất hay một vùng lãnh thổ nhất
định. Phát triển kinh tế nông thôn gồm các ngành nông, lâm, ngư nghiệp,
công nghiệp, phi nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp, dịch vụ.
Phát triển KTNT ở nước ta trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá,
dân nông thôn, bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái, môi trường xã hội.
1.2. Nội dung phát triển kinh tế nông thôn và các yếu tố ảnh hưởng
tới phát triển kinh tế nông thôn ở huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội
1.2.1. Nội dung phát triển kinh tế nông thôn ở huyện Phú Xuyên,
Thành phố Hà Nội
Từ khái niệm phát triển kinh tế nông thôn ở huyện Phú Xuyên đưa ra ở
trên, có thể hiểu rằng phát triển kinh tế nông thôn ở huyện Phú Xuyên việc
phát triển, chuyển dịch cơ cấu các ngành nghề, các lĩnh vực kinh tế trên địa
16
bàn nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đồng thời, áp dụng
khoa học kỹ thuật văn minh, tiến bộ vào phát triển kinh tế nông thôn, nâng
cao trình độ dân trí, xóa đói giảm nghèo, an sinh xã hội. Như vậy, xuất phát từ
khái niệm trên, nội dung phát triển kinh tế nông thôn ở huyện Phú Xuyên bao
gồm các vấn đề sau:
Thứ nhất, chuyển dịch cơ cấu các ngành kinh tế nông thôn theo hướng
công nghiệp hóa hiện đại hóa
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là nhiệm vụ trọng tâm trong suốt cả thời
kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Trong quá trình phát triển kinh tế
nói chung và kinh tế nông thôn nói riêng, Đảng ta cũng đã xác định phát triển
nông nghiệp theo hướng bền vững, được khẳng định rõ trong nội dung CNH,
HĐH nông thôn trong Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX về "Đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn thời kỳ 2001 - 2010” và
chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2006 - 2010 do Nghị quyết Đại hội Đảng
lần thứ X đề ra, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 do nghị
quyết Đại hội Đảng lần thứ XI đề ra và căn cứ vào định hướng chiến lược
phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam),
cũng như đặc điểm riêng của từng địa phương, trong đó có huyện Phú
Xuyên.
hiện tập trung ở những lĩnh vực sau:
- Cơ giới hóa: Các hoạt động sản xuất ở nông thôn huyện Phú Xuyên
chủ yếu dựa vào lao động thủ công, kỹ thuật lạc hậu, do đó năng suất lao
động và chất lượng sản phẩm rất thấp. Cơ giới hóa là cơ giới hóa sản xuất
nông nghiệp vừa giảm nhẹ lao động của con người, vừa nhằm nâng cao năng
suất và hiệu quả. “Cơ giới hóa nông nghiệp phải tập trung vào những khâu lao
động nặng nhọc và những khâu ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm
và hiệu quả sản xuất kinh doanh” [51, tr. 7].
18
- Thủy lợi hóa: Sản xuất nông nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào tự nhiên.
Phú Xuyên là huyện có khí hậu nhiệt đới do đó hạn hán và lũ lụt thường
xuyên xảy ra. Để hạn chế tác động tiêu cực của thiên nhiên, việc xây dựng hệ
thống thủy lợi để chủ động tưới tiêu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
- Phát triển công nghệ sinh học: Đây là lĩnh vực khoa học và công
nghệ mới bao gồm nhiều ngành khoa học, di truyền học, hóa sinh học. Trong
những năm gần đây, công nghệ sinh học đã được những thành tựu to lớn :
những nông phẩm biến đổi gien có năng suất và chất lượng rất cao; lai tạo
được những cây trồng có khả năng kháng vi rút, sâu bệnh sinh sản vô tính ...
Những thành tựu của công nghệ sinh học đã đem lại những lợi ích to lớn cho
huyện Phú Xuyên, không chỉ tạo ra những sản phẩm mới mà còn tiết kiệm
được tài nguyên và bảo vệ được môi trường. Phát triển công nghệ sinh học là
đòi hỏi tất yếu của nền nông nghiệp hiện đại.
Huyện Phú Xuyên nằm trong vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng,
kinh tế nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế của huyện.
Người dân chủ yếu sống bằng nghề trồng lúa nước. Từ chỗ chỉ sản xuất được
một vụ chính trong năm, rồi tăng dần lên 2 vụ, một vụ đông, đời sống của
người nông dân vẫn rất khó khăn. Vì vậy, cùng với việc CNH, HĐH nông
không chỉ phải tính đến trình độ đầu vào, ưu đãi về tài chính cho khu vực
nông nghiệp nông thôn... mà còn phải tính tới nhu cầu về số lượng, chất
lượng, cơ cấu lao động được đào tạo trong hiện tại và tương lai.
Huyện Phú Xuyên có dân số gần 20 vạn người, tỷ lệ người lao động
trong khu vực sản xuất nông nghiệp chiếm 60% tổng số lao động; bình quân
mỗi năm tăng thêm khoảng 2000 lao động [54, tr. 6]. Như vậy, tỷ trọng lực
lượng lao động của huyện chủ yếu làm trong lĩnh vực nông nghiệp, còn lại là
trong các lĩnh vực như tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp, thương mại, dịch
vụ...và các ngành nghề khác. Huyện cần có chính sách phát triển kinh tế nông
thôn cụ thể, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH từ đó kéo
20
theo sự chuyển dịch cơ cấu lao động. Giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ
trọng các thành phần kinh tế khác dẫn đến sự chuyển dịch tỷ lệ lao động từ
nông nghiệp sang công nghiệp, thương mại, dịch vụ.... từng bước nâng cao
dân trí, mức sống của người dân trên địa bàn huyện.
Thứ tư, xây dựng nông thôn mới và giải quyết tốt các mối quan hệ giữa
phát triển kinh tế và tiến bộ xã hội ở nông thôn trên địa bàn huyện
- Phát triển kinh tế nông nghiệp gắn liền với giải quyết công ăn việc
làm cho người dân, xóa đói giảm nghèo. Xóa đói giảm nghèo là chủ trương
lớn, nhất quán của Đảng, Nhà nước và là sự nghiệp của toàn dân. Trên thực tế
nước ta hiện nay, tình trạng nghèo đói tồn tại chủ yếu ở vùng nông thôn, trong
đó có huyện Phú Xuyên. Chiếm phần lớn trong số những người thuộc diện
nghèo đói là những người tham gia vào hoạt động sản xuất nông nghiệp. Đối
với nền nông nghiệp truyền thống lạc hậu, tốc độ tăng trưởng thấp rất khó có
thể giải quyết được vấn đề đói nghèo. Trong khi đó, việc phát triển một nền
nông nghiệp theo hướng bền vững sẽ đảm bảo được các mục tiêu tăng trưởng
ổn định và hiệu quả. Thực hiện các mục tiêu trên sẽ là cơ sở giải quyết vấn đề
thải trên địa bàn mới đạt khoảng 70% [56, tr. 9].
Như vậy, vấn đề phát triển kinh tế nông thôn trên địa bàn huyện cần
gắn với việc phát triển và hoàn thiện hệ thống hạ tầng kĩ thuật. Một nền tảng
cơ sở hạ tầng tốt, khang trang cũng sẽ tác động tích cực giúp cho kinh tế nông
thôn dễ dàng phát triển thuận lợi hơn.
1.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng tới phát triển kinh tế nông thôn ở huyện
Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội
Một là, yếu tố về vốn
Đây là yếu tố không thể thiếu để đầu tư xây dựng cũng như phát triển
trang thiết bị, công nghệ cho quá trình phát triển kinh tế nông thôn. Các
nguồn vốn có thể huy động cho phát triển kinh tế nông thôn bao gồm vốn của
các hộ gia đình tại nông thôn; vốn của các hộ gia đình ở thành thị đầu tư về
22
nông thôn; vốn của các doanh nghiệp; vốn tín dụng ngân hàng; vốn đầu tư của
Nhà nước vốn nước ngoài.
Tuy nhiên, cơ chế chính sách huy động các nguồn vốn và cơ cấu đầu tư
của Nhà nước vào khu vực nông thôn thời gian qua trong đó có huyện Phú
Xuyên còn hạn chế, vốn đầu tư ngân sách nhà nước chưa đủ để cải thiện tình
hình kinh tế nông thôn hiện nay nói chung và huyện Phú Xuyên nói riêng.
Hai là, yếu tố về trình độ lao động
Để có thể phát triển kinh tế nông thôn tốt thì đòi hỏi lực lượng lao động
phải có trình độ chuyên môn, kỹ thuật, tay nghề nhất định và được bố trí sử
dụng hợp lý để thực hiện các hoạt động các ngành nghề kinh tế.
Lao động trong kinh tế nông thôn là tổng thể sức lao động tham gia vào
sản xuất nông nghiệp và trong các lĩnh vực khác thuộc thành phần kinh tế như
tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp, thương mại, dịch vụ… nó bao hàm cả về
số lượng và chất lượng của người lao động. Về số lượng, lao động làm kinh tế
công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp. Huyện Phú Xuyên có 158 làng, khu dân
cư, trong đó hầu hết các làng, khu dân cư đều có nghề. Toàn huyện có 38 làng
đã được công nhận làng nghề truyền thống và 32 làng có đủ 2 tiêu chí để
được công nhận là làng nghề [50, tr. 4].
Năm là, yếu tố trình độ khoa học công nghệ
Trình độ khoa học công nghệ được phản ánh bằng thực trạng cơ khí
hóa, tự động hóa, hóa học hóa, công nghệ sinh học và kỹ năng quản lý...
Trong các hoạt động sản xuất và dịch vụ. Muốn phát triển kinh tế nông thôn
cần phải hết sức coi trọng việc đào tạo, nâng cao trình độ khoa học công nghệ
cho người lao động tới một trình độ nhất định mới có khả năng tiếp nhận
chuyển giao công nghệ.
Hiện nay, trong lĩnh vực nông thôn tại huyện có rất nhiều biện áp khoa
học kỹ thuật được áp dụng, cơ giới hóa nông nghiệp như áp dụng máy cấy,
máy gặt, sử dụng các loại giống lúa và hoa màu mới năng suất cao, trong lĩnh
24
vực trồng trọt, chăn nuôi thì sử dụng công nghệ sinh học để có những giống
cây trồng, vật nuôi cho năng suất cao, chất lượng đem lại hiệu quả kinh tế.
Tiêu biểu là xã Đại Thắng, xác định công tác tổ chức sản xuất, đưa tiến
bộ kỹ thuật mới vào sản xuất, nâng cao thu nhập cho nông dân là những mục
tiêu trọng tâm trong xây dựng nông thôn mới, ngay từ những ngày đầu, dưới
sự chỉ đạo của UBND huyện Phú Xuyên, xã Đại Thắng đã thực hiện đúng với
nội dung Đề án xây dựng nông thôn mới (NTM) của Thành ủy Hà Nội. Để tạo
điều kiện trong chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn và đưa cơ
giới hóa vào sản xuất nông nghiệp được thuận lợi, nhằm tăng năng suất, giảm
bớt sức lao động của nông dân, xã Đại Thắng đã thực hiện phương án dồn điền
đổi thửa từ ô thửa nhỏ thành ô thửa lớn. Đến nay, công tác dồn điền đổi thửa
100% diện tích đất sản xuất nông nghiệp đã thực hiện thành công, tạo nền tảng
của Đảng, pháp luật của Nhà nước liên quan đến các ngành kinh tế nông thôn,
về thị trường đầu vào, đầu ra cho sản xuất nông nghiệp góp phần mang lại
hiệu quả sản xuất cao nhất cho nông dân.
Như vậy, việc tăng cường đầu tư cho việc nâng cấp công trình, đổi
mới thiết bị kỹ thuật của các trung tâm bưu điện, liên lạc ở các xã, thị trấn trên
địa bàn huyện là điều cần thiết; đồng thời mở rộng hệ thống thông tin xuống
tận cấp xã, thôn, xóm làm cho nông dân được tiếp cận thông tin về thị trường,
giá cả nhanh nhất. Mặt khác, các cấp chính quyền địa phương và các hiệp hội
ngành nghề cần có sự hỗ trợ trong việc cung cấp các thông tin về các mặt kinh
tế, văn hóa, xã hội, đặc biệt các thông tin về thị trường nông sản và công nghệ
phục vụ sản xuất nông nghiệp để giúp hộ nông dân và các trang gia, trang trại
sản xuất nâng cao kiến thức và nắm bắt kịp thời những thông tin về kinh tế thị
trường, điều chỉnh sản xuất theo yêu cầu thị trường.
Bảy là, cơ chế chính sách của Nhà nước
Thể chế luật pháp có ảnh hưởng lớn tới tốc độ phát triển của việc phát
triển kinh tế nông thôn. Đối với khu vực nông thôn, trong đó có huyện Phú
Xuyên, các chính sách liên quan trực tiếp đến phát triển kinh tế nông thôn có
26