LUẬN văn THẠC sĩ KINH tế CHÍNH TRỊ QUẢN lý NGÂN SÁCH NHÀ nước cấp xã ở HUYỆN HOÀI đức, THÀNH PHỐ hà nội - Pdf 42

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ

3

QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CẤP XÃ
Những vấn đề chung về ngân sách nhà nước cấp xã
Nội dung, yêu cầu về quản lý ngân sách nhà nước cấp xã
Kinh nghiệm quản lý ngân sách nhà nước cấp xã của một số

12
12
22

địa phương
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

34

1.1
1.2
1.3

CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HOÀI ĐỨC, THÀNH
PHỐ HÀ NỘI
Đặc điểm kinh tế - xã hội của huyện Hoài Đức
Thành tựu và hạn chế công tác quản lý ngân sách nhà nước

42
42

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

70
83

PHỤ LỤC

87

85


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nền tài chính quốc gia của nước ta đã và đang được đổi mới một cách
toàn diện trong sự chuyển đổi sâu sắc của cơ chế quản lý kinh tế. Trong cơ
chế quản lý kinh tế mới, Tài chính là tổng hòa các mối quan hệ kinh tế, là
tổng thể các nội dung và giải pháp tài chính tiền tệ. Tài chính không chỉ có
nhiệm vụ khai thác các nguồn lực, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tăng doanh
thu mà còn phải tăng cường quản lý và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực,
mọi nguồn tài nguyên của đất nước. Hoạt động tài chính cần phải được quản
lý bằng luật pháp, bằng các công cụ và biện pháp, giải pháp có hiệu lực trong
một khuôn khổ pháp lý rõ ràng, lành mạnh.
Từ khi thực hiện Luật Ngân sách nhà nước năm 2002 đến nay, Luật
Ngân sách nhà nước mới đã chứng tỏ được tính khoa học, hiệu quả và phù
hợp thực tiễn với vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế. Tuy nhiên, mặc dù
Chính phủ và chính quyền địa phương đã có nhiều nỗ lực để nâng cao hiệu
quả phân bổ và sử dụng nguồn tài chính công nhưng kết quả đạt được chưa
cao. Nhiều địa phương đã không thực hiện tốt những nội dung mà Luật Ngân
sách quy định, đặc biệt là công tác lập dự toán, quyết toán và thực hiện việc

Hoài Đức là huyện nằm ở phía Nam của thủ đô Hà Nội, cách trung tâm
thành phố khoảng 15 km với vị trí địa lý thuận lợi này Hoài Đức đã trở thành
một cửa ngõ quan trọng của thủ đô với nhiều huyết mạnh giao thông quan
trọng như Đại lộ Thăng Long, Quốc lộ 32, Các trục tỉnh lộ 422,423 và nhiều
dự án đang thực hiện như đường vành đai 3.5, đường vành đai 4...Trong
những năm qua với những thuận lợi và khó khăn đan xen tốc độ đô thị hóa
nhanh theo quy hoạch kinh tế xã hội của thủ đô đến năm 2020 thì trên 50%
đơn vị hành chính của huyện trở thành khu đô thị, tình tình hình kinh tế - xã
hội của huyện đã có những bước phát triển nhanh và khá vững chắc. Điều này
đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý và điều hành ngân sách của huyện

4


trong những năm gần đây đã dần đi vào nề nếp, các xã, thị trấn đã rất quan
tâm thực hiện theo các quy định về quản lý tài chính.
Tuy nhiên, thực tế công tác quản lý ngân sách cấp xã vẫn còn nhiều tồn
tại thiếu sót, bất cập như: Chưa khai thác hết nguồn thu trên địa bàn đối với
các khoản thu tại xã, chưa chủ động nuôi dưỡng nguồn thu, một số xã thu
chưa đúng quy định như đấu thầu đất công vượt thẩm quyền ( Nhiều năm, thu
một lần dẫn đến rất khó khăn về ngân sách cho các năm tiếp theo), tình trạng
nợ đọng đầu tư xây dựng cơ bản kéo dài, nhưng không có giải pháp bố trí
nguồn thanh toán, công tác điều hành chi ngân sách chưa tốt, chưa quản lý
chính xác từng nguồn ngân sách, chưa phân định rõ ràng từng nhiệm vụ chi
dẫn đến chi sai nguồn, chi cho các nhiệm vụ không có trong dự toán nhưng
không bổ sung..
Từ những lý do trên, vấn đề: “Quản lý ngân sách nhà nước cấp xã ở
huyện Hoài Đức, Thành Phố Hà Nội” được chọn làm đề tài luận văn thạc sĩ.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Quản lý ngân sách nhà nước là một trong những nội dung quan trọng

hưởng đến quản lý ngân sách nhà nước. Trên cơ sở đó, luận án đã làm rõ thực
trạng về hiệu quả quản lý ngân sách nhà nước tỉnh An Giang và đề ra các giải
pháp nâng cao hiệu quả quản lý ngân sách nhà nước ở tỉnh An Giang.
- "Một số giải pháp nâng cao công tác quản lý ngân sách xã trên địa
bàn tỉnh Bắc Kạn" Luận văn thạc sĩ kinh tế của Hoàng Thị Yến, Học viện Tài
chính năm 2009. Tác giả luận văn đã làm rõ những lý luận chung về ngân
sách cấp xã như, quá trình hình thành; nội dung thu, chi ngân sách xã; vai trò
ngân sách xã đối với sự phát triển kinh tế xã hội và làm rõ sự cần thiết nâng
cao công tác quản lý ngân sách xã. Trên cơ sở đó tác giả đã làm rõ những
những mặt đạt được, hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân của công tác quản lý
ngân sách xã trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn. Từ đó, tác giả đề xuất những giải
pháp nâng cao công tác quản lý ngân sách xã trên địa bàn tỉnh, tập trung vào
giải pháp tăng nguồn thu và thực hiện chi hợp lý, hiệu quả.
- "Quản lý ngân sách cấp xã, phường trên địa bàn quận Hoàng Mai,
thành phố Hà Nội" Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Tuấn Anh, Học viện

6


chính trị - hành chính quốc gia Hồ Chí Minh năm 2012. Tác giả luận văn đã
hệ thống hóa cơ sở lý luận về ngân sách cấp xã, phường, quản lý ngân sách
cấp xã, phường như, khái niệm, đặc điểm, vị trí vai trò và nội dung quản lý,
các nhân tố tác động. Trên cơ sở đó tác giả phân tích, làm rõ thực trạng quản
lý ngân sách cấp xã, phường trên địa bàn quận Hoàng Mai giai đoạn 2009 2011. Qua việc phân tích thực trạng để đánh giá những ưu, nhược điểm,
những hạn chế tồn tại trong quản lý và điều hành ngân sách cấp xã, phường
trên địa bàn quận Hoàng Mai. Nghiên cứu các nguyên nhân chủ yếu dẫn đến
những hạn chế trong quản lý ngân sách xã, phường trên địa bàn quận Hoàng
Mai. Tác giả đề xuất các giải pháp để hoàn thiện quản lý ngân sách cấp xã,
phường trên địa bàn quận Hoàng Mai, nhằm góp phần ổn định và phát triển
kinh tế xã hội ở cơ sở.

cần thiết, yêu cầu, huy động mọi nguồn lực vào đầu tư phát triển cho xã
hội và thấy được vai trò quan trọng của ngân sách nhà nước trong việc mở
đường, hướng dẫn, giữ vai trò chủ đạo để đầu tư phát triển; làm rõ sự cần
thiết phải quản lý ngân sách đầu tư cho phát triển để đảm bảo hiệu quả.
Trên cơ sở đó tác giả đánh giá thực trạng quản lý đầu tư phát triển từ ngân
sách nhà nước trên địa bàn thành phố Hà Nội, là rõ những thành tựu, hạn
chế, nguyên nhân những yếu kém trong công tác quản lý đầu tư phát triển
từ ngân sách nhà nước trên địa bàn thành phố Hà Nội. Từ đó, đề xuất
những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả quản lý đầu tư phát
triển từ ngân sách nhà nước ở Hà Nội những năm tiếp theo.
- Quản lý chi ngân sách nhà nước trong đầu tư xây dựng cơ bản trên
địa bàn tỉnh Bình Định,Luận án Tiến sĩ kinh tế của tác giả Trịnh Thị Thúy
Hồng, 2012. Tác giả làm rõ vai trò của quản lý NSNN trong đầu tư xây dựng
cơ bản và đưa ra các chỉ tiêu đánh giá, quản lý chi NSNN trong đầu tư xây
dựng cơ bản; Kết quả chi, hiệu quả chi NSNN; Khảo sát chu trình quản lý
NSNN trong đầu tư xây dựng cơ bản từ khâu lập dự toán, chấp hành dự toán,
quyết toán cho đến khâu kiểm tra, thanh tra, đánh giá các chương trình. Các

8


phân tích về thực trạng quản lý chi NSNN trong đầu tư xây dựng cơ bản trên
địa bàn tỉnh Bình Định cho thấy được điểm mạnh nhất, yếu nhất trong từng
khâu của chu trình quản lý chi NSNN trong đầu tư xây dựng cơ bản trên địa
bàn tỉnh, các nguyên nhân dẫn đến hạn chế trong quản lý chi NSNN trong đầu
tư xây dựng cơ bản. Từ đó tác giả đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường
quản lý chi NSNN trong đầu tư xây dựng cơ bản trên địa bàn tỉnh Bình Định.
Trong các công trình này, các tác giả đã đề cập về phân cấp quản lý
ngân sách nhà nước nói chung và quản lý ngân sách xã, phường nói riêng
tại từng địa phương.

4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Các khâu trong quy trình quản lý Thu – Chi ngân sách nhà nước cấp xã
của 20 xã, thị trấn trên địa bàn huyện Hoài Đức: Từ quản lý lập dự toán, quản
lý chấp hành dự toán, quản lý quyết toán ngân sách nhà nước cấp xã.
* Phạm vi nghiên cứu
Không gian nghiên cứu.
Đề tài tập trung nghiên cứu, phân tích, so sánh, đánh giá về thực trạng
và kết quả quản lý thu - chi Ngân sách Nhà nước cấp xã trên địa bàn huyện
Hoài Đức, thành phố Hà Nội
Nội dung nghiên cứu
Quản lý thu -chi ngân sách Nhà nước cấp xã trên địa bàn huyện Hoài
Đức, thành phố Hà Nội
Thời gian nghiên cứu
Số liệu thứ cấp chủ yếu thu thập từ năm 2010 đến năm 2014.
Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 11/2014 đến tháng 6/2015.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp luận
- Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam,

10


những vấn đề cơ bản của kinh tế chính trị trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội; Đồng thời kết hợp quan điểm đường lối của Đảng, chính sách và pháp
luật của Nhà nước về Ngân sách Nhà nước cấp xã. Để phân tích, luận giải.
- Tiếp thu có chọn lọc các kết quả nghiên cứu của các tác giả trong và
ngoài nước để vận dụng vào hoàn cảnh cụ thể về quản lý ngân sách nhà nước
cấp xã ở huyện Hoài Đức
* Phương pháp nghiên cứu

Chính từ việc đặt định và quản lý làng xã từ thời xa xưa, thực thể làng xã và
văn minh làng xã đã hình thành: Từ quá trình định cư và cộng cư của người
Việt lấy trồng trọt là nông nghiệp lúa nước làm chủ lực, Nhà nước qua các
triều đại phong kiến đến đô hộ của phong kiến Trung Quốc hàng ngàn năm
lịch sử, trong đó các vấn đề thu- chi ngân sách - thuế khóa tiền tệ… trong lịch
sử là một trong những đặc trưng quan trọng của làng xã và văn minh làng xã.
Theo nhà sử học Lê Văn Lan, NSX ở Việt Nam có quá trình phát triển
từ rất lâu đời. Trong bản hương ước ngày trước có ghi: “ Nước có thuế nước
như: thuế đinh điền, môn bài để chi công việc công ích trong nước. Dân phải
đóng thuế ở dân như thuế trâu, bò, ngựa, nhà cửa để lo công việc cho dân”.
Thuật ngữ và khái niệm “dân” ở đây chính là dùng cho làng xã.
Câu văn cổ này chính là một tuyên ngôn cho sự ra đời và tồn tại của
NSNN cấp xã trong xã hội và văn minh làng xã ngày xưa. Với lý do: làng xã
là một đơn vị có tính tự tôn - tự trị - tự quản cao, nên cũng cần phải có quỹ
làng xã, sự ra đời và tồn tại “Ngân sách” hiển nhiên là một tất yếu truyền
thống.
Đến nay theo luật ngân sách nhà nước (NSNN) năm 2002 và các văn
bản hướng dẫn thực hiện ( NĐ số 60/2003/NĐ – CP ngày 06/06/2003 của
Chính Phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành luật NSNN; thông tư số
59/2003/TT – BTC ngày 23/06/2003 của Bộ tài chính hướng dẫn thực hiện

12


nghị định số 60/2003/NĐ – CP). NSNN cấp xã là một bộ phận của NSNN, là
hệ thống các mối quan hệ kinh tế giữa chính quyền nhà nước cấp xã với nhân
dân phát sinh trong quá trình huy động và sử dụng các nguồn tài chính nhằm
đảm bảo yêu cầu thực hiện các chức năng quản lý, điều hành nền kinh tế - xã
hội trên địa bàn xã. NSNN cấp xã là Ngân sách của chính quyền nhà nước cấp
xã, do ủy ban nhân dân xã xây dựng, quản lý, điều hành, được hội đồng nhân

giữa Nhà nước với các chủ thể trong xã hội được thể hiện qua các khoản thu,
chi của NSNN.
Như vậy, hệ thống các quan hệ tài chính gắn với việc tạo lập và sử
dụng các quỹ NSNN tạo nên bản chất kinh tế của NSNN và bản chất kinh tế
của NSNN được thể hiện thông qua các mối quan hệ chủ yếu: quan hệ kinh tế
giữa NSNN với khu vực doanh nghiệp; quan hệ kinh tế giữa NSNN với các
cơ quan nhà nước, cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam, các tổ chức chính trị xã hội, các nhiệm vụ về quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội phát sinh
trong quá trình phân phối lại các khoản thu nhập; quan hệ kinh tế giữa NSNN
với các tầng lớp dân cư, quan hệ kinh tế giữa NSNN với thị trường tài chính.
Các biểu hiện của NSNN mặc dù rất đa dạng và phong phú, nhưng thực chất
chúng phản ánh những nội dung cơ bản đó là:
Thứ nhất, NSNN là phạm trù kinh tế khách quan nhưng được sử dụng
theo ý định chủ quan của nhà nước.
Thứ hai, xét về nội dung vật chất thì NSNN là quỹ tiền tệ tập trung lớn
nhất của Nhà nước, do Nhà nước quản lý, sử dụng.
Thứ ba, xét về nội dung quản lý thì NSNN là kế hoạch tài chính cơ bản
của Chính Phủ, được thể trong một thời kỳ (thường là một năm), có 3 đặc
trưng: tính dự toán, tính cân đối và tính thời hạn.
Thứ tư, xét về pháp lý thì NSNN là một đạo luật tài chính.
Thứ năm, quy mô của NSNN quyết định bởi hoạt động của nền kinh tế
quốc dân.
Từ đó, có thể đi đến kết luận: Bản chất của NSNN là tổng thể các mối
quan hệ kinh tế được phát sinh trong quá trình phân phối bằng giá trị tổng sản

14


phẩm xã hội và thu nhập quốc dân để hình thành quỹ tiền tệ tập trung nhằm
thực hiện các chức năng nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước
trong một thời kỳ nhất định, thường là một năm.

theo nhiệm vụ quyền hạn của Luật Ngân sách nhà nước quy định. Tuy nhiên,
điểm khác biệt giữa NSNN cấp xã với các cấp ngân sách khác trong hệ thống
Ngân sách nhà nước, đó là: NSNN cấp xã vừa là một cấp ngân sách lại vừa là
một đơn vị dự toán ngân sách.
1.1.2. Khái niệm, đặc điểm ngân sách nhà nước cấp xã
* Khái niệm ngân sách nhà nước
NSNN là một phạm trù kinh tế; là một bộ phận trong hệ thống tài chính
quốc gia. Sự hình thành và phát triển của NSNN gắn liền với sự xuất hiện và
phát triển của nhà nước. Sự ra đời của nhà nước và sự tồn tại của kinh tế hàng
hóa - tiền tệ là những tiền đề cho sự phát sinh, tồn tại và phát triển của NSNN.
Luật NSNN của Việt Nam quy định: NSNN là toàn bộ các khoản thu,
chi của Nhà nước trong dự toán đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền
quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức
năng và nhiệm vụ của nhà nước.
NSNN có thể hiểu là một kế hoạch tài chính quốc gia bao gồm chủ yếu
các khoản thu và chi của Nhà nước được mô tả dưới hình thức cân đối bằng
giá trị tiền tệ. Phần thu thể hiện các nguồn tài chính được huy động vào
NSNN; phần chi thể hiện chính sách phân phối các nguồn tài chính đã huy
động được để thực hiện mục tiêu KTXH, an ninh, quốc phòng. NSNN được
lập và thực hiện cho một thời gian nhất định, thường là một năm và được
Quốc hội phê chuẩn thông qua.
NSNN là quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước. Quỹ này thể hiện lượng
tiền huy động từ thu nhập quốc dân để đáp ứng cho các khoản chi tiêu của
Nhà nước, có hai mặt đó là: mặt tĩnh và mặt động. Mặt tĩnh thể hiện các
nguồn tài chính được tập trung vào NSNN mà chúng ta có thể xác định được
vào bất kỳ thời điểm nào. Mặt động thể hiện các quan hệ phân phối dưới hình

16





cho các đơn vị trực thuộc cấp ngân sách quản lý; Đồng thời chịu sự quản lý
và điều hành của UBND xã trực tiếp là Ban tài chính cấp xã tham mưu. Việc
quy định nguồn thu, nhiệm vụ chi và tỷ lệ điều tiết giữa các cấp trong ngân
sách địa phương là do cấp thành phố quyết định phù hợp với Luật NSNN quy
định. UBND cấp xã lập quyết toán ngân sách cấp xã trình Hội đồng nhân dân
cùng cấp phê chuẩn và báo cáo UBND huyện, cơ quan tài chính cấp trên trực
tiếp và kiểm tra nghị quyết của HĐND cấp xã về tài chính - ngân sách.
* Khái niệm ngân sách nhà nước cấp xã
NSNN cấp xã có thể hiểu là toàn bộ các hoạt động thu, chi NSNN đã
được UBND cấp xã trình và HĐND xã phê chuẩn, giám sát và được thực hiện
trong một năm để đảm bảo thực hiện các mục tiêu ổn định chính trị, phát triển
kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng, đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn xã.
* Khái niệm về quản lý ngân sách nhà nước cấp xã
Xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, rất nhiều học giả
trong và ngoài nước đã đưa ra những khái niệm khác nhau về quản lý. Đến
nay, vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về quản lý. Đặc biệt là kể từ các
quan niệm về quản lý lại càng phong phú. Các trường phái quản lý học đã đưa
ra những định nghĩa về quản lý như sau:
Theo Fayel: "Quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức (gia đình,
doanh nghiệp, chính phủ) đều có, nó gồm 5 yếu tố tạo thành là: kế hoạch, tổ
chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát. Quản lý chính là thực hiện kế hoạch,
tổ chức, chỉ đạo điều chỉnh và kiểm soát ấy”.
Quản lý nói chung là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể
quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra.
Quản lý NSNN là quá trình mà chủ thể quản lý thông qua việc sử
dụng có chủ định các phương pháp và các công cụ quản lý để tác động và
điều khiển hoạt động của NSNN nhằm đạt được mục tiêu đã định trong từng
thời kỳ nhất định.

Thứ nhất, cấp xã là một trong 4 cấp quản lý hành chính và là mắt xích
quan trọng trong hệ thống hành chính ở nước ta hiện nay với chức năng,

19


nhiệm vụ được quy định trong Luật Tổ chức HĐND và UBND. Tuy nhiên, về
quản lý NSNN của cấp này chỉ mang tính độc lập tương đối, chịu sự lãnh đạo
toàn diện của cấp huyện.
Thứ hai, theo Luật NSNN hiện hành, ngân sách nhà nước cấp xã là
một cấp ngân sách hoàn chỉnh với nguồn thu và nhiệm vụ chi được quy định
cụ thể để đảm bảo hoàn thành chức năng nhiệm vụ của cấp xã. Tuy nhiên, do
Luật NSNN cũng đã quy định đối với các khoản thu phân chia giữa các cấp
ngân sách thì Quốc hội quyết định tỷ lệ điều tiết ngân sách giữa Trung ương
và địa phương; HĐND cấp tỉnh quyết định tỷ lệ % điều tiết giữa ngân sách
cấp tỉnh với ngân sách cấp xã. Do đó, quy mô ngân sách và khả năng tự cân
đối của ngân sách cấp xã hoàn toàn phụ thuộc vào việc phân cấp nguồn thu,
phân cấp nhiệm vụ chi của cấp tỉnh đối với ngân sách cấp xã cũng như quy
định tỷ lệ % điều tiết ngân sách giữa ngân sách cấp tỉnh đối với ngân sách cấp
xã. Ngân sách cấp xã có tự cân đối được hay không phụ thuộc vào sự phân
chia về ngân sách giữa các cấp chính quyền địa phương trong tỷ lệ % điều tiết
và phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi do HĐND, UBND cấp tỉnh quyết định.
Thứ ba, do không phải là cấp có thể hình thành các chính sách, chế độ
về thu, chi ngân sách nên nội dung thu, chi của ngân sách cấp xã do cấp tỉnh
(HĐND &UBND cấp tỉnh) quyết định. Trong thực tiễn hay phát sinh mâu
thuẫn giữa yêu cầu nhiệm vụ phát triển KTXH ở địa phương cũng như những
nhiệm vụ chi được giao thêm với cân đối ngân sách đã được ổn định (với thời
gian từ 3-5 năm theo luật ngân sách quy định). Vấn đề này đặt ra yêu cầu là
các cơ quan hoạch định chính sách, xây dựng chính sách chế độ thu, chi ngân
sách tham mưu việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi và tỷ lệ điều tiết cho

cụ thể. Phát huy vai trò của NSNN như thế nào là thước đo đánh giá hiệu quả
điều hành, lãnh đạo của nhà nước các cấp trong đó có chính quyền cấp xã. Ở
nước ta hiện nay, NSNN cấp xã có các vai trò chủ yếu sau:
Thứ nhất, NSNN cấp xã duy trì sự tồn tại và hoạt động của bộ máy nhà
nước của xã, bằng việc huy động, khai thác các nguồn lực tài chính từ mọi
lĩnh vực, các thành phần kinh tế theo các hình thức bắt buộc hay tự nguyện.
Từ đó, Nhà nước sẽ tiến hành phân phối nguồn tài chính đó để đáp ứng nhu
cầu chi tiêu của bộ máy nhà nước của xã theo tỷ lệ hợp lý, tiết kiệm, có hiệu

21


quả nhằm duy trì và đảm bảo sức mạnh của bộ máy vừa đảm bảo thực hiện
được chức năng KTXH hội trên địa bàn xã.
Thứ hai, NSNN cấp xã là công cụ thúc đẩy tăng trưởng, ổn định kinh tế
trên địa bàn xã. Thông qua NSNN cấp xã, HĐND và UBND xã sẽ định hướng
đầu tư, mục tiêu phát triển kinh tế trên địa bàn xã theo đúng định hướng phát
triển. Góp phần khắc phục khiếm khuyết thị trường, qua đó tạo điều kiện
thuận lợi cho sản xuất kinh doanh phát triển, góp phần thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế, ổn định, nâng cao đời sống dân cư trên địa bàn.
Thứ ba, NSNN cấp xã đóng vai trò trong việc thực hiện công bằng và giải
quyết các vấn đề xã hội trên địa bàn xã. Kinh tế thị trường phân phối nguồn lực
theo phương thức riêng của nó, vận hành theo những quy luật riêng của nó. Mặt
trái của nó là phân hóa giàu nghèo ngày càng tăng trong xã hội, tạo ra sự bất bình
đẳng trong phân phối thu nhập, tiềm ẩn nguy cơ bất ổn định xã hội. Bên cạnh đó,
do mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận nên các chủ sở hữu nguồn lực thường khai thác
tối đa mọi nguồn tài nguyên, môi trường sinh thái bị hủy hoại, nhiều loại hàng hóa
và dịch vụ mà xã hội cần nhưng khu vực tư nhân không cung cấp như hàng hóa
công cộng. Do đó, nếu để KTTT tự điều chỉnh mà không có vai trò của Nhà nước
thì sẽ phát triển thiếu bền vững. Vì vậy, Nhà nước sử dụng NSNN thông qua công

hiện các chính sách, chế độ, tiêu chuẩn, định mức về kinh tế - tài chính của
nhà nước. Thông qua chấp hành ngân sách mà tiến hành đánh giá sự phù hợp
của chính sách với thực tiễn.
Về quyền hạn của cơ quan quản lý thu NSNN trong chấp hành NSNN,
Luật NSNN năm 2002 quy định: Chỉ có cơ quan tài chính, cơ quan thuế, cơ
quan hải quan và cơ quan khác được giao nhiệm vụ thu ngân sách (gọi chung
là cơ quan thu) được tổ chức thu NSNN; Cơ quan thu có nhiệm vụ, quyền hạn
phối hợp với các cơ quan nhà nước hữu quan tổ chức thu đúng pháp luật; chịu
sự chỉ đạo, kiểm tra của UBND và sự giám sát của HĐND về công tác thu
ngân sách tại địa phương; phối hợp với Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ
chức thành viên tuyên truyền, vận động tổ chức, cá nhân thực hiện nghiêm
chỉnh nghĩa vụ nộp ngân sách theo quy định của Luật ngân sách và các quy

23


định khác của pháp luật; Cơ quan thu các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền
hạn của mình có trách nhiệm đôn đốc, kiểm tra các tổ chức, cá nhân có nghĩa
vụ nộp ngân sách phải nộp đầy đủ, đúng hạn các khoản nộp vào ngân sách
nhà nước.
Về phân bổ và giao dự toán chi ngân sách, sau khi UBND huyện giao
dự toán ngân sách, UBND các xã lập dự toán trình HĐND cùng cấp phê
chuẩn, tiến hành phân bổ và giao dự toán chi ngân sách cho các đơn vị sử
dụng ngân sách trực thuộc theo các nguyên tắc được quy định tại Điểm a
khoản 1 điều 44 của Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 06/6/2003 của Chính
phủ. Dự toán chi thường xuyên được giao cho đơn vị sử dụng ngân sách được
phân bổ theo từng loại của mục lục NSNN, theo các nhóm mục: chi thanh
toán cá nhân; chi nghiệp vụ, chuyên môn; chi mua sắm, sửa chữa; các khoản
chi khác.
Đối với chi đầu tư phát triển, các khoản chi này được thực hiện trên

Thứ năm, báo cáo quyết toán năm gửi cấp có thẩm quyền để thẩm định,
phê duyệt phải có xác nhận của KBNN huyện về tổng số và chi tiết.
Thứ sáu, báo cáo quyết toán ngân sách của các đơn vị dự toán và của
các cấp chính quyền địa phương không được quyết toán chi lớn hơn thu.
Về trình tự lập, gửi, xét duyệt báo cáo thu, chi NSNN năm đối với đơn
vị dự toán: sau khi kết thúc công tác khóa sổ kế toán cuối ngày 31/12, số liệu
trên sổ sách kế toán của đơn vị phải bảo đảm cân đối và khớp đúng với chứng
từ thu, chi ngân sách của đơn vị và số liệu của KBNN huyện về tổng số và chi
tiết; trên cơ sở đó đơn vị dự toán tiến hành lập báo cáo quyết toán năm.
Về trình tự lập, thẩm định, phê chuẩn và gửi báo cáo quyết toán thu, chi
NSNN năm của ngân sách cấp xã: mẫu, biểu báo cáo quyết toán năm của
ngân sách nhà nước nói chung và ngân sách nhà nước cấp xã nói riêng thực
hiện theo chế độ kế toán nhà nước và các văn bản hướng dẫn của Bộ Tài
chính. Ban tài chính xã có trách nhiệm lập báo cáo quyết toán thu, chi ngân
sách cấp xã trình UBND xã xem xét gửi phòng Tài chính - Kế hoạch huyện
đồng thời trình HĐND xã phê chuẩn. Trường hợp báo cáo quyết toán năm của

25


xã do HĐND xã phê chuẩn có thay đổi so với báo cáo quyết toán năm do
UBND xã đã gửi phòng Tài chính – Kế hoạch huyện, thì UBND xã báo cáo
bổ sung, gửi phòng Tài chính – Kế hoạch huyện. Sau khi HĐND xã phê
chuẩn, Ban tài chính xã gửi báo cáo quyết toán đến Phòng Tài chính – Kế
hoạch huyện đồng thời gửi Kho bạc nhà nước huyện Nghị quyết phê chuẩn
quyết toán của HĐND xã. Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện có trách nhiệm
thẩm định quyết toán thu, chi ngân sách xã.
Duyệt quyết toán năm đối với đơn vị dự toán: Phòng Tài chính kế
hoạch huyện xét duyệt từng khoản thu, chi phát sinh tại đơn vị, các khoản thu
phải đúng pháp luật, pháp lệnh thuế, pháp lệnh phí, lệ phí và các chế độ thu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status