Biện pháp nâng cao năng lực cảm thụ văn học qua giờ học tập đọc cho học sinh lớp 5 trường tiểu học chiềng sinh thành phố sơn la - Pdf 43

TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN

BIỆN PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẢM THỤ VĂN HỌC
QUA GIỜ HỌC TẬP ĐỌC CHO HỌC SINH LỚP 5
TRƢỜNG TIỂU HỌC CHIỀNG SINH - THÀNH PHỐ SƠN LA

Thuộc nhóm ngành khoa học: Khoa học giáo dục

Sơn La, tháng 5 năm 2017


TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN

BIỆN PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẢM THỤ VĂN HỌC
QUA GIỜ HỌC TẬP ĐỌC CHO HỌC SINH LỚP 5
TRƢỜNG TIỂU HỌC CHIỀNG SINH - THÀNH PHỐ SƠN LA
Thuộc nhóm ngành khoa học: Khoa học giáo dục

Sinh viên thực hiện: Vì Thị Hồng

Nam, Nữ: Nữ

Dân tộc: Thái

Mùi Thị Hậu

Người hướng dẫn: TS. Trần Thị Thanh Hồng

Sơn La, tháng 5 năm 2017


LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài chúng em đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của
cô giáo - TS. Trần Thị Thanh Hồng, giảng viên khoa Tiểu học - Mầm non, Trường Đại
học Tây Bắc. Chúng em xin chân thành cảm ơn cô đã tận tình hướng dẫn chúng em
trong suốt thời gian hoàn thiện đề tài.
Chúng em xin cám ơn đến các thầy cô trong khoa Tiểu học - Mầm non, Trung
tâm thông tin - Thư viện, phòng Khoa học công nghệ và Hợp tác quốc tế - Trường Đại
học Tây Bắc, Trường Tiểu học Chiềng Sinh thành phố Sơn La - tỉnh Sơn La, đã tạo
điều kiện để chúng em nghiên cứu đề tài.
Chân thành cảm ơn tới các bạn sinh viên lớp K55 Đại học giáo dục Tiểu học C
đã động viên, khuyến khích ủng hộ chúng tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài này.
Sơn La, ngày tháng năm 2017
Sinh viên
Vì Thị Hồng
Mùi Thị Hậu
Lò Thị Mai
Nguyễn Minh Thùy
Lường Thị Tâm


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ..........................................................................................................................1
1. Lí do chọn đề tài ...........................................................................................................1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ............................................................................................3
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ...............................................................................5



2.2.1. Trau dồi hứng thú khi tiếp xúc với văn thơ ..........................................................40
2.2.2. Tích luỹ vốn hiểu biết về thực tế cuộc sống và văn học ......................................41
2.2.3. Rèn năng lực cảm thụ văn học theo đặc trưng thể loại ........................................43
2.2.3.1. Tác phẩm thơ .....................................................................................................43
2.2.3.2. Tác phẩm văn xuôi.............................................................................................45
2.2.4. Rèn luyện năng lực qua đọc hiểu .........................................................................49
2.2.4.1. Rèn luyện theo trình tự hệ thống luyện Tập đọc ...............................................49
2.2.4.2. Rèn kĩ năng phát hiện chi tiết nghệ thuật trong bài đọc ...................................51
2.2.5. Rèn luyện kỹ năng viết đoạn văn về cảm thụ văn học .........................................52
TIỂU KẾT CHƢƠNG 2 ...............................................................................................56
CHƢƠNG 3: THIẾT KẾ VÀ THỂ NGHIỆM SƢ PHẠM ......................................57
3.1. Thiết kế thể nghiệm .................................................................................................57
3.1.1. Mục đích thể nghiệm ............................................................................................57
3.1.2. Đối tượng, thời gian và địa bàn thể nghiệm .........................................................57
3.1.2.1. Đối tượng thể nghiệm ........................................................................................57
3.1.2.2. Thời gian và địa bàn thể nghiệm .......................................................................57
3.1.3. Nội dung và tiêu chí thể nghiệm ..........................................................................57
3.1.3.1. Nội dung.............................................................................................................57
3.1.3.2. Tiêu chí thể nghiệm ...........................................................................................58
3.1.4. Phương pháp thể nghiệm ......................................................................................60
3.2. Kết quả thể nghiệm ..................................................................................................60
3.2.1. Kết quả trước thể nghiệm .....................................................................................60
3.2.2. Kết quả sau thể nghiệm ........................................................................................60
TIỂU KẾT CHƢƠNG 3 ...............................................................................................63
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ..............................................................................64
1. Kết luận .......................................................................................................................64
2. Khuyến nghị ................................................................................................................65
TÀI LIỆU THAM KHẢO


TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
Khoa: Tiểu học - Mầm non
THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1. Thông tin chung:
- Tên đề tài: Biện pháp nâng cao năng lực cảm thụ văn học qua giờ học Tập đọc cho
học sinh lớp 5 Trường Tiểu học Chiềng Sinh - Thành phố Sơn La
- Sinh viên thực hiện:
1) Vì Thị Hồng
2) Mùi Thị Hậu
3) Lò Thị Mai
4) Nguyễn Minh Thùy
5) Lường Thị Tâm
- Lớp: K55 ĐHGD Tiểu học C Khoa: Tiểu học - Mầm non
Năm thứ: 3/Số năm đào tạo: 4
- Người hướng dẫn: TS. Trần Thị Thanh Hồng
2. Mục tiêu đề tài:
Nghiên cứu lý luận và thực tiễn cảm thụ văn học qua phân môn Tập đọc cho
học sinh lớp 5 Trường Tiểu học Chiềng Sinh –Thành phố Sơn La - Tỉnh Sơn La. Từ đó
đề xuất các biện pháp rèn luyện năng lực cảm thụ văn học cho học sinh nhằm nâng cao
hiệu quả dạy học phân môn Tập đọc nói riêng và môn Tiếng Việt nói chung ở Trường
tiểu học hiện nay.
3. Tính mới và sáng tạo:
Đề tài chúng tôi đã đề ra được một số biện pháp nâng cao năng lực cảm thụ văn
học qua phân môn Tập đọc cho học sinh lớp 5 trường Tiểu học Chiềng Sinh - Thành
phố Sơn La
4. Kết quả nghiên cứu:
Hoàn thành mục tiêu đề tài
5. Đóng góp về mặt kinh tế - xã hội, giáo dục và đào tạo, an ninh, quốc phòng và
khả năng áp dụng của đề tài:


năm 201.....

Ngƣời hƣớng dẫn
(ký và ghi rõ họ, tên)


TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
Khoa: Tiểu học - Mầm non
THÔNG TIN VỀ SINH VIÊN
CHỊU TRÁCH NHIỆM CHÍNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
I. SƠ LƢỢC VỀ SINH VIÊN:
Họ và tên: Vì Thị Hồng
Sinh ngày: 23 tháng 5 năm 1995
Nơi sinh: Mai Sơn - Sơn La
Lớp: K55 ĐHGD Tiểu học C

Khóa: 2014 - 2018

Khoa: Tiểu học - Mầm non
Địa chỉ liên hệ: Chiềng Chung - Mai Sơn - Sơn La
Điện thoại: 0963927414

Email: [email protected]

II. QUÁ TRÌNH HỌC TẬP (kê khai thành tích của sinh viên từ năm thứ 1 đến
năm đang học):
* Năm thứ 1:
Ngành học: ĐHGD Tiểu học


thực hiện đề tài
(ký, họ và tên)


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Tiếng Việt đóng vai trò to lớn trong việc hình thành những phẩm chất quan
trọng nhất của con người và trong việc thực hiện những nhiệm vụ của hệ thống giáo
dục. Học sinh tiểu học là lứa tuổi hồn nhiên, ngây thơ, dễ xúc động như K.A.U Sinxki
đã nói: “Trẻ em đi vào trong đời sống tinh thần của mọi người xung quanh nó, duy
nhất thông qua phương tiện tiếng mẹ đẻ và ngược lại thế giới bao quanh đứa trẻ được
phản ánh trong đó chỉ thông qua công cụ này” [14; tr. 42]. Vì thế việc phát triển tiếng
Việt và bảo vệ sự trong sáng tiếng Việt có thể nói là một công việc lớn đặt ra cho tất cả
chúng ta. Vậy nên tiếng Việt có vai trò rất quan trọng, nó không chỉ hình thành và phát
triển các kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết cho học sinh mà môn Tiếng Việt còn góp phần
cùng các môn học khác phát triển tư duy, hình thành cho các em nhu cầu thưởng thức
cái đẹp, cảm xúc trước cái đẹp, trước buồn - vui - yêu - ghét của con người. Cảm thụ
văn học chính là sự cảm nhận những giá trị nổi bật, những điều sâu sắc, tế nhị và đẹp
đẽ của văn học trong tác phẩm, cuốn truyện, bài văn, bài thơ hay trong cả một từ ngữ
có giá trị của một câu văn, câu thơ... Để học sinh có được các kĩ năng trên thông qua
các giờ Luyện từ và câu, Tập làm văn thì chưa đủ mà học sinh cần được bồi dưỡng về cảm
thụ văn trong các giờ Tập đọc và trong các buổi ngoại khoá. Bởi học sinh có cảm thụ văn
tốt thì mới hiểu được ý nghĩa của bài văn, bài thơ, đoạn văn, đoạn thơ... và mới thấy được
nét đẹp của thơ văn làm cho tâm hồn các em thêm phong phú.
Tập đọc là một phân môn thực hành mang tính chất tổng hợp. Nhiệm vụ quan
trọng nhất của nó là hình thành năng lực đọc cho học sinh. Năng lực đọc được tạo nên
từ bốn kĩ năng bộ phận cũng là bốn yêu cầu về chất lượng của đọc: đọc đúng, đọc
nhanh (đọc lưu loát, trôi chảy), đọc có ý thức (thông hiểu được những nội dung mình
đọc hay còn gọi là đọc hiểu) và đọc hay (mà ở mức độ cao hơn là đọc diễn cảm).
Ngoài ra phân môn này còn có nhiệm vụ trau dồi kiến thức về tiếng Việt cho học sinh

Cho nên cần bồi dưỡng vốn sống cho các em. Do đó, giúp các em phát triển khả năng
liên tưởng, tưởng tượng đồng thời bồi dưỡng vốn sống tạo điều kiện cho các em tiếp
xúc với tác phẩm, trang bị một số kiến thức về văn học như: hình ảnh, chi tiết kết cấu,
các đặc trưng ngôn ngữ, nghệ thuật, các biện pháp tu từ…
Trong giờ dạy Tập đọc của môn Tiếng Việt ở trường Tiểu học, kĩ năng cảm thụ
văn học là một yêu cầu cần được coi trọng. Đây là nhiệm vụ quan trọng nhằm hình
thành và phát triển năng lực cảm thụ văn học và rèn luyện các kĩ năng tiếng Việt cho
học sinh.
Trường Tiểu học Chiềng Sinh - Sơn La là trường có thuận lợi về cơ sở, vật chất,
đội ngũ giáo viên giảng dạy nhiệt tình. Tuy nhiên, do đặc điểm của trường có số lượng
2


học sinh dân tộc thiểu số tương đối đông, nên khi áp dụng chương trình sách giáo khoa
mới vào giảng dạy và học tập tiếng Việt còn gặp nhiều trở ngại, chất lượng cảm thụ
văn học của học sinh trong giờ Tập đọc chưa cao. Đây là vấn đề đòi hỏi nhà trường
cũng như các cấp quản lí giáo dục cần có biện pháp khắc phục để giáo viên và học sinh
đạt được kết quả cao hơn trong dạy học nói chung và giờ Tập đọc nói riêng. Trước
những thực tế đó, chúng tôi đã lựa chọn đề tài “Biện pháp nâng cao năng lực cảm thụ
văn học qua giờ học Tập đọc cho học sinh lớp 5 tại trường Tiểu học Chiềng Sinh,
THÀNH PHỐ Sơn La - tỉnh Sơn La” làm đối tượng nghiên cứu với mong muốn góp
phần nâng cao hơn nữa chất lượng đọc và cảm thụ văn học cho học sinh lớp 5 trường
Tiểu học Chiềng Sinh.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Tất cả những tác phẩm văn học chân chính đều phản ánh khát vọng thiêng liêng
cháy bỏng của con người, là cái đẹp của lòng vị tha, tình yêu thương của đồng loại, nó
góp phần nâng cao và hoàn thiện nhân cách cho học sinh. Vì vậy, nâng cao năng lực
hiểu và cảm thụ các tác phẩm văn học cho học sinh tiểu học là nhiệm vụ hết sức cần
thiết có ý nghĩa. Dạy văn là dạy người, thông qua các giờ dạy cảm thụ văn học, học
sinh sẽ được bồi đắp nên những tâm hồn đẹp, xúc cảm phong phú nhạy bén, tinh tế hơn.

hệ thống câu hỏi cảm thụ để dạy tác phẩm văn học trong nhà trường Việt Nam.
Cuốn Luyện tập về cảm thụ văn học ở tiểu học của Trần Mạnh Hưởng (NXB
giáo dục – 2001) đã đưa ra một số yêu cầu về rèn luyện cảm thụ văn học ở tiểu học,
giúp học sinh nắm được những yêu cầu biện pháp rèn luyện cụ thể về cảm thụ văn học
cho bản thân. Cuốn sách cũng đưa ra một hệ thống bài tập về cảm thụ văn học ở tiểu
học và những gợi ý, giải đáp và tham khảo.
Nguyễn Trọng Hoàn trong cuốn Rèn kĩ năng cảm thụ văn thơ cho học sinh tiểu
học (NXB Hà Nội – 2002) đã đề cập đến những kĩ năng cảm thụ văn và nêu một số
yêu cầu và sự chuẩn bị đối với người cảm thụ thơ văn, nêu một số phương hướng cảm
thụ thơ văn trong chương trình và sách giáo khoa Tiểu học.
Cuốn Cảm thụ văn học và giảng dạy văn học của Phan Trọng Luận đã cung cấp
được một số hiểu biết khoa học về tính đặc thù của cảm thụ văn chương, mối quan hệ
thẩm mỹ của bạn đọc đối với tác phẩm, tính chủ quan, tính sáng tạo khi tiếp nhận và
những khái quát về những đặc điểm cũng như tiêu chí phát triển văn học ở bạn đọc.
Tác giả Lê Phương Nga trong Dạy Tập đọc ở tiểu học (NXB giáo dục – 2002)
đã đi sâu vào phân tích cơ sở lí luận và thực tiễn của việc dạy học tích cực, hiệu quả
nhằm nâng cao chất lượng dạy học phân môn Tập đọc.
Bài viết Nâng cao năng lực cảm thụ văn học cho học sinh tiểu học, các dạng
bài tập và những vấn đề cần lưu ý của Lê Phương Nga, in trên Tạp chí giáo dục Tiểu
học số 3/1998, cũng như bài Rèn luyện kỹ năng đọc cho học sinh tiểu học theo hướng
4


tích cực hoá hoạt động in trên Tạp chí giáo dục quý I/2002 đã đưa ra một số biện pháp
tích cực để rèn luyện kỹ năng đọc cho học sinh tiểu học.
Đề tài Phương pháp dạy học sinh cảm thụ văn học của Nguyễn Hữu Phương
đã đề cập tới một số phương pháp cơ bản để hướng dẫn học sinh cảm thụ văn học một
cách có kỹ năng. Tác giả đề tài cũng đã khẳng định muốn cảm thụ văn học tốt học sinh
phải có vốn ngôn ngữ, vốn văn học, vốn sống. Người thầy phải làm cho học sinh có
hứng thú và niềm say mê học văn.

- Tìm biện pháp gây hứng thú cảm thụ văn học nhằm nâng cao chất lượng cảm
thụ văn học và làm bài văn cho học sinh.
- Dạy thể nghiệm trên đối tượng học sinh khối 5 lớp 5A1, 5A2 trường Tiểu học
Chiềng Sinh, thành phố Sơn La - tỉnh Sơn La.
- Thăm dò ý kiến giáo viên và học sinh qua việc sử dụng phương pháp giảng
dạy mới.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tƣợng
Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng và biện pháp nâng cao năng lực cảm thụ
văn học qua giờ Tập đọc cho học sinh lớp 5 tại Trường Tiểu học Chiềng Sinh, thành phố
Sơn La.
4.2. Phạm vi
Đề tài này chúng tôi tập trung nghiên cứu các vấn đề cảm thụ văn học, đặc điểm
cảm thụ văn học của học sinh tiểu học. Thực trạng dạy và học cảm thụ văn học ở lớp 5
Trường Tiểu học Chiềng Sinh, thành phố Sơn La – tỉnh Sơn La. Đề xuất một số biện
pháp nhằm nâng cao hiệu quả cảm thụ văn học cho học sinh tiểu học mà chúng tôi cho
rằng giáo viên cũng như học sinh còn thiếu trong quá trình dạy và học cảm thụ văn học.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi đã sử dụng một số phương pháp nghiên
cứu sau:
5.1. Nhóm phƣơng pháp nghiên cứu lý luận
- Phân tích tổng hợp.
- Hệ thống hóa kiến thức trong các tài liệu các biện pháp nâng cao khả năng
cảm thụ văn học cho học sinh trong một số công trình đã nghiên cứu về các biện pháp
hiệu quả cảm thụ văn học cho học sinh tiểu học.
Các phương pháp trên nhằm tìm hiểu nhằm thu thập các thông tin có liên quan
làm cơ sở lí luận cho đề tài.
5.2. Nhóm phƣơng pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra
- Phương pháp hỏi đáp

NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lý luận của cảm thụ văn học
1.1.1. Một số khái niệm liên quan tới đề tài
Đọc: Đọc là một dạng hoạt động ngôn ngữ, là quá trình chuyển dạng thức chữ
viết sang lời nói có âm thanh và thông hiểu nó (ứng với các hình thức đọc thành tiếng),
là quá trình chuyển trực tiếp từng hình thức chữ viết thành các đơn vị nghĩa không có
âm thanh (ứng với đọc thầm) (M.R. Lovôp - Cẩm nang dạy học tiếng Nga (tiếng Nga)
[7; tr. 7].
Đọc hiểu: Đọc hiểu (trong đọc văn): “… là hoạt động được diễn ra đồng thời
với quá trình nắm bắt thông tin, đọc trong nhận thức để có khả năng thông hiểu những
gì được đọc, để lĩnh hội đích tác động của văn bản. Kết quả của đọc hiểu là người đọc
phải lĩnh hội được thông tin, hiểu nghĩa của từ, cụm từ, câu đoạn, bài, văn bản…” [7;
tr. 7].
Đọc diễn cảm: “ Đọc diễn cảm là một trong những biện pháp của đọc sáng tạo.
Đọc diễn cảm là cách sử dụng giọng đọc có kèm theo cử chỉ điệu bộ, nét mặt để truyền
đạt những ý nghĩ, tư tưởng, tình cảm của tác giả gửi gắm trong tác phẩm và cả những ý
nghĩ, tâm trạng, cảm xúc của người đọc đến với người nghe” [7; tr.19].
Cảm thụ văn học: “Cảm thủ văn học chính là sự kết hợp hài hòa cảm nhận
những giá trị nổi bật, những điều sâu sắc, tế nhị và đẹp đẽ của văn học thể hiện trong
tác phẩm về nội dung và hình thức, là khả năng dung cảm một cách sâu sắc, tinh tế
những tình cảm của tác giả thông qua hình tượng, là khả năng đánh giá chính xác tài
năng cũng như sự độc đáo trong phong cách của nhà văn” [12;tr. 99].
1.1.2. Một số quan điểm chỉ đạo đổi mới giáo dục tiểu học
Những quan điểm và đường lối chỉ đạo của nhà nước về đổi mới giáo dục nói
chung và giáo dục tiểu học nói riêng được thể hiện trong nhiều văn bản, đặc biệt trong
các văn bản sau:
Trong Công văn số 896/BGD&ĐT - GDTH ngày 13/2/2006 của Bộ Giáo dục và
Đào tạo cũng đã quy định rõ việc đổi mới cách thức dạy học, mà trọng tâm là đổi mới
phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, rèn luyện

pháp dạy học, kiểm tra đánh giá theo định hướng năng lực người học ở tiểu học nói riêng.
1.1.3. Đặc điểm của cảm thụ văn học
Thông qua những đặc điểm trên chúng tôi thấy năng lực cảm thụ văn học gồm
có những cấp độ như sau:
Cấp độ 1: cấp độ ngôn từ và sự cảm thụ ngôn từ: cảm thụ về phương diện ngữ âm, từ
vựng, ngữ pháp, các thủ pháp nghệ thuật sao cho những gì chính yếu trong tác phẩm được
9


nổi bật, sao cho tư tưởng sống động của tác giả gây được ấn tượng trong lòng người đọc.
Ví dụ: Trong bài ca dao:
Người ta đi cấy lấy công
Tôi nay đi cấy phải trông nhiều bề.
Trông trời, trông đất, trông mây
Trông mưa, trông nắng, trông ngày, trông đêm.
Trông cho chân cứng đá mềm
Trời êm bể lặng mới yên tấm lòng.
(Ca dao)
Từ “trông” được nhắc lại 9 lần (biện pháp điệp ngữ) làm cho người đọc thấy
được công việc làm ruộng vô cùng vất vả. Từ “trông” không chỉ có nghĩa là “nhìn”,
nhìn để đoán thời tiết mà còn mang nghĩa “mong mỏi, ước ao”. Niềm mong mỏi, ước
ao này chứng tỏ một phần nào những cố gắng lớn của người nông dân xưa (trong lao
động nông nghiệp). Từ đó người đọc cảm thấy quý trọng hạt lúa, hạt gạo và biết ơn
những người nông dân chân đất hiền lành.
Cấp độ 2: cấp độ hình tượng và sự cảm thụ cấp độ hình tượng (ý nghĩa của tác
phẩm), cảm thụ tư tưởng của tác phẩm.
Hình tượng nhân vật, không gian, thời gian, tác giả…Chẳng hạn như trong bài
Việt Bắc của Tố Hữu (Tiếng Việt 4, tập 1) hình ảnh Bác Hồ hiện ra thật thân thương,
trìu mến. Lúc Bác Hồ và các cán bộ tạm biệt Việt Bắc về xuôi, người đọc cảm nhận
thấy cái bịn rịn, cái lưu luyến, diễn ra trong tâm trạng người, người đi, người ở.

mẹ thật ngọt ngào, vô tận. Ân nghĩa đó thật to lớn, sâu nặng. Xuất phát từ đó, người
xưa khuyên mỗi chúng ta phải làm tròn chữ hiếu để bù đắp lại công ơn trời biển của cha mẹ.
Cấp độ 4: cấp độ tư tưởng và sự cảm thụ tư tưởng của tác phẩm
Tư tưởng quan niệm chính kiến của nhà văn về con người, xã hội, đạo đức,
thẩm mĩ, nghệ thuật…
Ví dụ: Trong bài Tập đọc “Bà cháu” thông qua nhân vật hai bà cháu, người đọc
nắm bắt tư tưởng của tác phẩm đó là: lòng hiếu thảo của người cháu với bà dù sống
trong giàu sang, sung sướng nhưng vẫn luôn nhớ về người bà của mình.
Năng lực cảm thụ văn học ở mỗi người không hoàn toàn giống nhau. Năng lực
cảm thụ văn học do những yếu tố quy định như: vốn sống và hiểu biết, năng lực và
trình độ kiến thức, tình cảm và thái độ, sự nhạy cảm khi tiếp xúc với tác phẩm văn
học… Ngay cả ở một người sự cảm thụ về một bài văn, bài thơ trong những thời điểm
khác nhau cũng có những biến đổi.
1.1.4. Đặc điểm tâm lý của học sinh tiểu học với việc cảm thụ văn học
Trẻ em rất say mê văn học, nghệ thuật, có những cảm nhận, suy nghĩ theo lối
riêng của mình, ngoài tính chất trẻ thơ, thơ ngây, ở từng mặt, từng khía cạnh cụ thể,
nhiều khi cũng rất sâu sắc và đầy chất trí tuệ. Đây là những nguyên nhân dẫn đến
những đặc trưng trong cảm thụ văn học ở lứa tuổi này:
Dễ nhập thân vào tác phẩm, có khả năng liên tưởng, tưởng tượng sinh động về
thế giới trong tác phẩm. Dễ xúc động về sự kiện của tác phẩm và tâm trạng của nhân
vật, dễ tin những gì diễn ra trong tác phẩm, trẻ em nào cũng thơ mộng, lãng mạn.
11


Ngây thơ, ngộ nghĩnh, dễ yêu thương, dễ hờn dỗi, hay mộng mị, buồn vui và thơ
mộng. Đôi mắt trẻ thơ là khoảng trời xanh, áng mây trắng đi vào mắt chúng là cả một
ảo giác về tương lai trăm năm của một đời người, khoảnh khắc tuổi thơ là cái lãng mạn
mênh mông nhất. Phương diện tâm lí này trở thành đặc điểm thẩm mĩ quan trọng của
văn học trong thiếu nhi.
Có khả năng nhạy cảm, tinh tế trong cảm thụ cái đẹp: dễ rung động trước

nhiệm vụ chính của giáo viên là tổ chức để học sinh cảm thụ và lĩnh hội giá trị của văn
bản chứ không phải là trổ tài trình diễn để “thôi miên” các em. Do đó, giáo viên chỉ
đưa ra lời bình khi học sinh cảm nhận chưa tới, đánh giá chưa xác đáng và những lời
bình lúc đó có tác dụng hỗ trợ, tiến tới khắc sâu ấn tượng cho các em, tạo nên những
khoái cảm thẩm mỹ. Giáo viên phải chọn bình những chi tiết nào là điểm sáng nghệ
thuật và chọn được cách nói ấn tượng, độc đáo, nhằm tác động mạnh đến cảm xúc của
học sinh, giúp các em nắm được thần thái, linh hồn của tác phẩm.
Cảm thụ thường mang tính trực tiếp, cảm tính, trong sáng, yêu cái thiện, ghét
cái ác, không bao giờ đồng với hành động tàn nhẫn, luôn xúc động trước tình người
nhân ái và tinh thần nhân đạo của tác phẩm. Chẳng hạn, trong bài “Người ăn xin” giúp
các em cảm thụ “Nghe ông lão nói, cậu bé chợt hiểu. Điều đó có nghĩa là một nhận
thức hoàn toàn mới đã nảy sinh trong cậu. Chắc là xưa nay cậu vẫn nghĩ, đối với người
ăn xin, người ta chỉ có thể cho họ một cái gì đó chứ không thể nhận điều gì từ họ.
Nhưng người ăn xin này lại giúp cậu hiểu ra một điều: cũng có thể nhận được chút gì
từ họ. Trong trường hợp này, cậu bé đã nhận được sự cảm thông, chia sẻ từ ông lão khi
ông cảm ơn và an ủi cậu”[13; tr. 103]
Cảm nhận mang tính hồn nhiên, ngây thơ, dễ tin những gì diễn ra trong tác
phẩm là có thực, chưa phân biệt thế giới trong tác phẩm và hiện thực ngoài đời. Ví dụ
như trong bài “cánh diều tuổi thơ” giúp các em cảm nhận được về tính hồn nhiên, ngây
thơ qua câu văn “ tuổi thơ của tôi được nâng lên từ những cánh diều” [13; tr. 109]
Hứng thú tiếp nhận thường thiên về những tác phẩm có cốt truyện rõ ràng, có
tình tiết li kỳ, lôi cuốn, các nhân vật không có sự hòa nhập, pha trộn về tính cách: trẻ
em có tính hiếu kì, ham hiểu biết và cả những hành vi thích phiêu lưu mạo hiểm của
trẻ em. Trẻ em không giống với chúng ta được đi nhiều biết rộng. Cái biết và cái thấy
của chúng thật đơn giản, nghèo nàn và nhàm chán. Chúng cần rất nhiều những cái mới
để lấp đầy khoảng trống trong kho trí tuệ của mình. Tâm lí xác nhận rằng, nhu cầu
nhận thức của trẻ em phát triển mạnh ngay từ những năm đầu cấp tiểu học. Cứ xem trẻ
em đọc sách hay xem phim, ai cũng dễ thấy rằng đứa trẻ nào cũng đam mê những cái
li kỳ, ấn tượng. Chúng có thể xem mãi, xem nhiều lần không thấy chán. Và nữa, chúng
có thể tự cảm và hiểu mà không cần ai giảng giải. Tính chất dễ kích động là nguyên

đình và xã hội.
Học sinh tiểu học dễ thích nghi và tiếp nhận cái mới và luôn hướng tới tương
lai. Nhưng cũng thiếu sự tập trung cao độ, khả năng ghi nhớ và chú ý có chủ định chưa
được phát triển mạnh, tính hiếu động, dễ xúc động còn bộc lộ rõ nét. Trẻ nhớ rất nhanh
và quên cũng nhanh.
Đối với trẻ em ở lứa tuổi tiểu học thì tri giác của học sinh tiểu học phản ánh
14


những thuộc tính trực quan cụ thể của sự vật, hiện tượng và xảy ra khi chúng trực tiếp
tác động đến giác quan. Tri giác giúp trẻ định hướng nhanh chóng và chính xác hơn
trong thế giới. Tri giác còn giúp trẻ điều chỉnh hoạt động một cách hợp lí. Trong sự
phát triển tri giác của học sinh giáo viên có vai trò rất lớn trong việc chỉ dạy cách nhìn,
hình thành kĩ năng nhìn cho học sinh, hướng dẫn cho các em biết xem xét, biết lắng nghe.
Bên cạnh sự phát triển của tri giác, chú ý có chủ định của học sinh tiểu học còn
yếu, khả năng điều chỉnh của chú ý có ý chí chưa mạnh. Vì vậy, việc sử dụng đồ dùng
dạy học là phương tiện quan trọng để tổ chức sự chú ý cho học sinh. Nhu cầu hứng thú
có thể kích thích và duy trì chú ý không chủ định cho nên giáo viên cần tìm cách làm
cho giờ học hấp dẫn để lôi cuốn chú ý của học sinh. Trí nhớ có vai trò đặc biệt quan
trọng trong đời sống và hoạt động của con người, nhờ có trí nhớ mà con người tích lũy
vốn kinh nghiệm đó vào đời sống.
Đối với học sinh tiểu học có trí nhớ trực quan - hình tượng phát triển chiếm ưu
thế hơn trí nhớ từ ngữ - lôgic. Tư duy của trẻ em mới đến trường là tư duy cụ thể, dựa
vào những đặc điểm trực quan của đối tượng và hiện tượng cụ thể. Trong sự phát triển
tư duy ở học sinh tiểu học, tính trực quan cụ thể vẫn còn thể hiện ở các lớp đầu cấp và
sau đó chuyển sang tính khái quát ở các lớp cuối cấp. Trong quá trình dạy học và giáo
dục, giáo viên cần nắm chắc đặc điểm này. Vì vậy, trong giờ dạy học, giáo viên cần
đảm bảo tính trực quan thể hiện qua dùng người thực, việc thực qua việc dạy học hợp
tác hành động để phát triển tư duy cho học sinh. Giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh
phát triển khả năng phân tích, tổng hợp, trìu tượng, khái quát hóa, khả năng phán đoán

xác định thiếu chính xác có thể dẫn đến những sai lệch cho quá trình phát triển trí tuệ
của các em. Tư tưởng, tình cảm trong tác phẩm là đúng nội dung kiến thức quan trọng
trong các bài học. Nếu hiểu sai hoặc hiểu chưa tới mức sâu sắc nhất định (theo yêu cầu
của bài học) thì việc chưa thành công. Chính vì vậy mà việc cảm thụ văn học cho học
sinh tiểu học không phải là một công việc xa lạ, nó nằm ngay trong quá trình học tập
môn Tiếng Việt.
Nâng cao năng lực cảm thụ văn học giúp học sinh nhận biết nhanh nhạy và
chính xác các tín hiệu nghệ thuật trong tác phẩm
Nâng cao năng lực cảm thụ văn học định hướng cho học sinh khám phá nghệ
thuật của tác phẩm. Giúp học sinh từng bước nhận diện, làm quen và sáng tạo được
các sản phẩm thẩm mỹ… Với tác phẩm văn học bồi dưỡng năng lực cảm thụ chính là
nhằm giúp các em nhận biết nhanh nhạy và chính xác các tín hiệu thẩm mỹ trong tác
phẩm. Tác phẩm là nơi tập chung những cảm xúc, suy nghĩ của nhà văn. việc giúp học
sinh nhận biết nhanh nhạy và chính xác các tín hiệu nghệ thuật đó của tác phẩm là một
trong những mục đích quan trọng nhất trong việc nâng cao cảm thụ văn học. Bằng
những cách thức và phương pháp nào đó, giáo viên phải giúp học sinh phát hiện được
16



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status