Ảnh hưởng của phân bón hữu cơ và hữu cơ vi sinh bón lá đến năng suất và tồn dư NO3 trên rau cải xanh (brassica juncea) sản xuất theo tiêu hướng hữu cơ tại tỉnh bình dương” - Pdf 43

MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Rau xanh là nguồn cung cấp vitamin và muối khoáng quan trọng. Nhu cầu về
vitamin và muối khoáng của con người được cung cấp qua bữa ăn hàng ngày qua rau
tươi. Hầu hết các loại rau tươi thường dùng của nhân dân ta đều giàu vitamin nhất là
vitamin A và C là những vitamin hầu như không có hoặc có chỉ có rất ít trong thức ăn
động vật (Viện dinh dưỡng 2010).
Sản xuất rau sử dụng các loại phân bón và hóa chất bảo vệ thực vật có nguồn
gốc hóa học đã và đang bộc lộ một số nhược điểm khá rõ như sử dụng nhiều phân đạm
làm cho hàm lượng nitrat tích lũy cao trong rau, sử dụng thuốc hóa học trong rau nhiều
làm tồn dư hóa chất trong rau dẫn đến người tiêu dùng bị ngộ độc thực phẩm hiện có
dấu hiệu gia tăng. Vệ sinh an toàn thực phẩm hiện nay đang là chủ đề rất được xã hội
quan tâm vì có liên quan đến sức khỏe cộng đồng. Việc sử dụng rau không an toàn sẽ
ảnh hưởng lớn đến sức khỏe con người, sức khỏe cộng đồng, chi phí cho điều trị, chăm
sóc sức khỏe và các dịch vụ khác tăng cao. Chú trọng đến vệ sinh an toàn thực phẩm
và kiểm soát dư lượng hóa chất trong rau quả là điều cần thiết đối với toàn xã hội,
đồng thời là điểm mấu chốt trên con đường hội nhập vào thị trường rau quả thế giới
của nông nghiệp Việt Nam.
Hiện nay trên thế giới có kỹ thuật canh tác đó là “canh tác hữu cơ”. Canh tác
hữu cơ có những kế thừa của kỹ thuật sản xuất rau an toàn, nhưng trong canh tác hữu
cơ tuyệt đối không được sử dụng các vật tư đầu vào có nguồn gốc hóa học. Những
năm qua, mô hình rau an toàn đã đem lại nhiều kết quả thiết thực trong đời sống xã
hội, góp phần hạn chế các dư lượng độc hại trong rau gây ra cho người sử dụng. Vấn
đề đặt ra hiện nay là nếu sử dụng quá nhiều phân khoáng, nhất là phân đạm hóa học
vừa làm tích lũy NO3- trong rau, vừa làm ô nhiễm môi trường đất và nguồn nước sinh
hoạt.

1


Để tìm ra được loại phân bón hữu cơ và hữu cơ vi sinh bón qua lá tốt cho sản

Theo thống kê của FAO (2008): Năm 1980, toàn thế giới sản xuất được 375
triệu tấn rau, năm 1990 là 441 triệu tấn, năm 1997 là 596,6 triệu tấn và năm 2001 đã
lên tới 678 triệu tấn. Chỉ riêng cải cải bắp và cà chua sản lượng tương ứng là 50,7 triệu
tấn và 88,2 triệu tấn với năng suất tương ứng 24,4 tấn/ha. Lượng tiêu thụ rau bình quân
theo đầu người là 110 kg/người/năm
Rau được tiêu thụ ở tất cả các nước trên thế giới. Theo FAO (2006) nhu cầu tiêu
thụ rau, quả trên thế giới tăng 3,6%/năm. Nhưng mức cung cấp chỉ có tăng 2,8%. Rau
được dùng kết hợp với các loại hoa quả thực phẩm rất tốt cho sức khỏe con người, do
đó nhu cầu tiêu thụ rau ngày càng tăng. Theo dự báo nhu cầu tiêu thụ rau quả trên thế
giới sẽ tăng 5%/năm, trong đó người Nhật Bản tiêu thụ rau quả nhiều nhất trên thế
giới, mỗi năm Nhật bản tiêu thụ 17 triệu tấn rau các loại, bình quân mỗi người tiêu thụ
100 kg/năm, xu hướng tiêu thụ rau gần đây chủ yếu là các loại rau tự nhiên và có lợi
cho sức khỏe là những loại rau giàu vitamin. Trung bình trên thế giới mỗi người tiêu
thụ 154 – 172 g/ngày.
1.1.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau xanh ở Việt Nam
Việt Nam có lịch sử trồng rau từ lâu đời. Từ thời Vua Hùng, người ta đã phát
hiện rau bầu bí trong vườn của gia đình. Theo sử sách thì rau được nhập vào nước ta từ
đầu thế kỷ thứ X. Năm 1721 - 1783, Lê Quý Đôn đã tiến hành tổng kết các vùng phân
bố rau. Năm 1029, nước ta đã tiến hành trồng thử rau cải trắng và khoai tây, như vậy

3


nghề trồng rau nước ta ra đời từ rất sớm. Những năm trước đây, do nền kinh tế tự túc
kéo dài, nghề trồng rau nước ta rất manh mún, chủng loại rau nghèo; diện tích và sản
lượng rất thấp so với tiềm năng đất đai, khí hậu của Việt Nam.
Hiện nay, chúng ta có khoảng 70 loài thực vật được sử dụng làm rau hoặc chế
biến thành rau; rau trồng có khoảng hơn 30 loại, trong đó, có khoảng 15 loại chủ lực,
trong số này có hơn 80% là rau ăn lá.
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê (2007 – 2010) năm 2007, diện tích cả nước

được phân thành 3 nhóm:
* Nhóm cải xanh/cải cay/cải canh (Brassica juncea L.)
Nhóm cải xanh có khả năng chịu được nóng và mưa to, nhóm cải này có khả
năng thích nghi rộng, thường được trồng quanh năm đặc biệt trong vụ Xuân hè và vụ
Thu đông.
- Cải xanh có cuống hơi tròn, nhỏ, ngắn. Phiến lá nhỏ và hẹp, bản lá mỏng, cây
thấp, nhỏ, lá có màu xanh vàng đến xanh đậm ăn có vị cay nên gọi là cải cay, dễ để
giống.
- Cải xanh ngọt (hay gọi cải ngọt) cũng được trồng phổ biến, chất lượng cao, ít
giống địa phương chủ yếu giống lai, năng suất cao.
* Nhóm cải thìa/ cải trắng (Brassica chinensis L.)
Nhóm cải thìa có đặc điểm dễ phân biệt đó là hình lóng máng, màu trắng, phiến
lá hơi tròn, cây mọc gọn, có khả năng thích ứng rộng (10 - 27 0C) nên có thể trồng
được quanh năm. Nhóm này có thời gian sinh trưởng ngắn sau trồng 30 - 50 ngày có
thể thu hoạch, dễ để giống, có thể trồng xen, gieo lẫn các loại rau khác và cải xanh
chống giáp vụ rau (Lê Thị Khánh, 2008 ).
1.2.2. Đặc điểm thực vật học cây rau cải
Cây cải thuộc rễ chùm, phân nhánh. Bộ rễ ăn nông trên tầng đất màu, tập trung
nhiều nhất ở tầng đất 0 - 20cm. Lá cải mọc đơn, không có lá kèm. Những lá dưới
thường tập trung, bẹ lá to, lá rất lớn. Bộ lá khá phát triển, lá to nhưng mỏng nên chịu
hạn kém và dễ bị sâu bệnh phá hại. Hoa cải có dạng chùm, không có lá bắc. Hoa nhỏ,
đều, mẫu 2. Đài hoa và tràng hoa đều 4, xếp xen kẽ nhau. Có 6 nhị trong đó 2 nhị
ngoài có chỉ nhị ngắn hơn 4 cái trong. Bộ nhị gồm 2 noãn dính bầu trên, một ô về sau

5


có một vách ngăn giả chia bầu thành 2 ô, mỗi ô có 2 hoặc nhiều noãn. Quả thuộc loại
quả giác, hạt có phôi lớn và cong, nghèo nội nhũ (Lê Thị Khánh, 2008).
1.2.3. Về ngoại cảnh


Năng lượng (Calo/100 g)

30

16

16

30

Protein (g%)

1,8

1,1

1,7

2,5

Lipid (g%)

0,0

0,0

0,0

0,0


P (mg%)

31,0

30,0

13,5

51,0

Fe (mg%)

1,1

0,7

1,9

1,4

Vitamin B1 (mg%)

0,06

0,09

0,07

0,11


(Trần Khắc Thi, Nguyễn Công Hoan, 2007)
Hiện nay trên thế giới rau là một loại thực phẩm không thể thiếu đối với người
tiêu dùng. Theo đề xuất của các chuyên gia dinh dưỡng FAO/WHO (2004) thì nhu cầu
rau quả của mỗi người cần tới 400 g/ngày. Theo Tổ chức Y tế thế giới WHO (2002),
ước tính rằng việc tiêu thụ ít rau quả gây ra 19% các bệnh ung thư đường tiêu hóa,
31% các bệnh tim thiếu máu cục bộ và 11% nguy cơ đột qụy trên toàn cầu (theo
Steven và cs, 2011) Bảng 1.1 cho thấy, rau cải có năng lượng calo/100 g đạt trung bình
từ 16 - 30 calo, hàm lượng protein thấp, không chứa các chất béo. Hàm lượng glucid
dao động từ 2,1 - 5,4g, hàm lượng cellulose dao động từ 0,9 - 1,0 g. Trong các loại rau
cải, cải bẹ có hàm lượng Ca cao nhất đạt 89 mg, Fe đạt 1,9 mg, cải bông giàu 8 P nhất

7


đạt 51 mg. Rau cải chứa đầy đủ các vitamin B1, B2, PP, C, đặc biệt cải bông hàm
lượng các vitamin này cao hơn so với các loại cải còn lại.
- Vai trò kinh tế:
Trồng rau ở Việt Nam là nguồn thu nhập quan trọng của nông thôn, ước tính
chiếm khoảng 9% trong tổng số thu nhập từ nông nghiệp bao gồm cả trồng lúa (Phạm
Văn Chương và cs, 2008). Theo Châu Hữu Hiền Philippe và cs (2001) đầu tư cho sản
xuất rau nói chung cao hơn so với trồng lúa và các cây lương thực khác. Tuy vậy, lợi
nhuận trồng rau cao hơn so với trồng lúa hoặc bắp gấp 3 - 5 lần. Ngoài ra, rau còn là
cây dễ trồng xen, trồng gối vì vậy trồng rau tạo điều kiện tận dụng đất đai, nâng cao hệ
số sử dụng đất (Nguyễn Đình Dũng, 2009).
- Vai trò dược liệu
Về mặt y học, theo Võ Văn Chi (1998) các loại rau cải có tác dụng lợi tiểu.
Rau cải bắp có thể trị giun, chữa đau dạ dày. Theo Đỗ Tất Lợi (2000) rau cải xanh
dùng làm thuốc chữa ho, viêm khí quản, ra mồ hôi, dùng ngoài dưới dạng cao dán để
gây đỏ da và kích thích da tại chỗ, trị đau dây thần kinh.

nông dân sản xuất và sử dụng khoảng 50 triệu tấn, chủ yếu là phân heo và phân trâu
bò, tương đương với 270.000 tấn urê (Nguyễn Thị Quý Mùi, 1999).
Theo Ngô Ngọc Hưng (2004) những chất dinh dưỡng có trong phân chuồng đều
là những chất tương đối dễ tiêu, nhận được từ sự khoáng hóa chất hữu cơ. Do đó phân
chuồng với liều lượng thích hợp, sẽ cung cấp thức ăn từ từ cho cây, không gây hiện
tượng héo lá, hoặc lốp đỏ như trường hợp bón nhiều phân đạm hóa học dễ hòa tan

9


Bảng 1.2: Thành phần dinh dưỡng của phân chuồng (Đơn vị: % )
Loại phân

H2O

N

Heo

82.0

0.80

Trâu bò

83.1

Ngựa

P2O5


0.35

0.15

0.12



56.0

1.63

1.54

0.85

2.40

0.74

Vịt

56.0

1.00

1.40

0.62

của đất.
Cây phân xanh có nhiều loài và phần lớn có khả năng thích nghi rộng cho nên
cây phân xanh có thể trồng được ở nhiều nơi và có thể nói, nơi nào cũng có thể trồng
được phân xanh. Trong điều kiện khí hậu nhiệt đới của nước ta, chúng ta có tập đoàn
cây phân xanh rất phong phú. Với điều kiện khí hậu ẩm, mưa nhiều, nhiệt độ cao, quá
trình rửa trôi, xói mòn đất diễn ra với cường độ lớn, các loại cây phân xanh có vai trò
rất to lớn trong việc gìn giữ, cải tạo đất và góp phần rất đắc lực làm tăng năng suất các
loại cây trồng.
Cây phân xanh có khả năng thích nghi lớn, nhưng không phải loài cây nào ở
đâu trồng cũng được. Năng suất chất xanh và khả năng phát triển của các loài cây có
thể thay đổi tuỳ theo chân đất và điều kiện cụ thể ở từng nơi. Có loài thích hợp ở ruộng
lúa, có loài thích hợp ở các chân đất đồi, có loài thích hợp ở các chân đất cát, có loài
thích hợp ở các tỉnh Nam Bộ, có loài thích hợp ở các tỉnh miền núi phía Bắc, v.v.. Vì
vậy, cần lựa chọn các loài thích hợp với điều kiện của địa phương để trồng mới thu
được kết quả tốt. Cây phân xanh cũng thường chỉ phát huy tác dụng trong những cơ
cấu nhất định với các loài cây trồng, vì vậy cần lựa chọn những cơ cấu cây trồng hợp
lý với thành phần cây phân xanh phù hợp để trồng xen, trồng gối hoặc luân canh.
Cách sử dụng phân xanh: Có nhiều cách, nhưng chủ yếu là các cách sau đây:
- Khi cây phân xanh ra hoa, người ta cày vùi chúng vào đất vì lúc này cây phân
xanh có năng suất sinh khối cao, cây chưa có hạt nên hạt chưa rụng xuống đất mọc
thành cây con gây trở ngại cho việc trồng cây chính vụ sau.
- Dùng cây phân xanh bón lót cho cây trồng lúc làm đất
- Đưa vào hệ thống luân canh, sau một số vụ trồng cây trồng chính, người ta
trồng một vụ cây phân xanh để làm tốt đất và loại trừ một số loài sâu bệnh của cây
trồng chính.
- Tủ gốc, phủ luống, cho cây lâu năm.

11



hàm lượng không nhiều. Mặc dù phân hữu cơ không có tác dụng tức thời như phân
hóa học, nhưng bón số lượng lớn thì tác dụng của nó không thua kém phân hoá học
(Nguyễn Thanh Hùng, 1984).
1.3.4. Thuận lợi khó khan khi sư dụng phân hữu cơ:
1.3.4.1.Thuận lợi
- Kích hoạt những chất dinh dưỡng có sẵn dưới dạng khó hấp thu trong đất thành
dạng hữu hiệu sẵn sàng cho cây sử dụng qua sự hoạt động mạnh mẽ của các sinh vật
đất.
- Với cấu trúc hóa học phức tạp, việc chuyển đổi diễn ra chậm nên các chất dinh
dưỡng được phóng thích từ từ cho cây trồng, tránh hiện tượng bộc phát tăng trưởng rồi
mau tàn như phân hóa học.
- Cải thiện cấu trúc của đất do các sinh vật đất như giun, dế sinh sống làm đất
thông thoáng hơn; các vi sinh vật phân hủy và chuyển đổi cấu trúc các nguyên liệu hữu
cơ tạo nên lớp mùn, lớp mùn liên kết với các ion kim loại và chất dinh dưỡng làm thay
đổi cấu trúc của đất theo chiều hướng tốt hơn, đất có khả năng giữ ẩm tốt hơn.
- Ngăn chặn tình trạng lớp đất mặt bị xói mòn và rửa trôi.
- Cây trồng phát triển mạnh mẽ hơn do các chất dinh dưỡng được cung cấp cân
đối.
- Nông sản gia tăng chất lượng do tỷ lệ đường và các chất tạo hương vị đặc thù cao
hơn vì các mô không phải tích một lượng nước nhiều để hóa giải sự tích tụ các muối
như trong phân hóa học.
- Hạn chế tình trạng rửa trôi các chất dinh dưỡng thặng dư gây hiện tượng phú
dưỡng nơi ao hồ.
- Các nhà vườn, hộ gia đình có thể tận dụng chất thải tại trang trại (các tồn dư thực
vật) và tại nhà (rác sinh hoạt, phân chuồng) để chế biến thành phân bón, do đó giá
thành có thể rẻ hơn.

13




cơ phức tạp dưới tác động của vi sinh vật hoặc các hoạt chất sinh học của chúng được
chuyển hóa thành mùn.
1.5. Kết quả nghiên cứu về phân bón sinh học
Sử dụng bừa bãi các loại phân bón tổng hợp đã dẫn đến sự ô nhiễm đất, nước,
phá hủy vi sinh vật, côn trùng có ích làm cho cây trồng dễ bị bệnh, giảm độ phì trong
đất (Mishra và cs, 2013). Một trong những cách giảm thiểu ô nhiễm đất trong nông
nghiệp hiện đại là việc sử dụng phân bón sinh học đã được khuyến cáo bởi các nhà
nghiên cứu để thay thế phân hóa học. Phân bón sinh học có thể mang lại một số lợi ích
như cố định đạm, huy động phốt pho và vi chất dinh dưỡng thông qua việc sản sinh
các axít hữu cơ và làm giảm độ pH của đất (Ahmed, 2000). Bên cạnh đó, các vi sinh
vật như vi khuẩn Pseudomonas, Azotobacter, Azospirillium và Mycorhyzae có thể tiết
ra các chất thúc đẩy tăng trưởng như: Giberelin, Cytokinin, Auxin (Ahmed, 2000).
Việc áp dụng phân bón sinh học không chỉ làm giảm việc sử dụng 20 - 50%
phân bón hóa học, nhưng đồng thời làm tăng năng suất cây trồng từ 10
(Hashemzadeh, 2013).
Sử dụng Azospirillum brasilense và Azotobacter chroococcmn cùng với 30 kg
N làm tăng chiều cao cây, chiều dài rễ, trọng lượng tươi và khô của các bộ phận cà
chua (Bablimog, 2007).
Các kết quả nghiên cứu về hàm lượng nitrat trong rau ở Nga đã chỉ ra rằng: sử
dụng phân hữu cơ sinh học có tác dụng làm giảm hàm lượng nitrat trong cần tây từ
1.198 - 1974 mg/kg đồng thời làm tăng năng suất và giảm hàm lượng muối trong đất
(Cao Thị Làn, 2011).
Việc sử dụng chế phẩm sinh học trong canh tác cây trồng đang là xu hướng của
Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung nhằm bảo đảm an toàn sinh học, an toàn thực
phẩm và an toàn môi trường.
Những nghiên cứu về phân bón đạm vi sinh Biogro ở xóm Tâm Thái, xã Hóa
Thượng, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên trong 4 vụ cho thấy: việc dùng đạm vi

15



là hai loại rau có dư lượng nitrat vượt mức khá cao: rau cải xanh 559,59 mg/kg, rau
cải ngọt 655,92 mg/kg (Cao Thị Làn, 2011).
Theo Đặng Thu An (1998) khi khảo sát chất lượng rau ở các chợ nội thành Hà
Nội cho thấy 30 trong 35 loại rau phổ biến có tồn dư NO 3- vượt trên 500 mg/kg. Các
loại rau như cải xanh, rau đay, rau dền, củ cải… không có mẫu nào có tồn dư NO3dưới 500 mg/kg (Trần Khắc Thi, 2011).
Thống kê của Cục Nông nghiệp – Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
(2004) cho thấy, kết quả phân tích hàm lượng nitrat trên bắp cải, cải xanh, su hào, cà
chua, nho ở Hà Nội, Bắc Giang, Hải Phòng, TP.HCM... đã phát hiện nhiều mẫu rau củ
có hàm lượng nitrat vượt mức cho phép từ 1,3-5 lần.
Theo Mai Văn Minh (2014) Kiểm nghiệm hàm lượng nitrat của 50 mẫu rau
(gồm 40 mẫu rau cải, 10 mẫu mướp đắng) ở Quảng Bình cho thấy, số mẫu rau phát
hiện nhiễm dư lượng nitrat chiếm đến 36% (18/50 mẫu), trong số đó có 5 mẫu chứa dư
lượng nitrat vượt quá ngưỡng cho phép. Các mẫu rau có dư lượng nitrat vượt ngưỡng
an toàn đều là các mẫu rau cải, đây là các mẫu rau được khuyến cáo không nên sử
dụng. Những kết quả này cho thấy thực trạng dư thừa nitrat trong rau củ quả rất đáng
báo động.
1.7. Tác động của dư lượng nitrat tới sức khỏe con người
Có hơn 97% thực phẩm bị nhiễm nitrat từ việc tiêu thụ các loại rau, đóng góp
đáng kể nhất là khoai tây (32%) và xà lách ( 29%), với sự đóng góp nhỏ hơn: bắp cải
(8,9%), cải xoong (5,6%), cải bó xôi trắng (Hmelak Gorenjak và Cencic, 2013).
Dư lượng nitrat (NO3-) trong rau được quan tâm vì chúng có tiềm năng chuyển
đổi thành nitrit sau khi hấp thụ. Mặc dù những rủi ro hấp thụ nitrat như một chất tự
nhiên trong rau chưa được đánh giá và chính bản thân nitrat không có tác dụng độc
hại đối với trao đổi chất của con người hoặc động vật, nhưng nitrit có thể gây hại
(Sunlarp Sanguandeekul, 1999 ). Trong hệ thống tiêu hóa nitrat (NO 3-) bị khử thành
nitrit (NO2-):
2H+


1.8. Biện pháp làm giảm nitrat
Để giảm dư lượng nitrat trong rau, theo Tạ Thị Cúc (2005), những yếu tố gây
trở ngại cho quá trình nitrat hóa có thể điều chỉnh thông qua nhiều biện pháp:
+ Phân bón: là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến dư lượng NO3- tăng cao trong sản
phẩm. Chủng loại phân bón (phân hữu cơ và phân vô cơ), liều lượng dùng, bón phân
không cân đối giữa các nguyên tố N, P, K; phương pháp bón.
Đặc biệt quá lạm dụng phân đạm vô cơ trong sản xuất rau, bón dạng đạm gốc
NO3- sẽ làm cho dư lượng NO3- tăng lên rõ rệt.

18


Phương pháp bón phân: bón rải đều ở độ sâu 15 - 20 cm, trộn đều đất với phân
bón, tưới phân thúc làm nhiều lần (4 - 5 lần) sẽ thuận lợi cho quá trình nitrat hóa.
+ Điều kiện thời tiết khí hậu cũng ảnh hưởng đến quá trình nitrat hóa: nhiệt độ
dao động quá lớn, thời gian chiếu sáng trong ngày ngắn, ánh sáng yếu sẽ làm tăng
NO3- trong cây.
+ Độ ẩm thừa hoặc thiếu đều ảnh hưởng không tốt đến quá trình nitrat hóa.
+ Đất đai: gieo trồng trên đất nhẹ, tơi xốp (đất cát pha, đất thịt nhẹ) thì sẽ làm
giảm dư lượng nitrat trong cây.
+ Diện tích dinh dưỡng: khi tăng khoảng cách hàng, khoảng cách cây và diện
tích dinh dưỡng cho mỗi cá thể và giảm mật độ gieo trồng trên đơn vị diện tích sẽ hạn
chế sự tích tụ dư lượng NO3- trong cây.
+ Phương pháp thu hoạch: muối độc hại thường tích tụ nhiều ở gốc cây, khi thu
hoạch phải cắt cao, cắt xa gốc thì dư lượng NO3- sẽ ít hơn.
+ Phương pháp bảo quản và chế biến: bảo quản và chế biến ở nhiệt độ 0oC đến
1oC, dư lượng NO3- giảm đi từ 30 - 67% so với thời gian đầu mới bảo quản.
+ Vệ sinh thực phẩm và kỹ thuật nấu nướng: rau rửa sạch trước khi chế biến,
thức ăn nấu nướng bằng áp suất cao thì dư lượng nitrat giảm 3 lần.
1.9. Nông nghiệp hữu cơ


-

Sản xuất hữu cơ là làm việc trong hệ thống khép kín nhiều nhất có thể

-

Tránh gây ô nhiễm từ canh tác nông nghiệg

-

Giảm thiểu sử dụng nguồn nguyên liệu không có khả năng phục hồi
Duy trì và bảo vệ môi trường.

1.9.3. Các tiêu chuẩn cơ bản để sản xuất cây trồng hữu cơ
- Tiêu chuẩn 10TCN-602-2006 về sản xuất và chế biến các sản phẩm hữu cơ được Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2006 và Tiêu
chuẩn này đã được IFOAM công nhận từ đầu tháng 9/2013, đây là sự nỗ lực rất lớn của
PGS Việt Nam vào gia đình PGS IFOAM.
1. Nguồn nước được sử dụng trong canh tác hữu cơ phải là nguồn nước sạch, không bị ô
nhiễm (theo quy định trong tiêu chuẩn sản xuất rau an toàn của TCVN 5942-1995)
2. Khu vực sản xuất hữu cơ phải được cách ly tốt khỏi các nguồn ô nhiễm như các nhà
máy, khu sản xuất công nghiệp, khu vực đang xây dựng, các trục đường giao thông
chính…
3. Cấm sử dụng tất cả các loại phân bón hóa học trong sản xuất hữu cơ.
4. Cấm sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật hóa học.
5. Cấm sử dụng các chất tổng hợp kích thích sinh trưởng.
6. Các thiết bị phun thuốc đã được sử dụng trong canh tác thông thường không được sử

20

chất trước khi sử dụng
15. Cấm đốt cành cây và rơm rạ, phá rừng và hủy hoại môi trường sinh thái
16. Cấm sử dụng phân người.
17. Phân động vật lấy vào từ bên ngoài trang trại phải được ủ nóng trước khi dùng trong
canh tác hữu cơ.
18. Cấm sử dụng phân ủ được làm từ rác thải đô thị.

21


19. Các sản phẩm từ biogas gồm nước và chất lắng không được sử dụng trực tiếp mà phải
đưa vào ủ nóng trước khi đưa ra ruộng để sử dụng
20. Nông dân phải có các biện pháp phòng ngừa xói mòn và tình trạng nhiễm mặn đất.
21. Một loại cây phân xanh cần được đưa vào cơ cấu luân canh cây trồng trong một năm
22. Túi và các vật đựng để vận chuyển và cất giữ sản phẩm hữu cơ đều phải mới hoặc
được làm sạch. Không được sử dụng các túi và vật đựng các chất bị cấm trong canh
tác hữu cơ.
23. Thuốc BVTV bị cấm trong canh tác hữu cơ không được phép sử dụng trong kho trữ
sản phẩm hữu cơ.
24. Chỉ những phân bón, chất dưỡng đất và các đầu vào được liệt kê trong danh mục phê
chuẩn của PGS mới được phép sử dụng.
1.9.4. Canh tác theo hướng hữu cơ
Theo Mai Hải Châu (2016) đến chưa có một định nghĩa chính thức nào về canh
tác theo hướng hữu cơ, tuy nhiên có thể hiểu canh tác theo hướng hữu cơ là tiệm cận
với tiêu chuẩn canh tác hữu cơ. Đối chiếu tiêu chuẩn và danh mục đầu vào phê duyệt
cho sản xuất hữu cơ của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2016) thì ở Việt
Nam rất khó đạt được các tiêu chuẩn này. Một số tiêu chuẩn bắt buộc trong sản xuất
khó đạt được như: đất sản xuất hữu cơ là loại đất tự nhiên hoặc đất rừng chưa áp dụng
biện pháp kỹ thuật canh tác nào; nước tưới phải đạt tiêu chuẩn nước sạch; thiết lập tính
đa dạng thực vật bằng cách luân canh cây trồng, cây họ đậu và trồng các loại cây che

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Asean Cooperation in Food, Agriculture and Forestry (2004), Asean hamonizided
maximum residue limits (MRLs), Crops Publication No.1/2004.
2. Diễn đàn khuyến nông @ 2013. Hội Thảo Nông nghiệp hữu cơ – Thực Trạng – Giải
pháp – Định hướng phát triển Lần thứ I TP. Hồ Chí Minh, ngày 27/ 9/ 2013.
NXB Nông Nghiệp TPHCM.
3. Lê Văn Hưng, 2001. Phát triển Nông nghiệp hữu cơ trên thế giới và hướng phát
triển ở Việt Nam. Hội thảo “Thông tin mới về quản lý vườn cây ăn quả theo
hướng hữu cơ” Cần Thơ ngày 6/12/2003.
4. Lê Thị Khánh, 2008. Bài giảng cây rau, Trường Đại học Nông lâm Huế.
6. Nguyễn Văn Bộ (2000), Nông nghiệp hữu cơ ở Việt Nam: Thách thức và cơ hội.
NXB nông nghiệp, Hà Nội.
5. Nguyễn Trường Thành 200. Thực trạng và giải pháp cho sản xuất rau an toàn hiện
nay ở Việt Nam. NXB Nông nghiệp, Hà Nội.
7. Mai Văn Quyền, Lê Thị Viết Nhi, Ngô Quang Vinh, Nguyễn Thị Hoa, Nguyễn Tuấn
Kiệt và Vũ Văn Bình, 1995. Sổ tay trồng rau, NXB Nông nghiệp TP. Hồ Chí
Minh 1995.
8. Nguyễn Cẩm Long, 2014. Nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật sản xuất cải xanh an
toàn theo hướng VietGAP ở tỉnh Quảng Bình. Luận Văn tiến sĩ nông nghiệp.
Đại học Nông Lâm Huế.
24


9. Phạm Minh Tâm, 2001. Nghiên cứu ảnh hưởng của việc bón phân có đạm đến
năng suất và sự biến động hàm lượng Nitrat trong cải bẹ xanh và trong đất,
Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh.
10. Phạm Quang Toản, Lương hữu Thành, 2007. Sản xuất thử nghiệm phân bón vi sinh
vật đa chủng, phân bón chức năng phục vụ chăm sóc cây trồng cho một số
vùng sinh thái. Báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài KNCN, 2007.
11. Porter, WP. Jaeger, JW & Carlson, IH (1999). Endocrrine, immune and


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status