skkn bồi dưỡng năng lực ứng dụng công nghệ thông tin cho đội ngũ giáo viên trung học phổ thông - Pdf 43

SỞ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TỈNH ĐỒNG NAI
PHÒNG TỔ CHỨC CÁN BỘ
-------------------Mã số:……………….

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

BỒI DƢỠNG NĂNG LỰC ỨNG DỤNG CÔNG
NGHỆ THÔNG TIN CHO ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN
CÁC TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

Người Thực hiện: Bùi Thị Ngọc Nga
Lĩnh vực nghiên cứu:
 Quản lí giáo dục: QLCNTT



 Phương pháp dạy học bộ môn…



 Lĩnh vực khác…………………..



Có đính kèm:

 Mô hình

 Phần mềm

 Phim ảnh

Có đính kèm:
 Mô hình

 Phần mềm

 Phim ảnh

Năm học: 2016 - 2017

 Hiện vật khác


SƠ LƢỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC

I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
1. Họ và tên: BÙI THỊ NGỌC NGA
2. Ngày tháng năm sinh: 11/05/1983
3. Nam_nữ: Nữ
4. Địa chỉ: Số 57 đường Tân Triều, xã Tân Bình, huyện Vĩnh Cửu, Đồng Nai
5. Điện thọai:

(CQ):

(NR): ĐTDĐ: 0908.585.449

6. Fax:

Email:

7. Chức vụ: chuyên viên

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng sự nghiệp giáo dục, đào tạo,
Người luôn dành sự quan tâm đặc biệt cho đội ngũ làm công tác giáo dục. Trong tư
tưởng, Người luôn thể hiện những trăn trở, những yêu cầu, những lời dặn dò và kỳ
vọng to lớn đối với việc xây dựng đội ngũ những người thầy trong xã hội. Chủ tịch
Hồ Chí Minh khẳng định: đội ngũ giáo viên (GV) luôn giữ một vị trí, vai trò vô
cùng quan trọng, họ là người quyết định thành công trong công cuộc xây dựng và
đổi mới nền giáo dục. “Không có Thầy giáo thì không có giáo dục”. Câu nói đó
của Người khẳng định vai trò không thể thay thế của người GV trong sứ mệnh đào
tạo thế hệ trẻ. Chất lượng, nhân cách, phẩm chất đạo đức và lý tưởng của đội ngũ
này như thế nào sẽ ảnh hưởng to lớn và trực tiếp đến sản phẩm mà họ đào tạo ra đó chính là con người. Do đó, việc xây dựng và phát triển đội ngũ GV không chỉ là
vấn đề mang tính lý luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc đối với sự phát triển
giáo dục của nước ta.
Đối với các trường THPT trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, bên cạnh nhiều GV có
trình độ chuyên môn vững vàng, năng lực giảng dạy tốt, vẫn còn GV chưa có ý
thức cao trong học tập vươn lên để rèn luyện tay nghề; chuyển biến trong việc cải
tiến phương pháp giảng dạy còn chậm, mức độ ứng dụng CNTT vào hoạt động
chuyên môn, giảng dạy còn mang tính tự phát, chưa phổ biến; biện pháp quản lý
ứng dụng CNTT chưa cụ thể, chưa phù hợp; việc ứng dụng CNTT của đội ngũ GV
còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới GD-ĐT hiện nay. Về mặt quản lý nhà
trường cho thấy, các biện pháp quản lý của hiệu trưởng (HT) trong quản lý quá
trình dạy học (DH) nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng CNTT cho đội ngũ GV còn
chưa đủ mạnh, chưa đáp ứng tốt được các yêu cầu của giáo dục trong giai đoạn
mới. Từ những bất cập nêu trên, cần thiết phải có những biện pháp quản lý phù
hợp tác động đến đội ngũ GV, thúc đẩy việc ứng dụng CNTT cho đội ngũ GV một
cách khoa học và hữu hiệu. Từ đó, góp phần nâng cao hiệu quả chất lượng GD-ĐT
đáp ứng yêu cầu đổi mới hiện nay.
Nhận thức được ý nghĩa và tầm quan trọng của vấn đề trên, nên tôi chọn đề tài
nghiên cứu “Bồi dƣỡng năng lực ứng dụng công nghệ thông tin cho đội ngũ
giáo viên trung học phổ thông”.
Trang 1

cuộc đổi mới, phát triển nhanh và hiện đại hóa các ngành kinh tế, tăng cường
năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, hỗ trợ có hiệu quả cho quá trình chủ
động hội nhập kinh tế quốc tế, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, đảm
bảo an ninh, quốc phòng và tạo khả năng đi tắt đón đầu để thực hiện thắng lợi sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa”.
Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 04/11/2013 của BCHTW Đảng khóa XI về
đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa,
hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội
nhập quốc tế.
Thông tư số 03/2014/TT-BTTTT, ngày 11/3/2014 của Bộ Thông tin và
Truyền thông quy định chuẩn kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin.
Quyết định số 163/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt Đề án đào
tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức giai đoạn 2016 - 2025. Đề án nêu rõ:
Trang 2


“Tập trung bồi dưỡng đáp ứng yêu cầu tiêu chuẩn quy định về trình độ lý luận
chính trị, kiến thức quản lý nhà nước, kiến thức quốc phòng - an ninh, tin học,
ngoại ngữ,…”.
Quyết định số 732/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt Đề án Đào
tạo, bồi dưỡng nhà giáo và cán bộ quản lý cơ sở giáo dục đáp ứng yêu cầu đổi mới
căn bản, toàn diện giáo dục phổ thông giai đoạn 2016 - 2020, định hướng đến năm
2025. Đề án nêu rõ: “Bồi dưỡng nâng cao năng lực ngoại ngữ, tin học cho nhà
giáo và cán bộ quản lý cơ sở giáo dục nói chung…”.
Bộ Giáo Dục và Đào Tạo đã có chủ trương ứng dụng CNTT trong giáo dục
như chỉ thị 55/2008/CT-BGDĐT ngày 30/09/2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo Dục và
Đào Tạo về tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng CNTT trong ngành giáo
dục giai đoạn 2008-2012 nêu rõ: “Triển khai áp dụng CNTT trong dạy và học, hỗ
trợ đổi mới phương pháp giảng dạy, tích hợp ứng dụng CNTT ngay trong mỗi môn
học một cách hiệu quả và sáng tạo ở những nơi có điều kiện thiết bị tin học; xây

động này” [14, tr.1-2].
Như vậy, đối với GD-ĐT có thể hiểu: ứng dụng CNTT trong lĩnh vực GD-ĐT
là việc sử dụng CNTT vào các hoạt động giáo dục, các hoạt động giảng dạy, học
Trang 3


tập và quản lý giáo dục của từng cơ sở giáo dục nhằm nâng cao chất lượng, hiệu
quả của các hoạt động quản lý, các hoạt động dạy học và giáo dục.
CNTT có thể được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Trong QL nhà
trường THPT, chúng ta có thể chia những khả năng ứng dụng CNTT làm hai phạm
trù:
- CNTT là một hệ thống trợ giúp. Với công tác hành chính thì CNTT thường
xuyên đem đến những sự trợ giúp to lớn. Những công việc hành chính phức tạp và
tốn nhiều thời gian có thể được đơn giản hóa và vi tính hóa. Ví dụ như lập kế
hoạch, QL hệ thống, làm báo cáo, kế toán, hành chính, kiểm tra mọi hoạt động
trong nhà trường THPT.
- Lồng ghép sử dụng CNTT: Khi nhà QL thực sự sử dụng CNTT trong các
hoạt động QL, khi đó gọi là sử dụng lồng ghép. Vấn đề sử dụng ứng dụng CNTT
trong QL như thế nào có thể được phân ra làm nhiều cách. Ở đây, chúng ta chỉ
phân loại giữa việc ứng dụng CNTT như là một đối tượng học tập, một công cụ
QL, là một người hướng dẫn, một phương tiện mở với việc sử dụng CNTT như là
một phương tiện truyền thông.


Khái niệm về năng lực
Theo Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam: “Năng lực là đặc điểm của cá
nhân thể hiện mức độ thông thạo - tức là có thể thực hiện một cách thành thục và
chắc chắn - một hay một số dạng hoạt động nào đó. Năng lực gắn liền với những
phẩm chất về trí nhớ, tính nhạy cảm, trí tuệ, tính cách của cá nhân. Năng lực có thể
phát triển trên cơ sở năng khiếu (đặc điểm sinh lí của con người, trước hết là của

thạo sử dụng các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại
nhằm tổ chức, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin
trong quản lý hoạt động đào tạo, đảm bảo cho hoạt động quản lý đào tạo đạt kết
quả cao.
Năng lực ứng dụng CNTT được thể hiện ở kiến thức, kỹ năng ứng dụng
CNTT. Theo tác giả Eddic Naylor (2002) [21], có thể thấy: Kiến thức và kỹ năng
ứng dụng CNTT bao gồm kỹ năng sử dụng máy tính; kỹ năng sử dụng thiết bị
CNTT; kiến thức cơ bản về tin học, kỹ năng diễn đạt ý tưởng bằng công cụ CNTT,
kỹ năng khai thác thông tin từ Internet, kỹ năng khai thác phần mềm tác nghiệp, ứng
dụng CNTT để tạo ra các sản phẩm phần mềm; khả năng cập nhật tri thức mới về
CNTT.
Với tốc độ CNTT phát triển nhanh chóng như hiện nay có tác động rất mạnh
đến GD-ĐT, đặc biệt trong trường học đòi hỏi GV ngoài năng lực chuyên môn
nghiệp vụ còn phải có năng lực ứng dụng CNTT để phục vụ tốt cho hoạt động nghề
nghiệp của mình. Năng lực ứng dụng CNTT mà mỗi GV ở các trường THPT cần có
là năng lực cập nhật tri thức về CNTT, năng lực sử dụng máy tính, năng lực sử dụng
thiết bị CNTT và truyền thông, năng lực khai thác và sử dụng internet, năng lực sử
dụng các phần mềm chuyên môn nghiệp vụ, năng lực diễn đạt ý tưởng bằng công cụ
CNTT và trình độ tiếng Anh. Có như vậy thì mới có thể đáp ứng được yêu cầu xã
hội hiện nay đề ra cho ngành giáo dục.


Khái niệm phƣơng pháp dạy học (PPDH):
PPDH là khái niệm cơ bản của lí luận dạy học, nhưng đến nay vẫn còn nhiều
vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu và thống nhất trong cách định nghĩa, phân loại
cũng như xác định mô hình cấu trúc của PPDH.
Khái niệm PPDH có thể hiểu theo nghĩa rộng là những hình thức và cách thức
hoạt động của GV và HS trong những điều kiện dạy học xác định nhằm đạt được
mục tiêu dạy học.
PPDH là một khái niệm phức hợp, có nhiều bình diện, phương diện khác nhau..

năng lực đáp ứng yêu cầu xây dựng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập quốc
tế.
Trong giai đoạn hiện nay, giáo dục không những cần phải đào tạo ra những
con người có tri thức khoa học, mà còn phải giỏi cả thực hành. Qua thực hành với
CNTT, đức tính kiên trì, cẩn thận, chính xác, kỷ luật... được rèn luyện, tình yêu lao
động được nảy nở. Đó là những phẩm chất rất cần thiết đối với người lao động mới
và phải được hình thành qua một quá trình rèn luyện lâu dài, bằng những hoạt
động thực hành đa dạng. Ngoài ra, CNTT làm thúc đẩy sự phát triển trí tưởng
tượng của HS và giúp HS sáng tạo hơn trong học tập. HS có nhiều cơ hội để được
tiếp cận với những GV thậm chí khoảng cách giữa thầy và trò là rất xa. Môi trường
có ứng dụng CNTT, GV có thể tổ chức nhiều hình thức học tập phong phú như:
học nhóm, phiếu học tập, các bài tập trắc nghiệm, các trò chơi học tập...
Như vậy, có thể khẳng định rằng việc ứng dụng CNTT làm thay đổi cách tiếp
cận dạy và học, hành vi và phong cách dạy và học, tình huống diễn ra hoạt động
dạy và học. Trọng điểm là CNTT làm thay đổi môi trường học tập, GV và HS là
những đối tác quan trọng trong quá trình ứng dụng CNTT. Trong đó, vai trò và
nhiệm vụ GV rất quan trọng, góp phần trong việc nâng cao chất lượng DH ở
trường THPT.
Tuy nhiên, trước yêu cầu “Đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo đáp
ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”, đội ngũ GV có những hạn chế,
bất cập như:
Khả năng sử dụng ngoại ngữ và ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng
dạy còn hạn chếs.
Đa số GV chưa được đào tạo, bồi dưỡng có hệ thống. Chưa thực sự đáp ứng
yêu cầu nhiệm vụ; tính chuyên nghiệp thấp, làm việc chủ yếu dựa vào kinh nghiệm
cá nhân nên chất lượng, hiệu quả công tác chưa cao.
Trang 6



CNTT cho đội ngũ GV có hiệu quả hơn, đáp ứng tốt được các yêu cầu của giáo
dục trong giai đoạn mới.
2.6. Khái quát quá trình thực hiện
CNTT là một thành phần quan trọng trong nhà trường, việc bồi dưỡng ứng
dụng CNTT cho đội ngũ GV đang trở thành một trong những mục tiêu quan trọng
của ngành GD-ĐT trong giai đoạn hiện nay. Ngành GD-ĐT đã tích cực ứng dụng
CNTT vào công tác quản lý và dạy học. Nhờ có sự hỗ trợ của CNTT hiện đại nên
góp phần nâng cao chất lượng giáo dục. Do đó, đối với trường THPT cần phải triển
khai việc bồi dưỡng ứng dụng CNTT cho đội ngũ GV là vấn đề thiết yếu trong nhà
trường.
Ngày nay, người GV không những phải có năng lực chuyên môn đã được đào
tạo, mà còn phải có trình độ và kỹ năng ứng dụng CNTT để phục vụ tốt cho hoạt
Trang 7


động nghề nghiệp của mình. Việc ứng dụng CNTT không chỉ mang lại hiệu quả
thiết thực cho hoạt động chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ GV mà còn mang lại
nhiều lợi ích thiết thực trong nghiên cứu khoa học và trong đời sống. Để việc ứng
dụng CNTT của GV có hiệu quả, người GV cần phải có: kiến thức về CNTT; kỹ
năng sử dụng máy tính; kỹ năng sử dụng thiết bị CNTT; kỹ năng sử dụng internet;
kỹ năng diễn đạt ý tưởng bằng công cụ CNTT; kỹ năng sử dụng các phần mềm
chuyên môn nghiệp vụ và trình độ ngoại ngữ để phục vụ cho hoạt động giảng dạy
của mình.
Do đó, để làm cơ sở cho việc đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu
quả bồi dưỡng ứng dụng CNTT cho đội ngũ GV các trường THPT trên địa bàn tỉnh
Đồng Nai thì việc đánh giá thực trạng về công tác bồi dưỡng nâng cao năng lực
ứng dụng CNTT của GV là rất cần thiết.
2.7. Thực trạng/đánh giá thực trạng vấn đề cần giải quyết
Qua nghiên cứu thực trạng năng lực ứng dụng CNTT và thực trạng công tác
quản lý việc bồi dưỡng ứng dụng CNTT cho đội ngũ GV THPT trên địa bàn tỉnh

Kiến thức, kỹ năng về CNTT được phổ biến nhiều trên sách, tạp chí, đĩa
CD,... Đặc biệt, có thể tra cứu thông tin về CNTT trên mạng thông qua các
website, do đó, tạo được những thuận lợi cho GV trong nghiên cứu ứng dụng
CNTT.
Công tác quản lý nâng cao hiệu quả ứng dụng CNTT cho đội ngũ GV ở các
trường THPT được quan tâm và đã tạo được một số kết quả nhất định.
2.7.2. Khó khăn

Một số CBQL, GV chưa có nhận thức đúng đắn về tính cần thiết phải bồi
dưỡng ứng dụng CNTT.
Việc ứng dụng CNTT trong nghiên cứu, tự học, tự nghiên cứu chưa được GV
chú trọng.
Trình độ về CNTT của đội ngũ GV còn hạn chế. Một số GV đã lớn tuổi nên
rất ngại và gặp khó khăn trong việc bồ dưỡng ứng dụng CNTT.
Việc bố trí bộ phận quản lý thiết bị CNTT của HT chưa có biện pháp phù hợp
giữa quản lý và sử dụng.
CSVC về CNTT đã được nâng cấp lên nhưng vẫn chưa theo nhu cầu sử dụng
của các trường và chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới.
Chưa có những quy định cụ thể về chế độ tài chính, về biên chế, nhân sự phục
vụ các hoạt động ứng dụng CNTT.
Hiệu quả quản lý công tác nâng cao ứng dụng CNTT cho đội ngũ GV chưa cao.
2.8. Nội dung quản lý của hiệu trƣởng trong việc bồi dƣỡng ứng dụng CNTT
cho đội ngũ GV
Quản lý việc nâng cao hiệu quả ứng dụng CNTT trong nhà trường là những
tác động có tổ chức, có hướng đích của HT nhằm tạo điều kiện cho đội ngũ GV
nâng cao trình độ ứng dụng CNTT, sử dụng CNTT vào các hoạt động của nhà
trường nhằm đạt hiệu quả cao. Trong quá trình QL việc ứng dụng CNTT, HT phải
dựa vào các phương tiện QL như chế định GD-ĐT, bộ máy tổ chức và nhân lực,
nguồn tài lực - vật lực, môi trường và hệ thống thông tin. Đồng thời HT phải biết
sử dụng, phối hợp các phương pháp quản lý để thực hiện các chức năng quản lý: kế

Hiệu trưởng và đa số đội ngũ CBQL, GV nhà trường đã nhận thức đúng đắn
về sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả ứng dụng CNTT ở các trường THPT trong
thời đại hiện nay.
Đội ngũ CBQL, GV có trình độ chuyên môn cao. Tuy nhiên, năng lực ứng
dụng CNTT còn hạn chế.
CSVC vẫn còn thiếu thốn, việc trang bị các phương tiện thiết bị CNTT còn
hạn chế. Đội ngũ GV đa số còn trẻ dễ dàng tiếp thu cái mới bên cạnh đó vẫn còn
một bộ phận nhỏ GV có tuổi nghề cao, trình độ CNTT và ngoại ngữ còn hạn chế
nên ảnh hưởng không nhỏ đến việc ứng dụng CNTT trong hoạt động.
Để nâng cao hiệu quả ứng dụng CNTT cho đội ngũ GV, HT cần phải tập
trung quản lý: nâng cao nhận thức; nâng cao trình độ về CNTT; ứng dụng CNTT
của GV trong hoạt động DH hoạt động NCKH của GV; đảm bảo các điều kiện hỗ
trợ cho việc NCNL ứng dụng CNTT cho đội ngũ GV.
Vì vậy, để nâng cao hiệu quả bồi dưỡng ứng dụng CNTT cho đội ngũ GV, tôi
đề xuất các giải pháp sau:
3.1. Nâng cao nhận thức cho đội ngũ GV
Muốn công tác quản lý nâng cao hiệu quả bồi dưỡng ứng dụng CNTT cho đội
ngũ GV, trước hết phải nâng cao nhận thức của đội ngũ GV, tạo ra sự nhất quán về
ý chí và hành động trong cơ quan, chi bộ đảng các đoàn thể và các tổ chức khác
trong nhà trường.
Quản lý nâng cao nhận thức về việc nâng cao năng lực ứng dụng CNTT cho
đội ngũ GV là nâng cao nhận thức về vai trò, trách nhiệm của HT, đội ngũ GV và
các đoàn thể chính trị trong nhà trường đối với công tác này. Vì vậy, nhận thức về
Trang 10


nâng cao năng lực ứng dụng CNTT cho đội ngũ GV vừa là mục tiêu vừa là biện
pháp thực hiện nhằm nâng cao năng lực giảng dạy cho đội ngũ GV ở các trường
THPT.
Hiệu trưởng, các cán bộ quản lý phải có nhận thức đúng đắn và sâu sắc về

Mindmap, Lecture Maker, …) và các phần mềm ứng dụng trong DH bộ môn.
Tổ chức các buổi báo cáo, sinh hoạt chuyên đề, các phong trào thi đua, các
chuyên đề có ứng dụng CNTT trong giáo dục để GV tham gia thể hiện năng lực của
bản thân.
Tạo điều kiện và chọn cử GV tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng về CNTT:
ngoài việc tổ chức đào tạo, bồi dưỡng tại trường, chọn cử GV tham dự đầy đủ các
khóa đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên, bồi dưỡng chuyên đề về ứng dụng CNTT, tích
cực tham gia các cuộc thi ứng dụng CNTT trong dạy học do ngành tổ chức, tạo điều
kiện thuận lợi cho GV giao lưu, học hỏi, trao đổi kinh nghiệm lẫn nhau.
Trang 11


Tổ chức, chỉ đạo việc tự bồi dưỡng, tự nghiên cứu về CNTT của GV, bên cạnh
công tác tổ chức, đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên, với sự biến đổi nhanh chóng của
CNTT, GV phải luôn được cập nhật kiến thức, nâng cao trình độ về CNTT. Muốn
làm được điều này, GV phải biết tự bồi dưỡng, tự nghiên cứu.
Hiệu trưởng cần định hướng những vấn đề nghiên cứu một cách thiết thực, nhất
là những vấn đề liên quan trực tiếp đến công việc mà GV phụ trách. Đồng thời HT
cần tạo điều kiện, môi trường tốt để giáo viên nghiên cứu như: đường truyền Internet,
Website và các hệ thống máy tính, thư viện điện tử của nhà trường phải được hoàn
thiện, các phòng làm việc, phòng GV, đều có máy tính và có kết nối Internet để GV
có điều kiện học hỏi, tìm kiếm tài liệu phục vụ giảng dạy; các giáo trình, bài giảng, sổ
tay hướng dẫn kỹ thuật, tài liệu tham khảo về CNTT cần được biên tập có hệ thống,
khoa học và được đăng tải trên website của nhà trường, hình thành kho dữ liệu sẵn
sàng cung cấp cho nhu cầu của GV khi cần thiết.
3.3. Rèn luyện kỹ năng ứng dụng CNTT cho đội ngũ GV trong hoạt động dạy
học, NCKH, tự học, tự nghiên cứu
Tổ chức tập huấn cho GV nâng cao các kỹ năng ứng dụng CNTT: Kỹ năng
ứng dụng CNTT của GV là khả năng hoạt động, hành động một cách thành thạo,
linh hoạt, sáng tạo với việc đưa thành tựu của CNTT vào hoạt động chuyên môn.

quả cao, đặc biệt là các đề tài có liên quan đến CNTT cần biểu dương và khen
thưởng kịp thời tùy theo tình hình thực tế của nhà trường, nhưng cũng phải thỏa
đáng. Bên cạnh đó, cần nghiêm khắc phê bình những GV xem NCKH như là nghĩa
vụ nên làm chiếu lệ, đạt kết quả thấp. Làm sao khuyến khích, động viên để GV tích
cực, đẩy mạnh việc ứng dụng CNTT trong công tác NCKH.
3.4. Tăng cƣờng hiệu lực các quy định về việc ứng dụng CNTT
Thường xuyên cập nhật đầy đủ các chế định về GD-ĐT về ứng dụng CNTT:
HT cần phải thường xuyên cập nhật đầy đủ các chế định về GD-ĐT về ứng dụng
CNTT để thể chế hóa thành các quy định, hướng dẫn GV thực hiện. Để việc cập
nhật đầy đủ các chế định GD-ĐT về ứng dụng CNTT, HT cần phải:
Xây dựng hệ thống các quy định về QL và lưu trữ công văn để giúp HT quản lý
các chế định về giáo dục một cách chặt chẽ, khoa học. Tiến hành nghiên cứu, phân
loại và xử lý các chế định để nắm bắt những vấn đề cơ bản, cốt yếu, chú trọng các
vấn đề nâng cao hiệu quả ứng dụng CNTT cho đội ngũ GV. Kịp thời in ấn và ban
hành các chế định về GD-ĐT để các chế định được mọi tổ chức, mọi cá nhân trong
nhà trường nắm bắt được kịp thời.
Phổ biến và triển khai các chế định GD-ĐT về ứng dụng CNTT: Việc quán
triệt, triển khai và phổ biến các chế định, là một việc hết sức quan trọng giúp đội
ngũ CB, GV nhận thức đầy đủ các chủ trương Nhà nước, của ngành về ứng dụng
CNTT. Vì vậy, HT phải thường xuyên cập nhật, quán triệt hiệu lực các chế định
mới để CB, GV nắm bắt kịp thời. Muốn vậy, HT cần phải: Xây dựng kế hoạch, đề
án, thể chế hóa các chế định và quy định về việc thực hiện các chế định về ứng
dụng CNTT để CB, GV nhất quán thực hiện có hiệu quả các chế định. Thông qua
các cuộc họp hội đồng, sinh hoạt chuyên môn phổ biến, quán triệt kịp thời những
nội dung cơ bản của các chế định. Tổ chức kiểm tra, uốn nắn những lệch lạc trong
khi thực hiện, góp phần nâng cao hiệu lực của các chế định, giúp HT quản lý tốt
việc nâng cao hiệu quả ứng dụng CNTT của đội ngũ GV.
Trên cơ sở xác định mục tiêu, xây dựng các biện pháp cụ thể, căn cứ vào điều
kiện thực tế của nhà trường, HT chỉ đạo tổ chức thực hiện các chế định về ứng
dụng CNTT một cách hiệu quả. Có thể khẳng định, kế hoạch của HT có vai trò

hiệu quả tài chính nhà trường góp phần nâng cao hiệu quả công tác QL, sử dụng
vốn cho nhà trường đáp ứng yêu cầu, mục tiêu phát triển, nâng cao đời sống vật
chất, tinh thần cho toàn đơn vị. Nguồn tài chính trong nhà trường hiện nay gồm có
nguồn ngân sách nhà nước và nguồn ngoài ngân sách nhà nước. Trong QL nguồn
kinh phí hoạt động thường xuyên, HT phải tiết kiệm tối đa để tăng cường đầu tư
trang thiết bị CNTT. Bên cạnh đó, cần có sự đóng góp giúp đỡ của các cơ quan,
ban ngành, đoàn thể cùng với sự đóng góp của các mạnh thường quân. Đây là
nguồn kinh phí chủ yếu dùng cho trang bị CSVC. Vì vậy, HT làm tốt công tác huy
động nguồn kinh phí này, góp phần lớn cho việc trang bị thiết bị CNTT phục vụ
hoạt động nhà trường. Để QL tốt nguồn kinh phí này, nhà trường và công đoàn
phải duyệt thu chi và công khai cụ thể.
Tăng cường đầu tư, xây dựng hạ tầng, CSVC, thiết bị CNTT đáp ứng yêu cầu
hoạt động ứng dụng CNTT của nhà trường.
Thường xuyên trang bị, cập nhật các phần mềm nghiệp vụ, phần mềm PPDH,
phần mềm phục vụ cho nghiên cứu của GV. Các trường THPT nên định hướng
hoạt động chuyên môn nghiệp vụ qua vận dụng các phần mềm. Đối với phần mềm
ứng dụng, trong quá trình sử dụng do yêu cầu phát sinh của công việc nên luôn
phải thường xuyên nâng cấp, cập nhật. Nên khuyến khích, tạo điều kiện để GV tự
cập nhật phần mềm, tự viết ứng dụng, khi nào không được thì yêu cầu đến nhà
cung cấp phần mềm. HT chỉ đạo tổ CNTT hướng dẫn cho GV sưu tầm các phần
mềm miễn phí trên internet phục vụ cho công việc của mình. Nếu cần thiết thì nên
trang bị các phần mềm theo đề nghị của GV.
Tăng cường đầu tư cho thư viện của nhà trường đầy đủ sách giáo khoa, tài
liệu, tạp chí, đĩa CD,... về CNTT cho GV và HS tham khảo, nghiên cứu. Hàng năm
nên có kế hoạch bổ sung, cập nhật các tài liệu mới về CNTT cho thư viện.
Xây dựng chính sách, tạo điều kiện, khuyến khích GV tự trang bị máy tính,
Trang 14


thiết bị CNTT, tự làm ra các sản phẩm CNTT.

lượng đội ngũ GV về trình độ, năng lực chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp đáp ứng
yêu cầu đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo theo tinh thần của Nghị quyết số
29-NQ/TW. Bồi dưỡng năng lực ứng dụng CNTT cho đội ngũ GV các trường
THPT là một việc làm hết sức cần thiết và phải được tiến hành thường xuyên, liên
tục; cần đổi mới để khắc phục những hạn chế và đáp ứng những yêu cầu mới của
ngành trong thời gian tới. Vì vậy, các nhiệm vụ và giải pháp của chuyên đề này có
ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả ứng dụng CNTT cho đội
ngũ GV các trường THPT trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, đáp ứng yêu cầu đổi mới
căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo góp phần, làm cho chất lượng giáo dục của
tỉnh Đồng Nai nói riêng và cả nước nói chung ngày càng được nâng lên.

Trang 15


Để thực hiện thành công việc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo
thì việc nâng cao chất lượng đội ngũ GV nói chung và GV các trường THPT nói
riêng là một trong những nội dung quan trọng. GV các trường THPT sẽ được bồi
dưỡng về năng lực ứng dụng CNTT để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp
vụ,... đáp ứng yêu cầu đổi mới hiện nay. Vì vậy, đội ngũ GV trường THPT trên địa
bàn tỉnh Đồng Nai là đối tượng đầu tiên được hưởng lợi. Đối tượng được hưởng lợi
tiếp theo là CBQL, HS và PHHS của các trường THPT vì người GV khi được bồi
dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, kĩ năng nghiệp vụ sẽ có nhận thức đúng
đắn, sâu sắc về mục tiêu đổi mới giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao chất lượng
dạy và học trong nhà trường ngày càng tốt hơn.
Khi năng lực ứng dụng CNTT của tất cả GV các trường THPT trên địa bàn
tỉnh Đồng Nai được nâng lên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo thì đối
tượng được hưởng lợi tiếp theo là xã hội, vì chất lượng giáo dục được nâng lên sẽ
góp phần đào tạo những người có tài phục vụ cho sự nghiệp phát triển của địa
phương nói riêng và cả nước nói chung.
Khi thực hiện triển khai và khảo sát trả lời của Cán bộ quản lý và giáo viên về

5. ĐỀ XUẤT, KHUYẾT NGHỊ, KHẢ NĂNG ÁP DỤNG
Ứng dụng CNTT vào giảng dạy ban đầu là một bài toán khó với giáo viên,
nhưng qua một thời gian không dài, chủ trương này đã cho thấy hiệu quả tích cực
khi CNTT mang lại cho cả thầy và trò không gian mới nhiều hứng thú trong lớp
học. Với sự hỗ trợ của máy tính và một số phần mềm dạy học cùng các thiết bị đi
kèm, giáo viên có thể tổ chức tiết học một cách sinh động, các bài giảng không chỉ
mang hơi thở cuộc sống hiện đại gần gũi hơn với học sinh mà còn giúp cả người
dạy và người học được tiếp xúc với các phương tiện hiện đại, làm giàu thêm vốn
hiểu biết của mình. Tuy nhiên, nhà trường cũng xác định rõ với giáo viên: ứng
dụng CNTT không đồng nhất với đổi mới phương pháp dạy học, CNTT chỉ là
phương tiện tạo thuận lợi cho triển khai phương pháp tích cực chứ không phải là
điều kiện đủ của phương pháp này. Không lạm dụng công nghệ nếu chúng không
tác động tích cực đến quá trình dạy học. Để một giờ học có ứng dụng CNTT là một
giờ học phát huy tính tích cực của học sinh thì điều kiện tiên quyết là việc khai
thác CNTT phải đảm bảo các yêu cầu và tính đặc trưng của phương pháp dạy học
tích cực mà giáo viên sử dụng.
Việc ứng dụng CNTT vào dạy học góp phần đổi mới phương pháp dạy học là
một công việc khó khăn, lâu dài, đòi hỏi rất nhiều điều kiện về cơ sở vật chất, tài
chính và năng lực của đội ngũ giáo viên. Do đó, để đẩy mạnh việc ứng dụng và
phát triển CNTT trong dạy học có hiệu quả cần có sự quan tâm đầu tư về cơ sở vật
chất của các cấp, sự chỉ đạo đồng bộ của ngành- của mỗi nhà trường và đặc biệt là
sự nỗ lực học hỏi, rút kinh nghiệm của bản thân mỗi giáo viên.
Công tác bồi dưỡng năng lực ứng dụng CNTT cho đội ngũ GV thành công khi
chúng ta ý thức được tầm quan trọng của đội ngũ GV trong việc đổi mới và phát triển
giáo dục. Do vậy, quản lý để nâng cao chất lượng đội ngũ GV, thông qua việc đổi mới
công tác bồi dưỡng GV là nhiệm vụ trọng tâm, là công tác trọng yếu nhất của các cấp
quản lý, các trường THPT hiện nay. Thực tế để nâng cao hiệu quả ứng dụng CNTT
cho đội ngũ GV cần phải có nhiều giải pháp đồng bộ được xây dựng trên cơ sở lý
luận, dựa trên các kết quả điều tra và khảo sát, phân tích các hoạt động thực tiễn ở các
địa phương, qua ý kiến của các nhà quản lý. Vì vậy tôi đề xuất, khuyết nghị như sau:

xã hội cho việc xây dựng cơ sở vật chất và thiết bị DH của nhà trường. Hoàn thiện các
biện pháp quản lý CSVC và thiết bị DH. Dựa trên các nhu cầu về trang thiết bị hạ
tầng CNTT mà HT sẽ cho mua sắm theo lộ trình và thứ tự ưu tiên đã đề ra.
Nhà trường nên huy động các Mạnh thường quân tạo điều kiện cho GV còn khó
khăn vay tiền không tính lãi và trả dần để GV mua máy tính xách tay phục vụ cho
việc ứng dụng CNTT trong giảng dạy.
Trên cơ sở kế hoạch chung của nhà trường, HT cần yêu cầu thực hiện việc lập kế
hoạch ở cấp tổ và kế hoạch cá nhân. Giao cho phó HT phụ trách mảng này thường
xuyên theo dõi, chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện kế hoạch. Cần tổ chức đánh giá năng
lực ứng dụng CNTT của GV thường xuyên để đề ra kế hoạch bồi dưỡng kịp thời cho
những GV còn yếu về ứng dụng CNTT trong giảng dạy.
Trong công tác tuyển dụng GV, cần kiểm tra kiến thức và kỹ năng tối thiểu về
CNTT bằng khả năng đáp ứng yêu cầu công việc thực tế.
Với chuyên đề sáng kiến này, tôi mong muốn được cống hiến cho sự nghiệp giáo
dục của ngành nói chung, tỉnh nhà nói riêng sang một trang mới từ việc bồi dưỡng
cho đội ngũ giáo viên biết ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ vào giảng dạy
hiệu quả. Với kết quả thực hiện tại một số trường THPT đặc thù trong tỉnh mang lại
hiệu quả cao, từ đó có thể áp dụng cho tất cả các trường THPT trong tỉnh. Tôi mong
rằng có thể góp một phần công sức nhỏ bé vào việc quản lý đổi mới phương pháp
giảng dạy, học tập của thầy và trò các trường phổ thông giáo dục tỉnh nhà.
Người thực hiện

Bùi Thị Ngọc Nga
Trang 18


DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ban chấp hành trung ương Đảng (2000), Chỉ thị về đẩy mạnh ứng dụng và phát
triển công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, số
58-CT/TW, ngày 17 tháng 10 năm 2000, Hà Nội.

Trường Đại học Sư phạm - Đại học Huế.
16. Sở GD-ĐT Đồng Nai (2011, 2012, 2013, 2014, 2015, 2016), Báo cáo tổng kết
các trường THPT trong tỉnh Đồng Nai.
17. Thủ tướng chính phủ (2009), Phê duyệt Kế hoạch tổng thể phát triển nguồn
nhân lực công nghệ thông tin đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020,
Quyết định số: 698/QĐ-TTg, ngày 01/6/2009, Hà Nội.
18. Thủ tướng chính phủ (2012), Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 20112020, được phê duyệt tại Quyết định số: 711/QĐ-TTg, ngày 13/6/2012, Hà
Nội.
19. Thủ tướng Chính phủ (2016), Về việc Phê duyệt Đề án “Đào tạo, bồi dưỡng
Trang 19


nhà giáo và cán bộ quản lý cơ sở giáo dục đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản,
toàn diện giáo dục phổ thông giai đoạn 2016-2020, định hướng đến 2025”,
Quyết định số 732/QĐ-TTg, ngày 29/4/2016.
20. Thủ tướng Chính phủ (2016), Về việc Phê duyệt Đề án “Đào tạo, bồi dưỡng
cán bộ, công chức, viên chức giai đoạn 2016 - 2025”, Quyết định số 163/QĐTTg, ngày 25/01/2016.
21. Eddie Naylor (2002), Staff ICT Skills Audit Questionnaire, E-book.
22. Viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam (2015), “Từ điển học và Bách khoa
thư Việt Nam, (trực tuyến)”, ,
ngày 06/2/2015.

Trang 20


PHỤ LỤC

Biểu đồ 3. Trình độ ngoại ngữ, tin học cán bộ quản lý THPT

Biểu đồ 4. Trình độ ngoại ngữ, tin học giáo viên THPT


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status