skkn phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3 4 tuổi thông qua hoạt động kể chuyện tại trường mầm non phượng nghi - Pdf 43

MỤC LỤC
A. MỞ ĐẦU:.....................................................................................................1
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

ERROR: REFERENCE SOURCE NOT FOUND

II. MUC ĐÍCH NGHIÊN CỨU.

ERROR: REFERENCE SOURCE NOT FOUND

III. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU.

ERROR: REFERENCE SOURCE NOT FOUND

IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.

ERROR: REFERENCE SOURCE NOT

FOUND

B. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM............ERROR: REFERENCE
SOURCE NOT FOUND
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI: ERROR: REFERENCE SOURCE NOT FOUND
II. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU.

ERROR: REFERENCE

SOURCE NOT FOUND

1. Thuận lợi, khó khăn:................................ Error: Reference source not found
2. Thực trạng “Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3-4 tuổi thông

ERROR: REFERENCE SOURCE NOT FOUND

II. KIẾN
NGHỊ:...............................................................................................Error:
Reference source not found

2


A. MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

Ngôn ngữ có vai trò to lớn trong sự hình thành và phát triển nhân cách
của trẻ em. Ngôn ngữ là phương tiện giữ gìn bảo tồn, truyền đạt và phát triển
những kinh nghiệm lịch sử và phát triển xã hội của loài người. Trẻ em sinh ra
đầu tiên là những cơ thể sinh học, nhờ có ngôn ngữ là phương tiện giao lưu
bằng hoạt động tích cực của mình dưới sự giáo dục và dạy học của người lớn
trẻ em dần chiếm lĩnh được những kinh nghiệm lịch sử- xã hội của loài người
và biến nó thành cái riêng của mình. Trẻ em lĩnh hội ngôn ngữ sẽ trở thành
những chủ thể có ý thức, lĩnh hội kinh nghiệm của loài người xây dựng xã hội
ngày càng phát triển hơn.
Ngôn ngữ là phương tiện để phát triển tư duy, là công cụ hoạt động trí
tuệ và là phương tiện để giáo dục tình cảm, thẩm mỹ cho trẻ. Ngoài ra ngôn
ngữ còn là phương tiện để giao tiếp quan trọng nhất đặc biệt là đối với trẻ
nhỏ, đó là phương tiện để giúp trẻ giao lưu cảm xúc với những người xung
quanh .
Đặc biệt nhờ ngôn ngữ thông qua các câu truyện trẻ dễ dàng tiếp nhận
những chuẩn mực đạo đức của xã hội và hòa nhập vào xã hội tốt hơn, trẻ 3
tuổi có số lượng tử tăng nhanh, vốn tử của trẻ phần lớn là những danh từ và
động từ, đối với trẻ mầm non nói chung và trẻ 3 tuổi nói riêng chúng ta cần

1. Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận.
Gồm các phương pháp phân tích, tổng hợp, phân loại và hệ thống hóa
các tài liệu và văn bản có liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
Gồm các phương pháp điều tra, nêu gương, quan sát, đàm thoại, các
phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động...
3. Phương pháp toán học để xử lý số liệu nghiên cứu (Bảng biểu...)
B. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI:

Sinh thời Bác Hồ của chúng ta đã nói: “Tiếng nói là thứ của cải vô cùng
lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc, chúng ta phải giữ gìn và bảo vệ nó”.
Tiếng nói là phương tiện giao tiếp giữa người với người.
Ngôn ngữ là phương tiện để giao tiếp quan trọng nhất đối với trẻ . Ngôn
ngữ là công cụ giúp trẻ hoà nhập với cộng đồng xã hội và trở thành một thành viên
của cộng đồng. Nhờ có những lời nói chỉ dẫn của người lớn mà trẻ dần dần hiểu
được những quy định, chuẩn mực của xã hội mà mọi người đều phải tuân thủ theo
những quy định chung đó .
Tiếng nói là một phần của ngôn ngữ, nó có một vai trò quan trọng đối
với sự phát triển của trẻ. Tiếng nói giúp trẻ diễn tả mọi sự vật, hiện tượng xảy
ra xung quanh, giúp trẻ diễn đạt được mọi ý nghĩ, tình cảm, yêu cầu, nhu cầu
mong muốn của trẻ với người lớn, giúp trẻ mở rộng hiểu biết thế giới xung
quanh trẻ. Sự phát triên ngôn ngữ của trẻ là một quá trình từ thấp đến cao với
các giai đoạn mang những đặc trưng khác nhau tuỳ thuộc vào độ tuổi của trẻ.
Đặc biệt đối với trẻ 3 - 4 tuổi cần giúp trẻ phát triển mở rộng vốn từ,
giúp trẻ biết sử dụng nhiều loại câu bằng cách. Tạo cho trẻ các kênh giao tiếp
thường xuyên, được tiến hành giữa cô với trẻ, giữa trẻ với trẻ, giữa trẻ với
mọi người xung quanh trẻ về những sự vật, hiện tượng xung quanh, hình ảnh
trẻ nhìn thấy trong sinh hoạt hàng ngày, nói cho trẻ biết, tập cho trẻ nói đặc
điểm, tính chất, công dụng của chúng từ đó hình thành ngôn ngữ cho trẻ [3].

nghề, có trình độ chuyên môn. Tôi thường xuyên dành nhiều thời gian để
hướng dẫn trẻ thực hiện trên các hoạt động ở trường đạt hiệu quả tốt. Bên
cạnh đó tôi luôn được sự quan tâm giúp đỡ của ban giám hiệu và đồng nghiệp
về chuyên môn, bản thân luôn tìm tòi không ngừng học tập nâng cao trình độ
chuyên môn nghiệp vụ, thay đổi phương pháp hình thức tổ chức, sáng tạo và
linh hoạt.
- Trẻ trong lớp ngoan ngoãn, đó là điều kiện thuận lợi để tôi rèn luyện
phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua hoạt động làm quen văn học thể loại
truyện kể.
1.2. Khó khăn.
Bên cạnh những thuận lợi nói trên cũng gặp không ít khó khăn như sau:
- Cơ sở vật chất tuy tương đối đầy đủ nhưng cũng chưa phong pú đa
dạng và chưa thật sự đáp ứng so với nhu cầu của trẻ và của giáo viên trong
việc tổ chức các hoạt động đặc biệt là lĩnh vực phát triển ngôn ngữ.
Ví dụ: Máy chiếu, ti vi…
Tài liệu phục vụ cho các hoạt động dạy học chưa đa dạng phong phú.
Ví dụ: Tranh ảnh, đồ dùng dạy học, tài liệu cho giáo viên.
- Là địa bàn xã mà trên 80% là người dân tộc thiểu số sinh sống, vì vậy
trẻ em cũng đa số là người dân tộc, giao tiếp với nhau bằng tiếng dân tộc dẫn
đến việc nói tiếng việt chưa rõ .
- Nhận thức về giáo dục mầm non nói chung và phát triển ngôn ngữ
tiếng việt cho trẻ của một bộ phận phụ huynh chưa đúng mực, chưa quan tâm
trò chuyện với trẻ và nghe trẻ nói để uốn nắn cho trẻ về ngôn ngữ .

5


- Thời gian lao động trên lớp của giáo viên mầm non quá dài và căng
thẳng nên ít có điều kiện về thời gian để nghiên cứu tài liệu chuyên môn nâng
cao nghiệp vụ, làm đồ dùng đồ chơi phục vụ giảng dạy.

chung và hoạt động làm quen với văn học nói riêng trong đó có giờ kể
truyện…
2.4. Công tác phối kết hợp với phụ huynh:
Do công tác tuyên truyền của tôi đến với phụ huynh chưa kịp thời, chưa
có sự đầu tư về chiều sâu, nên các nội dung tuyên truyền đến các bậc phụ
huynh để phối kết hợp trong chăm sóc giáo dục trẻ còn thấp, vì trẻ cần cung
cấp nhiều vốn từ giúp cho ngôn ngữ của trẻ phát triển tốt hơn.
Giáo viên chưa thường xuyên phối hợp, nhắc nhở, động viên phụ
huynh chú ý luyện câu từ cho trẻ ở nhà để đến lớp trẻ nói đủ từ, đủ câu.

6


2.5. Công tác tham mưu:
Công tác tham mưu của bản thân đối với nhà trường còn hạn chế, chưa
mạnh dạn đề xuất tham mưu với nhà trường để mua sắm thêm tranh ảnh, mô
hình để phục vụ cho môn kể truyện.
Kết quả khảo sát thực trạng

ST
T

1
2

3

4

Nội dung khảo sát

%

Số
trẻ

%

Số
trẻ

%

Số
trẻ

%

20

2

10

3

15

3

15


15

3

15

13

65

20

0

0

2

10

2

10

16

80

III. BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ 3-4 TUỔI THÔNG QUA

vô cùng quan trọng nó quyết định sự hoàn thiện và phát triển nhân cách trẻ.
Ví dụ: Muốn giáo dục trẻ về thói quen vệ sinh trong ăn uống - vệ sinh
răng miệng thông qua chủ đề bản thân tôi đã lựa chọn câu truyện "Gấu con bị
đau răng". Thông qua nội dung tôi hỏi trẻ vì sao gấu bị sâu răng? Những bạn
nào lớp mình bị sâu răng? Con thấy răng bị sâu răng sẽ như thế nào? Và từ đó
8


giỏo dc tr cn phi n ung nh th no m bo sc kho, v sinh, cỏch
chm súc nh th no cú hm rng chc kho. Qua cõu chuyn tr c
dy cỏch ỏnh rng sao cho ỳng v ỏnh rng tt nht l bao nhiờu ln trong
1 ngy.
Tng t ch "Gia ỡnh" tụi chn tỏc phm "Bú hoa ti thm".
Thụng qua cõu chuyn khụng nhng bit yờu quý hiu tho vi nhng
ngi thõn yờu trong gia ỡnh mỡnh nh: ễng , b, b, m, anh , ch...tr cong
bit yờu thng giỳp ni xung quanh khi gp khú khn, hon nan.
Vớ d: Giỳp bỏc Dờ vỏc bao go nng n v nh, hay voi cũn giỳp chú
vng ly gu b ri di gin...
Nh vậy để đạt đợc kết quả cao qua việc tổ chức hoạt
động cho trẻ làm quen tác phẩm văn học qua tác phẩm
chuyện kể thì việc chọn nội dung rất quan trọng nh một nhà
nghiên cứu tác phẩm tốt sẽ giúp trẻ nhận thức tốt và ngợc lại.
2. Lm dựng chi, to mụi trng hc tp cho tr :
cú nhng dựng chi mi l v hp dn tr, phc v cho gi k
chuyn, tụi tn dng cỏc nguyờn liu vt liu ph thi cú sn a phng
nh sỏch bỏo, lch c, ng lon, chai nha, xp, vi vn, cnh cõy khụ...nhm
lụi cun tr tớch cc hot ng t úm ngụn ng ca tr c phỏt trin.
Da v tng ch tụi trin khai k hoch lm dựng chi mt
cỏch c th mi ch cú mt b chi phc v cho quỏ trỡnh ging dy v
vui chi tụi cho cỏc chỏu vo hot ụng chi gúc tr to ra nhng chi

ngữ ánh mắt - nét mặt điệu bộ khi trình bày tác phẩm, khiến trẻ có cảm nhận
bằng trực cảm. Nếu kể mà nét mặt giáo viên không có sự thay đổi, sự giao
cảm của người kể với nhân vật, tạo sự gần gũi giữa người truyền tải đến đối
tượng tiếp nhận thì không lôi cuốn trẻ. Nhưng những yếu tố trên nếu biết kết
hợp hài hoà với đồ dùng khác như tranh ảnh, con rối con, giống sân khấu,
đóng kịch, sa bàn nhất là việc áp dụng sử dụng phần mềm công nghệ thông
tin: Băng đĩa, phần mềm, vidio, máy chiếu vào quá trình kể cùng với nghệ
thuật âm thanh, ánh sáng đạo cụ và cảnh trí phù hợp với từng chuyện, từng
chủ đề thì sẽ đạt kết quả cao. Nhưng khi sử dụng, người sử dụng phải linh
hoạt khéo léo chọn đồ dùng phù hợp từng thể loại, thể hiện tốt nội dung của
chuyện nhưng đảm bảo tính hệ thống, tránh sử dụng đồ dùng trực quan thiếu
thẩm mỹ. Nên sử dụng đồ dùng trực quan một cách mới mẻ, ngộ nghĩnh, nên
khích lệ trẻ tham gia cùng giáo viên để tạo ra những đồ dùng trực quan sẽ lôi
cuốn trẻ hứng thú, tạo tình huống củng cố biểu tượng, khắc sâu ấn tượng nghệ
thuật qua nhân vật trong truyện. Từ đó trẻ lĩnh hội kiến thức một cách nhẹ
nhàng.

10


* Sử dụng giáo cụ trực quan để tạo môi trường văn học gắn với
chuyện kể.
Giáo viên có thể treo dán phương tiện trực quan đã chuẩn bị ở khu vực
trẻ dễ quan sát.
Trong quá trình trẻ quan sát giáo viên đặt câu hỏi về các sự vật, hình
ảnh có trong môi trường .
Giáo viên kích thích các ý tưởng của trẻ và hướng trẻ đến câu chuyện
sắp kể
Ví dụ: Để kể chuyện "Cây khế", trong góc văn học giáo viên tạo ra một không
gian thôn quê, hình tượng trung tâm là cây khế bên mái nhà tranh.

cảm nhận được xúc cảm trực tiếp của giáo viên đối với câu chuyện.

11


Thầy và trò trong giờ kể chuyện
* Sử dụng giáo cụ trực quan để giải thích từ khó:
Khi giải thích từ khó, yêu cầu giáo viên phải giải thích ngắn gọn, dễ
hiểu, tạo cho trẻ có ấn tượng mạnh mẽ về từ đó, không được tách từ ra khỏi
chuyeenjmaf luôn phải đảm bảo việc giải thích nằm trong chỉnh thể ngôn ngữ.
Để giải thích từ khó, giáo viên phải lựa chọn từ, hiểu đúng từ và giải thích từ
phù hợp với khả năng nhận thức của trẻ.
Ví dụ: Chuyện "Thỏ con nũng nịu" miêu tả thỏ con chạy "Ba chân bốn
cẳng" giáo viên điều khiển rối cử động chân chạy thật nhanh và giải thích cho
trẻ hiểu rằng chạy "Ba chân bốn cẳng" là chạy rất nhanh, chạy vội vã, như thế
trẻ sẽ rất dễ hiểu và khắc sâu.
* Sử dụng giáo cụ trực quan kết hợp trao đổi với trẻ về truyện
Trong quá trình quan sát giáo viên cho trẻ tri giác, được ngắm ngía,
quan sát khám phá bằng tất cả các giác quan... trao đổi đến đâu giáo viên chỉ
vào trực quan đến đó, trao đổi cần ngắn gọn, dẫn dắt trẻ vào chuyện một cách
tự nhiên, hướng trẻ đến những tình tiết chính trong truyện, giáo viên vừa đặt
câu hỏi vừa giải thích ngắn gọn và gắn với trực quan.
- Câu hỏi trao đổi cần đa dạng, đi từ dễ đến khó, nhấn mạnh các tình
tiết chính của chuyện theo trình tự tri giác như:
+ Câu hỏi về tên gọi của đối tượng, sự kiện, hành động, tên truyện, tên
tác giả...
+ Câu hỏi về hình dáng, phẩm chất, tính cách của nhân vật.
+ Câu hỏi tổng hợp, khái quát tư duy: Con có nhận xét gì, tại sao?...
Để giáo dục trẻ một số phẩm chất tốt đẹp của nhân vật trong chuyện,
khi trao đổi giáo viên cần giúp trẻ liên hệ bản thân bằng thái độ tôn trọng, tin

Để tạo ấn tượng cho trẻ về chuyện, giáo viên cho trẻ tham gia vào hoạt
động chuẩn bị đồ dùng trực quan như hướng dẫn trẻ cùng làm với giáo viên
13


bằng cách giáo viên cắt sẳn các băng giấy vẽ con vật khuyết, thiếu bộ phận để
trẻ tham gia vào các hoạt động như xé, dán gấp hoặc vẽ thêm mắt, mũi , tai...
cho các nhân vật. Ngoài ra giáo viên có thể cho trẻ tham gia làm trang phục
cho các nhân vật trong chuyện để chơi trò chơi đóng kịch.
Sau hoạt động kể chuyện giáo viên khuyến khích trẻ vẽ, nặn, cắt, dán,
làm anbum để trẻ thể hiện những suy nghĩ, tình cảm khi được nghe kể
chuyện, trưng bày các sản phẩm đó ở góc văn học.
Các biện pháp sử dụng giáo cụ trực quan có mối quan hệ chặt chẽ với
nhau, trong quá trình tổ chức hoạt động giáo viên phải biết kết hợp hài hòa,
tùy từng hoạt động mà lựa chọn biện pháp phù hợp không phải hoạt động nào
cũng sử dụng tất cả các biện pháp, có như thế mới lôi cuốn, hấp dẫn trẻ, giúp
trẻ tập trung chú ý , hoạt động tích cực và từ đó ngôn ngữ của trẻ cũng được
phát triển tốt.
4. Thực hiện tốt công tác tuyên truyền với phụ huynh:
Để thực hiện biện pháp này giáo viên làm bản tin về chương trình dạy
theo chủ đề trong tuần để phụ huynh biết và phối kết hợp với giáo viên rèn
thêm cho trẻ ở nhà. Giáo viên trao đổi và vận động phụ huynh cố gắng dành
thời gian để trò chuyện với trẻ và lắng nghe trẻ nói, khi trò chuyện với trẻ
phải nói rõ ràng, mạch lạc, tốc độ vừa phải để trẻ nghe cho rõ, cha mẹ người
thân phải cố gắng phát âm đúng cho trẻ bắt chước.
Khuyến khích phụ huynh cung cấp kinh nghiệm sống cho trẻ. Bên cạnh
giữ gìn bản sắc dân tộc là tiếng mẹ đẻ ( tiếng dân tộc) cần dạy trẻ nói đúng
âm, từ tiếng việt.
Tuyên truyền dưới hình thức, bảng tuyên truyền đẹp, thay đổi nôi dung
và hình thức phù hợp với chủ đề.

mặt, giọng kể của giáo viên khi thể hiện tích cách nhân vật nên đã thu được
kết quả rất cao. Cụ thể như sau:
* Đối với giáo viên:
- Tự tin mạnh dạn hơn trong các hoạt động tổ chức hoạt động kể
chuyện cho trẻ bằng những biện pháp, thủ thuật khác nhau. Hình thức trên
hoạt động chung, mọi lúc mọi nơi, gia đình - nhà trường, lồng ghép qua các
môn học khác đã thu hút sự chú ý của trẻ.
- Đã nắm bắt được đặc điểm tâm lý của trẻ lớp mình và nắm vững
phương pháp tổ chức hoạt động kể chuyện theo hình thức mới đạt kết quả
cao.
Từ đó lập kế hoạch cho từng chủ đề phù hợp nội dung cần đạt ở trẻ qua
từng giai đoạn. Không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn học hỏi đồng
nghiệp và tự nghiên cứu, tự học nâng cao nghiệp vụ chuyên môn cho bản
thân.
* Đối với trẻ:
- Trẻ thuộc nhiều truyện, biết kể lại chuyện, thể hiện được tính cách
nhân vật trong khi đóng kịch thể hiện tốt vai diễn, biết giúp giáo viên làm đồ
dùng dạy học, trang phục cho các nhân vật trong truyện. Qua đó trẻ được phát
triển ngôn ngữ mạch lạc, rõ ràng. Trong giao tiếp nói được những câu, đơn,
ghép...
Thông qua các tác phẩm văn học trẻ học tập cái hay, cái đẹp, biết đúng
sai. Từ đó ngoan ngoãn hơn, đời sống tình cảm trẻ phong phú hơn, thể hiện rõ
qua bảng kết quả sau:
Bảng khảo sát trẻ sau khi sử dụng các biện pháp.

STT

1
2


%

Số
trẻ

%

Số
trẻ

%

20

12

60

8

40

0

0

0

0



20

10

50

8

40

2

10

0

0

20

8

40

10

50

2

và chủ điểm, luôn tạo tình huống bất ngờ, thú vị đến với trẻ.
- Tổ chức cho trẻ được làm quen với hoạt động kể chuyện bằng nhiều
hình thức như. Tổ chức cho trẻ qua hoạt động dạy trên lớp bằng phương pháp
mở "Lấy trẻ làm trung tâm", ở mọi lúc mọi nơi...
- Cần quan tâm gần gũi trẻ, khuyến khích để trẻ chủ động phát huy tính
độc lập trong hoạt động và tập luyện bồi dưỡng thêm cho trẻ.
- Giáo viên phải làm tốt công tác phối hợp với phụ huynh, làm tốt
công tác tham mưu cho Ban giám hiệu nhà trường về cơ sở vật chất tốt đảm
16


bảo yêu cầu cho việc tổ chức các hoạt động cho trẻ nói chung và hoạt động kể
chuyện nói riêng.
Để giúp trẻ nâng cao khả năng nhận biết và phát âm đúng đạt kết quả
cao, trước hết giáo viên phải có trình độ, năng lực, luôn đầu tư học hỏi kinh
nghiệm, không ngừng phát huy tính sáng tạo, tính linh hoạt trong giờ dạy.
Thường xuyên rèn luyện các thói quen nề nếp nói chung và nề nếp học
tập nói riêng cho trẻ.
Biết tích hợp các môn học khác một cách hợp lý, cho trẻ làm quen với
môn kể truyện thường xuyên, liên tục ở mọi lúc, mọi nơi.
Phải luôn nghiên cứu tài liệu, chuyên đề, tập san có liên quan đến hoạt
động kể chuyện, tham khảo học hỏi bạn bè, đồng nghiệp. Tham gia đầy đủ
các lớp học chuyên đề nâng cao nghiệp vụ chuyên môn thông qua thông tin
đại chúng, tâm huyết, nhiệt tình với nghề, thực sự kiên trì và nhẫn nại, yêu trẻ
như yêu chính con của mình. Nếu làm được những điều như trên tôi tin rằng
việc tổ chức hoạt động kể chuyện cho trẻ sẽ đạt kết quả cao.
II. KIẾN NGHỊ:
1. Đối với cán bộ quản lý giáo dục.
- Thường xuyên bồi dưỡng kiến thức chyên môn, kỹ năng sư phạm cho
giáo viên qua các lớp bồi dưỡng một cách óú hệ thống. Tạo điều kiện để giáo

Trên đây là sáng kiến kinh nghiệm mà bản thân tôi đã lựa chọn và áp
dụng trên trẻ tại lớp tôi phụ trách và đạt hiệu quả cao trong năm học 20162017. Là một giáo viên nam, tuổi nghề chưa nhiều mà đối tượng trẻ còn quá
bé nên tôi cũng còn những điểm cần học hỏi thêm đồng nghiệp, rất mong
được sự quan tâm, giúp đỡ, đóng góp ý kiến để bản thân có thêm kinh nghiệm
trong công tác chăm sóc trẻ ngày một tốt hơn./.
XÁC NHẬN
CỦA HIỆU TRƯỞNG

Phượng Nghi, ngày 19 tháng 3 năm 2017
Tôi xin cam đoan SKKN là của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác
Người viết sáng kiến

Nguyễn Đình Cường

18


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Tạp chí Giáo dục mầm non (2011); Vụ GDMN- BGD&ĐT.
2. Chương trình GDMN (Ban hành kèm theo Thông tư số 17/2009/TTBGDĐT ngày 25 tháng 7 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo),
Nhà xuất bản GD Việt Nam;
3. Bộ GD&ĐT ( 2010) "Tuyển tập thơ truyện mầm non" của Bộ Giáo
dục và Đào tạo;
4. Bộ GD&ĐT ( 2014) "Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên năm 2014 "
của Bộ Giáo dục và Đào tạo- Nhà xuất bản GD Việt Nam.

19



B

Năm học
đánh giá xếp
loại

2014-2015

20




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status