I. MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài:
Tục ngữ có câu: Dạy con từ thuở còn thơ ...”
Con người khi sinh ra cơ thể còn non yếu, chưa có hiểu biết cần được sự uốn
nắn dạy dỗ của người lớn ngay từ buổi đầu đời, để có thể hình thành và phát triển
nhân cách đúng đắn. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển nhân
cách trẻ đó là gia đình, nhà trường và xã hội.
Gia đình là môi trường đầu tiên của trẻ, mỗi đứa trẻ sinh ra đều được chăm
sóc yêu thương dạy dỗ của bố mẹ ông bà và những người lớn gần gũi trẻ, mỗi một
gia đình là một quan điểm, là một cách sống, nếp sinh hoạt riêng biệt có nhiều gia
đình là môi trường rất tốt để trẻ hình thành nhân cách đúng đắn, nhưng có gia đình
do những quan niệm lạc hậu, hoặc nhận thức chưa đủ, chưa đúng về đặc điểm tâm
sinh của lứa tuổi làm cho nhân cách của trẻ phát triển lệch lạc. Đến trường mầm
non là trường học đầu tiên của trẻ, ở nơi đó trẻ được hoạt động, được trải nghiệm
được chăm sóc, giáo dục. Giáo dục mầm non là cấp học đầu tiên trong hệ thống
giáo dục quốc dân có mục tiêu, yêu cầu và chương trình giáo dục hướng đến sự
phát triển toàn diện và tạo cơ hội cho trẻ phát triển
Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ là em phát triển về thể chất, tình
cảm, trí tuệ, thẩm mỹ hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách chuẩn bị cho
trẻ vào lớp một, hình thành và phát triển ở trẻ em những chức năng tâm sinh lý,
năng lực, phẩm chất mang tính nền tảng và những kỷ năng sống cần thiết phù hợp
với lứa tuổi, khơi dậy và phát triển tối đa những khả năng tiềm ẩn, tạo tiền đề cho
việc học ở các cấp học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời. Ở trường mầm non có
Chương trình chăm sóc giáo dục trẻ mầm non phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý và
khả năng, mức độ phát triển của từng độ tuổi một cách khoa học đạt mục tiêu giáo
dục ở cuối tuổi nhà trẻ và ở cuối tuổi mẫu giáo.
Đến trường mầm non là môi trường tốt nhất cho trẻ, làm thế nào để huy động
được số trẻ trong độ tuổi mầm non đến trường để mọi trẻ em đều có quyền được
hưởng nền giáo dục là trách nhiệm của người lớn của những người làm công tác
quản lý trường mầm non
Thực tế tại trường mầm non Tân Lập tỉ lệ huy động trẻ mẫu giáo ra lớp trong
2
II. NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lý luận:
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Chương trình Giáo dục mầm
non theo Thông tư 17/2009/TT-BGDĐT ngày 25 tháng 7 năm 2009 bao gồm
chương trình giáo dục nhà trẻ, chương trình giáo dục mẫu giáo: “ Chương trình
giáo dục mẫu giáo nhằm giúp trẻ từ 3 đến 6 tuổi phát triển hài hòa về các mặt thể
chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm, kỹ năng xã hội và thẩm mỹ chuẩn bị cho trẻ
vào học ở tiểu học. ”[1].
Theo yêu cầu về nội dung, về phương pháp, về đánh giá sự phát triển của trẻ
Nội dung giáo dục mầm non phải đảm bảo tính khoa học, theo nguyên tắc đồng tâm
phát triển từ dễ đến khó, đảm bảo tính liên thông giữa các độ tuổi, thống nhất giữa
nội dung giáo dục với cuộc sống hiện thực, phù hợp với sự phát triển tâm sinh lý
của trẻ em, hài hòa giữa nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục, giúp trẻ phát triển cơ
thể cân đối, khỏe mạnh, nhanh nhẹn.
Phương pháp giáo dục đối với mẫu giáo trẻ phải được trải nghiệm, tìm tòi, khám
phá môi trường xung quanh dưới nhiều hình thức, đáp ứng nhu cầu, hứng thú của
trẻ theo phương châm “Chơi mà học, học bằng chơi”. Đổi mới môi trường giáo dục
nhằm kích thích và tạo cơ hội cho trẻ khám phá, thử nghiệm và sáng tạo.
Ở trường mầm non tổ chức đánh giá sự phát triển của trẻ nhằm theo dõi sự phát
triển của trẻ để xây dựng, điều chỉnh kế hoạch giáo dục cho phù hợp với trẻ, với
tình hình thực tế ở địa phương, chỉ có ở trường mầm non mới tổ chức đánh giá
đúng khả năng của trẻ theo yêu cầu lứa tuổi một cách khoa học
Đến trường trẻ được hòa đồng cùng bạn bè khám phá nhiều điều thú vị ở
môi trường tập thể, chỉ có bạn bè cùng lứa tuổi của bé và cô giáo, trẻ được tham gia
các hoạt động của ngày hội, ngày lễ, các hoạt động lao động tự phục vụ trẻ, được
nuôi dưỡng, được chăm sóc sức khỏe và giáo dục để bảo vệ tính mạng. Trẻ đến
1,331 ha, dân số toàn xã có 663 hộ với 2733 nhân khẩu, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên
là 0.9%. Bao gồm 3 dân tộc chủ yếu sinh sống như:
Dân tộc Thái có 110 khẩu chiếm gần 4%
Dân tộc Mường có 1339 khẩu chiếm 49%
Dân tộc Kinh có 1284 khẩu chiếm 47%
Nhìn chung chất lượng cuộc sống của người dân đã được nâng lên, nghề nghiệp có
97% làm nông nghiệp thu nhập của một số thôn còn phụ thuộc vào thiên nhiên, tỉ lệ
hộ nghèo theo tiêu chí mới hiện nay là 6,35 %.
* Thuận lợi:
Xã Tân Lập là nơi có truyền thống hiếu học, các cấp ủy đảng chính quyền
địa phương cũng như người dân luôn quan tâm và chăm lo đến sự nghiệp giáo dục
có 2/3 trường trong xã đạt trường chuẩn quốc gia, hệ thống đài truyền thanh của xã
4
hoạt động rất tốt, xã có đường giao thông liên thôn đi lại thuận tiện là 7/8 thôn bản.
Xã đang xây dựng và chuẩn bị về đích nông thôn mới vào cuối năm 2017.
Trường mầm non Tân Lập nằm ngay trung tâm của xã và chỉ có một điểm
trường rất thuận lợi cho việc đưa đón trẻ và quản lý.
Nhà trường đã đạt Trường mầm non đạt Chuẩn Quốc gia và đã được công
nhận Đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục cấp độ 3.
Đội ngũ giáo viên đạt trình độ chuẩn là 100% và trong đó trên chuẩn 78,6%.
Nhà trường được sự quan tâm và tạo mọi điều kiện của chính quyền địa phương,
Ban đại diện Cha mẹ học sinh của nhà trường hoạt động rất tích cực có nhiều hoạt
động ủng hộ và đóng góp nhiệt tình, để phục vụ bán trú tạo mọi điều kiện thuận lợi
cho trẻ khi đến trường.
*Khó khăn :
Trong công tác quản lý còn thiếu kinh nghiệm về công tác điều tra, khảo sát
trẻ trong độ tuổi, chưa nắm bắt được số trẻ sẽ đến trường, chưa chủ động trong việc
lập danh sách các lớp ngay từ đầu năm học. Không nắm bắt được tình hình, hoàn
Tổng
số
Số nữ
Tổng
số
Trẻ dân tộc thiểu số
Tỷ lệ
Số trẻ
Tỷ lệ
Số trẻ
nữ
Tỷ lệ
NĂM HỌC 2014-2015
3 tuổi
4 tuổi
5 tuổi
41
37
44
100%
3-5 tuổi
122
80
65
119
97,5%
77
96,3%
63
97%
NĂM HỌC 2015-2016
3 tuổi
4 tuổi
5 tuổi
59
41
37
100%
100%
3-5 tuổi
137
87
64
135
98,5%
100
99%
57
98,5%
ĐẦU NĂM HỌC 2016-2017 (Tháng 8/2016 )
3 tuổi
4 tuổi
5 tuổi
51
59
100%
94,4%
100%
3-5 tuổi
151
101
58
149
98,6%
100
99%
57
98,2%
2.3. Các giải pháp:
2.3.1.Biện pháp 1 : Điều tra số liệu trẻ từ 0- 5 tuổi ngay đầu năm học
Điều tra số liệu là việc làm của mỗi nhà trường vào đầu năm học mới, để nắm
bắt số liệu trẻ từ 0-5 tuổi trên địa bàn xã từ đó dự kiến số trẻ của các nhóm lớp và
chuẩn bị cho công tác tuyển sinh trẻ mới và làm cơ sở để xây dựng kế hoạch phát
triển cho năm học sau. Làm tốt công tác điều tra, công tác tuyển sinh nhà trường sẽ
+ 4 tuổi : 59/59 cháu đạt 100% ; Trẻ dân tộc thiểu số : 33/33 cháu đạt 100%
+ 3 tuổi : 49/51 cháu đạt 96% ; Trẻ dân tộc thiểu số : 36/37 cháu đạt 94,4%,
Như vậy tỉ lệ trẻ em trong độ tuổi mẫu giáo chưa đến trường là 1,4%.
Và kết quả điều tra nhà trường có danh sách 2 cháu 4 tuổi chưa đăng ký đi
học là: Cháu Bùi Phương Hoài ở thôn Mòn và cháu Lê Hải Anh ở thôn Anh Vân.
2.3.2. Biện pháp 2 : Nắm bắt tình hình và tìm hiểu nguyên nhân trẻ chưa đến
trường
Trong những năm vừa qua thực hiện Phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ năm
tuổi, tỷ lệ trẻ từ 3-5 tuổi đến trường của nhà trường đạt rất cao từ 95-98,5% đây là
kết quả đáng khích lệ, biểu hiện về sự nhận thức của các bậc phụ huynh đã thấy
được vai trò của giáo dục mầm non và vị trí của trường mầm non đối với sự phát
7
triển của trẻ, song tại sao vẫn còn hai cháu chưa đến lớp, ngay đầu năm học kết hợp
với Ban đại diện Cha mẹ học sinh của năm học trước và Chi hội trưởng chi hội
khuyến học của thôn và giáo viên điều tra phổ cập ở thôn đó, BGH đã tiến hành tìm
hiểu nguyên nhân lý do trẻ chưa đến lớp
Để làm tốt việc này, BGH cần phải khéo léo và kết hợp chặt chẽ với các tổ
chức liên quan nắm bắt trước tình hình, hoàn cảnh của trẻ, lường trước các tình
huống, chuẩn bị tốt các phương án để trao đổi, tuyên truyền vận động sao cho thấu
tình, đạt lý và đạt kết quả để phụ huynh thấy yên tâm tin tưởng và trẻ thích đi học
Trường hợp thứ nhất: Cháu Bùi Phương Hoài (là trẻ người dân tộc thiểu số):
Không được đi học do ông bà nhận thức chưa đúng về giáo dục mầm non. Chúng
tôi đã đưa hình ảnh trẻ học, trẻ chơi, trẻ tập thể dục, trẻ ngồi ăn, trẻ ngủ đến gia
đình cho bố mẹ ông bà cháu xem, cũng giải thích cách chăm sóc, giáo dục cháu ở
lớp, trẻ được đối sử công bằng như nhau, được tham gia các hoạt động như nhau.
Về đóng góp chúng tôi phân tích về sự thuận lợi và không thuận lợi khi cho trẻ đến
trường và đồng thời trao đổi với gia đình nếu không cho cháu đi học lớp mấu giáo
nhỡ đến năm học sau cho cháu học lớp mẫu giáo lớn sẽ rất khó khăn cho cháu vì ở
cho gia đình làm chế độ khuyết tật cho trẻ theo chính sách của nhà nước
Với trường hợp những cháu không đủ tiêu chuẩn để đến trường như bại liệt
nằm một chỗ, mắc bệnh lây nhiễm không thể đến trường, BGH nhà trường xây
dựng kế hoạch kết hợp với Trạm y tế xã, tư vấn và hỗ trợ cho cha mẹ trẻ chăm sóc
và dạy trẻ tại nhà, phân công bố trí cán bộ, giáo viên sắp xếp thời gian đến kiểm tra
sự tiến bộ của trẻ.
Về vấn đề này người quản lý phải thật am hiểu phong tục tập quán của địa
phương và hoàn cảnh của trẻ để có cách giải quyết phù hợp, phải tâm huyết với
nghề và yêu trẻ, biết phối kết hợp với các ban ngành đoàn thể đúng lúc, đúng việc
và biết lắng nghe, tôn trọng các ý kiến đóng góp của các bậc phụ huynh, có sự phối
hợp chặt chẽ với phụ huynh thì chúng ta mới nhận được sự tin tưởng của phụ
huynh.
2.3.3. Biện pháp 3: Đổi mới công tác quản lý trong tổ chức bán trú
Đổi mới trong công tác quản lý bán trú là vấn đề mà mỗi người Hiệu trưởng
luôn mong muốn và có ý thức tìm kiếm đổi mới để phát triển nhà trường, để tạo uy
tín, tạo niềm tin cho các cấp lãnh đạo, cho các bậc phụ huynh, có những vấn đề
chúng ta thay đổi, đổi mới có thể phát triển, nhưng có những vấn đề đổi mới lại
không phát triển được vì thiếu đi sự phù hợp, có những vấn đề đổi mới phù hợp với
nơi này, với trường này nhưng lại không phù hợp với nơi khác hoặc trường khác vì
vậy phải lựa chọn sự đổi mới sao cho phù hợp, hiệu quả với trường mầm non Tân
Lập tôi đã lựa chọn như sau
Thay việc thu tiền ăn bằng bán phiếu ăn. Để phù hợp với điều kiện ở địa
phương là thuần nông, các phụ huynh rất chắt chiu dành dụm cho con ăn bán trú tại
9
trường, nhà trường thu tiền ăn theo tuần và thiết kế phiếu ăn theo mẫu riêng của
nhà trường, trong đó có thông tin tên, lớp học của trẻ, tiền nộp, tiền thừa, số buổi đi
học của trẻ, cuối tuần phụ huynh cầm phiếu biết con mình đã ăn hết bao nhiêu còn
bao nhiêu để mua tiếp cho tuần sau. Trường mầm non Tân Lập là trường bán phiếu
ở nhà bếp, chặt tỉa cây xây bồn hoa, năm 2015 nhà trường xây nhà bảo vệ, vẽ tường
ngoài của lớp học, năm 2016 Cha mẹ học sinh đã đóng góp 80.576.000đ để mua đồ
dùng và phục vụ công tác bán trú , về cơ sở vật chất nhà trường mua thêm bàn ghế
trị giá: 32.000.000đ, nhà trường tu đổ bê tông sân trường tổng 140.000.000đ, đổ bê
tông 2 bên cổng trường bên ngoài làm nơi để xe cho phụ huynh khi đón trẻ kinh phí
là:10,918.000đ về phòng học nhà trường đang được xây dựng 2 phòng học có
nguồn vốn từ trái phiếu chính phủ với giá trị 2,3 tỷ đồng. Với sự linh hoạt nếu có
nguồn của cấp huyện, cấp tỉnh đầu tư thì giảm bớt nguồn của địa phương, nếu năm
nào không có nguồn của tỉnh của huyện thì nhà trường tích cực tham mưu với địa
phương để kích cầu được đầu tư thực hiện đúng như phương châm “Mỗi năm học
sẽ làm một công trình và mua đồ dùng cần thiết nhất, bất kể từ nguồn nào”. Bên
cạnh đó trang thiết bị đồ dùng học tập được nhà trường tiết kiệm chi hoạt động để
mua sắm và tích cực tham mưu với cha mẹ học sinh để được mua sắm đồ dùng bán
trú.
Bằng công tác tham mưu với lãnh đạo địa phương, Phòng giáo dục, UBND
huyện, tích cực phối hợp với Ban đại diện Cha mẹ học sinh đến nay về cơ sở vật
chất, trang thiết bị đồ dùng nhà trường đã và đang từng bước thay đổi đáp ứng được
yêu cầu phục vụ công tác nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ, từng bước thay thế
theo hướng phát triển “Chuẩn và hiện đại”
2.3.5. Biện pháp 5: Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên
Chất lượng đội ngũ giáo viên bao gồm trình độ chuyên môn, nghiệp vụ khả
năng, năng lực của giáo viên thể hiện ở kết quả thực hiện nhiệm vụ đối với bậc học
mầm non bé đến trường cô giáo là người mẹ thứ hai của trẻ, là người trực tiếp chăm
sóc và giáo dục trẻ, thời gian bé ở bên cô giáo là cả ngày vì vậy cô giáo phải như
mẹ hiền, phải thật sự yêu thương tôn trọng trẻ, chăm sóc cháu chu đáo, cô giáo là
người ảnh hưởng đến nhân cách của trẻ nhiều nhất. Nhận biết được điều đó kết hợp
với tổ chức công đoàn luôn chú ý bồi dưỡng phẩm chất đạo đức nhà giáo thông qua
các cuộc họp những vấn đề còn hạn chế mà giáo viên gặp phải, thông tin lại những
tấm gương về đạo đức cho học sinh noi theo, tạo mọi điều kiện cho giáo viên bồi
dưỡng chuyên môn nghiệp, nắm bắt đúng khả năng, năng lực và điều kiện hoàn
cảnh của giáo viên để phân công nhiệm vụ hợp lý, phải tổ chức tốt phong trào thi
đua, trong đánh giá xếp loại phải công bằng, công khai, dân chủ, phải xây dựng kế
hoạch đào tạo bồi dưỡng giáo viên nòng cốt, nguồn cán bộ kế cận để tạo động lực
cho giáo viên phấn đấu. Có cô giáo yêu trẻ, tâm huyết với nghề, dạy giỏi sẽ thu hút
được trẻ đến lớp.
2.3.6. Biện pháp 6: Nâng cáo chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục toàn
diện cho trẻ
Nhằm nâng cao chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ nhà trường
chú trọng đến việc đảm bảo an toàn tuyệt đối cho trẻ, nâng cao chất lượng bữa ăn,
12
xây dựng bữa ăn đảm bảo chất dinh dưỡng mời Ban đại diện Cha mẹ học sinh kiểm
tra từ việc xem các hợp đồng mua lương thực, thực phẩm, xem bảng lên thực đơn,
sổ nhận thực phẩm, sổ giao chế biến, sổ chia cơm và xem trẻ ăn, để các thành viên
đánh giá, nhận xét và đồng thời là tuyên truyền viên của nhà trường cho các phụ
huynh khác. Bếp ăn của nhà trường luôn sạch sẽ, có nề nếp tốt, đảm bảo an toàn về
vệ sinh thực phẩm. Tỷ lệ trẻ mẫu giáo ăn bán trú tại trường đạt 100%
Nhà trường phối hợp với Trạm y tế xã khám sức khỏe định kỳ 2 lần/ năm
cho trẻ đang học tại trường, kiểm tra theo dõi việc cân đo chấm kênh và cập nhật
thông tin vào sổ theo dõi sức khỏe trẻ một năm 4 lần ( Vào ngày 15 tháng 8, tháng
11, tháng 2 và tháng 5) để phát hiện trẻ suy dinh dưỡng về cân nặng chiều cao và có
biện pháp khắc phục, cho trẻ uống thuốc tẩy giun. Nhà trường luôn cập nhật các
thông tin về các bệnh theo mùa, thời tiết để trao đổi nhắc nhở với phụ huynh. Tỷ lệ
trẻ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân còn dưới 8%, trẻ suy dinh dưỡng thể thấp còi còn
100%
Về trí tuệ ngoài việc chỉ đạo thực hiện nghiêm túc theo quy chế chuyên
môn, nhà trường tổ chức thi “Bé khỏe mầm non” theo chuyên đề vận động, thi “Bé
một số em mồ côi cha, có em trí tuệ phát triển chậm và vận động
Vấn đề sự khác biệt ngôn ngữ ở trường tôi chủ yếu là giữa cháu dân tộc thiểu
số và dân tộc kinh. Khi tham gia các hoạt động học tập và vui chơi trẻ nói tiếng việt
nhưng lại dùng từ của tiếng mẹ đẻ như cái bút sáp màu đen trẻ nói màu dầm, hòn
đá trẻ nói hòn phụ, màu xanh màu xênh, từ cháu lại nói là chấu.
Trước vấn đề này điều đầu tiên cô giáo phải chào đón và chấp nhận trẻ và gia đình
trẻ dân tộc thiểu số bị thiếu hụt về ngôn ngữ, không nên hạn chế việc sử dụng tiếng
mẹ đẻ của trẻ ở trường tôi đã chọn giáo viên nói thạo tiếng dân tộc thiểu số dạy lớp
3-4 tuổi vì độ tuổi này thường mắc lỗi sử dụng từ nhất, việc sử dụng tiếng mẹ đẻ
của trẻ sẽ hỗ trợ cho sự phát triển tiếng việt duy trì ngôn ngữ thứ nhất không ảnh
hưởng đến việc học ngôn ngữ thứ hai, cô giải thích các từ của tiếng việt mà trẻ
chưa hiểu thì cô dùng tiếng mẹ đẻ của trẻ để giải thích và dạy trẻ cách dùng từ cho
phù hợp khi nói tiếng chung, khi cần thiết giáo viên phải sử dụng hình ảnh thật
hoặc tranh để dạy cho trẻ không nên bắt trẻ, ép trẻ phải nói đúng ngay, luôn quan
tâm chú ý động viên trẻ, gần gũi tươi cười với trẻ nếu trẻ chưa sửa được để trẻ
không quá sợ, thích giao tiếp với cô và dần trẻ sẽ thích giao tiếp với bạn bè và trẻ
sẽ tích cực tham gia các hoạt động. Đồng thời giáo viên trao đổi với các bậc phụ
huynh về lỗi phát âm, lỗi sử dụng từ cụ thể từ mà trẻ thường nói sai và dặn các bậc
phụ huynh nhắc nhở và chú ý sửa cho trẻ. Lên lớp mẫu giáo 4-5 tuổi yêu cầu giáo
viên hạn chế sử dụng tiếng mẹ đẻ của trẻ mà chủ yếu giải thích bằng tiếng việt, tích
cực giao tiếp với trẻ và tạo cơ hội cho trẻ tham gia vào các hoạt động giao tiếp có ý
nghĩa với cô, với bạn bằng tiếng việt để trẻ sử dụng thành thạo tiếng việt khi lên lớp
5-6 tuổi trẻ trẻ hòa nhập được với các bạn và phát triển tốt . Để giáo viên duy trì và
14
thực hiện theo đúng sự chỉ đạo đầu năm học tôi giao nhiệm vụ và đưa ra các biện
pháp cho tổ chuyên môn triển khai cho các giáo viên thực hiện, các buổi sinh
hoạt chuyên môn của trường tôi luôn tham gia đầy đủ để nắm bắt tình hình.
Bên cạnh đó huy động sự tham gia của cộng đồng khi thực hiện các hoạt động như
tận dụng cơ hội phát huy cho trẻ, trao đổi những lỗi trẻ mắc nhưng vẫn chưa sửa
được, tư vấn cho bố mẹ cách tập, cách trẻ tự bảo vệ mình để bố mẹ cùng kết hợp để
sửa cho trẻ
2.3.8. Biện pháp 8: Công tác Phối kết hợp với Trạm y tế, với các ban ngành đoàn
thể trong xã
* Phối hợp với trạm Y tế xã: Nhà trường phối hợp chặt chẽ với Trạm y tế xã để
khám sức khỏe định kỳ 2 lần/ năm cho trẻ đang học tại trường, kiểm tra theo dõi
việc cân đo chấm kênh và cập nhật thông tin vào sổ theo dõi sức khỏe trẻ một năm
4 lần để phát hiện trẻ suy dinh dưỡng về cân nặng chiều cao và có biện pháp khắc
phục. Kết hợp tổ chức cho trẻ uống thuốc tẩy giun 2 lần/ 1 năm học vào tháng 12
và 1/6. Qua khám sức khỏe cho trẻ kết quả có nhiều cháu bị sâu răng, nhà trường
đã kết hợp với trạm viết bài tuyên truyền về bệnh răng miệng ở trẻ và mời Bác sĩ là
Trưởng trạm trực tiếp tuyên truyền với phụ huynh vào kỳ họp phụ huynh đầu năm
học sau.
* Phối hợp với Ban Tư pháp xã: Để tạo điều kiện thuận lợi cho các bậc phụ
huynh làm hồ sơ đăng ký học cho trẻ vào đầu năm học, nhà trường đấu mối thống
nhất thời gian nạp hồ sơ với Ban tư pháp để Ban tư pháp xắp xếp tạo mọi điều kiện
cho phụ huynh xin bản sao giấy khai sinh và chứng thực các loại giấy tờ, tránh
phiền hà mất thời gian của phụ huynh.
* Phối hợp với Ban chính sách xã: Nhà trường đấu mối với Ban chính sách
nắm bắt số cháu thuộc đối tượng hộ nghèo, hộ cận nghèo đang học ở trường để
nhắc nhở các phụ huynh nộp quyết định làm chế độ cho chính xác, đủ và đúng đối
tượng trẻ được hưởng, đấu mối để Ban chính sách cấp Quyết định để làm chế độ
kịp thời cho các cháu đúng với thời gian quy định của Phòng Giáo dục.
* Phối hợp với Hội phụ nữ xã: Nhà trường gắn chặt với Hội phụ nữ xã trong
công tác tuyên truyền vận động trẻ đến trường và tuyên truyền cách phối hợp giữa
gia đình và nhà trường để chăm sóc trẻ sao cho có hiệu quả, để nâng cao nhận thức
cho các bậc cha mẹ sự cần thiết phải phối hợp cùng với nhà trường trong công tác
số trẻ
Số trẻ ra lớp
Trẻ DTTS
Tổng
số
Số nữ
Tổng
số
Trẻ dân tộc thiểu số
Tỷ lệ
Số trẻ
Tỷ lệ
Số trẻ
nữ
Tỷ lệ
NĂM HỌC 2014-2015
3 tuổi
4 tuổi
5 tuổi
24
19
91%
100%
100%
3-5 tuổi
122
80
65
119
97,5%
77
96,3%
63
97%
32
31
23
57
41
37
96,6%
100%
100
17
3-5 tuổi
137
87
64
135
98,5%
100
99%
57
31
100%
100%
100%
18
18
22
100%
100%
100%
3-5 tuổi
151
101
58
149
100%
100
100%
Trong công tác quản lý giáo dục, ngoài việc thực hiện tốt chủ trương đường
lối của đảng, chính sách pháp luật của nhà nước, thực hiện tốt sự chỉ đạo của các
cấp lãnh đạo.
Người quản lý trường học phải luôn trau dồi đạo đức, rèn luyện phẩm chất
chính trị, cũng như chuyên môn, nghiệp vụ quản lý để giáo viên noi theo. Luôn
nâng cao ý thức học hỏi đúc rút kinh nghiệm, đổi mới các biện pháp quản lý, chỉ
đạo, nghiêm túc chỉ đạo thực hiện các hoạt động của nhà trường. Làm tốt công tác
phối kết hợp với các ban ngành đoàn thể trong xã. Thân thiện gần gũi với các bậc
phụ huynh, thấu hiểu chia sẻ cảm thông với các hoàn cảnh khó khăn, các gia đình
còn tư tưởng nhận thức lạc hậu cổ hủ, lắng nghe tôn trọng các ý kiến đóng góp xây
dựng phát triển nhà trường, phát huy vai trò của Hội cha mẹ học sinh trong nhà
trường. Nắm bắt tình hình tâm tư nguyện vọng và các ý kiến của cán bộ, giáo viên,
nhân viên trong nhà trường. Thực hiện tốt dân chủ trong cơ quan, công tác kiểm tra,
theo dõi, đánh giá nhận xét công bằng, công khai thì công tác quản lý mới đạt hiệu
quả cao.
Người quản lý phải nắm chắc các chỉ số cơ bản như tỷ lệ huy động trẻ ra lớp
hàng năm, tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng hàng năm, tỷ lệ trẻ đạt khá giỏi hàng năm, tỉ lệ
trẻ bị mắc các bệnh thông thường, trong đó bệnh nào có tỷ lệ cao nhất, để đề ra các
biện pháp khắc phục xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện. Hiệu trưởng phải có
cái nhìn tổng quan mọi vấn đề về chất lượng về khả năng đáp ứng về tiềm năng có
thể khai thác ở trường mình, địa phương mình, có như vậy mới đánh giá được sự
phát triển của nhà trường và xây dựng nhà trường phát triển
Người quản lý trường học nói chung, trường mầm non nói riêng phải thật sự
tâm huyết với nghề nghiệp và luôn có tâm, có tầm, có khả năng xây dựng kế hoạch
tốt, có năng chỉ đạo nhà trường mới phát triển vững mạnh. Phải tư duy không có
biện pháp nào là hữu hiệu và mãi mãi, mà theo từng năm học nó được cải tiến, sửa
đổi bổ xung cho phù hợp với tình hình ở từng địa phương, từng thời điểm, phù hợp
với yêu cầu đổi mới cho nên người quản lý phải luôn tự học hỏi tích lũy kinh
nghiệm, phải nhạy bén với tình hình mới, với việc nắm bắt các thông tin, sáng tạo,
21
CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG ĐÁNH
GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞ GD&ĐT VÀ CÁC CẤP
CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả: Nguyễn Thị Sang
Chức vụ và đơn vị công tác: Hiệu trưởng - Trường Mầm non Tân Lập
TT
1.
2.
3.
4.
Tên đề tài SKKN
Một số biện pháp rèn luyện
kỹ năng phát âm chuẩn tiếng
phổ thông cho trẻ mẫu giáo
Xây dựng tập thể sư phạm
trường mầm non vững mạnh
Kết quả
Cấp đánh
đánh giá
giá xếp loại
2016 - 2017
Kinh nghiệm chỉ đạo giảm
Sở GD&ĐT
SDD thể thấp còi của Hiệu
Thanh Hóa
trưởng trường MN Tân Lập
Một số biện pháp huy động
Phòng
trẻ độ tuổi mẫu giáo đến
GD&ĐT
trường giai đoạn 2012-2017 ở
Bá Thước
trường MN Tân Lập
----------------------------------------------------
22