SKKN: Một số biện pháp huy động trẻ dân tộc thiểu số trong độ tuổi mầm non ra lớp - Pdf 41

PHÒNG GD & ĐT HUYỆN KON RẪY
TRƯỜNG MẦM NON TÂN LẬP

S¸ng kiÕn kinh nghiÖm

Mét sè biÖn ph¸p huy ®éng trÎ d©n
téc thiÓu sè trong ®é tuæi mÇm non
ra líp ë trêng mÇm non t©n lËp

Tên tác giả: Trần Thị Thu Ba
Trình độ chuyên môn: ĐHSP Mầm Non
Chức vụ: Hiệu trưởng.
Đơn vị công tác: Trường mầm non Tân Lập
Tân lập, tháng 12/2015
I. ĐẶT VẤN ĐỀ:

1


Giáo dục Mầm non là bậc học đầu tiên, mở đầu cho các bậc học tiếp theo.
Nhiệm vụ quan trọng của Giáo dục Mầm non là hình thành những cơ sở ban đầu
của nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa và tạo tiền đề vững chắc cho trẻ khi
bước vào trường Tiểu học. Như vậy, việc chăm sóc - nuôi dưỡng - giáo dục trẻ ở
lứa tuổi Mầm non là vô cùng cần thiết trong quá trình đào tạo nhân cách con
người, giúp trẻ phát triển một cách toàn diện. Phát triển Giáo dục Mầm non là nền
tảng cho sự nghiệp phát triển nguồn lực con người, phục vụ cho mục tiêu phổ cập
Tiểu học, phổ cập Trung học cơ sở và tiến tới phổ cập Trung học phổ thông.
Tuy nhiên, Tân Lập là một xã thuộc vùng thuận lợi của huyện Kon Rẫy,
nhưng có 2 thôn thuộc vùng đặc biệt khó khăn với trên 30% là đồng bào dân tộc
sinh sống nên còn nhiều hủ tục, lạc hậu, đa số phụ huynh chưa hiểu hết tầm quan
trọng của Giáo dục Mầm non, đặc biệt nhiều gia đình chưa dạy trẻ biết tiếng phổ


kỳ thám hiểm, đứa trẻ như "một nhà thực nghiệm", " một nhà hoạt động thực tiễn",
thế giới đồ vật đã trở thành đối tượng nhận thức của trẻ, nảy sinh nhu cầu giao tiếp
bằng ngôn ngữ, thời kỳ phát cảm ngôn ngữ, xuất hiện "Cái tôi" đó là dấu hiệu khởi
đầu của sự hình thành nhân cách, các yếu tố di truyền cung cấp các chất liệu " thô"
còn môi trường giáo dục sẽ tiếp tục đúc nặn tâm hồn và ý chí của đứa trẻ.
Lứa tuổi mẫu giáo 3 - 6 tuổi: Vui chơi trở thành hoạt động chủ đạo đối với
sự phát triển của trẻ, nhu cầu giao tiếp của trẻ đối với con người, đối với trẻ cùng
lứa, đối với môi trường thiên nhiên và môi trường xã hội trở nên mạnh mẽ, trẻ có
nguyện vọng mong muốn được tự lực, nhiều đứa trẻ đã bộc lộ " cái tôi" một cách
mạnh mẽ. Bên cạnh kiểu tư duy trực quan hành động ở tuổi nhà trẻ đã xuất hiện
kiểu tư duy trực quan hình tượng, sơ đồ, đó là tiền đề phát triển tư duy logic cần
thiết ở tuổi học đường sau này.
Và như vậy, nếu đứa trẻ chỉ sống trong gia đình thì phạm vi tiếp xúc với môi
trường xung quanh, với con người rất hạn hẹp không đáp ứng được nhu cầu phát
triển của trẻ mà chỉ có đưa trẻ đến trường Mầm non, nơi có môi trường giáo dục
theo hệ thống, mọi tác động giáo dục đều đúng lúc, phù hợp với độ tuổi thì mới
giúp trẻ phát triển một cách toàn diện được. Đó chính là sự cần thiết phải cho trẻ
trong độ tuổi Mầm non đến trường.
* Các cơ sở chính trị và pháp lý:
Ngay từ Luật Giáo dục năm 1998, chúng ta thấy Đảng và Nhà nước ta đã
thực sự coi trọng Giáo dục Mầm non, coi Giáo dục Mầm non là nền móng then
chốt chất lượng cho các bậc học tiếp theo. Do vậy, từ Đại hội Đảng toàn quốc lần
thứ IX đã đề ra mục tiêu, chiến lược phát triển Giáo dục Mầm non giai đoạn 2001 2020, mục tiêu được đặt ra đến năm 2020 là "Xây dựng hoàn chỉnh và phát triển
bậc học Mầm non cho hầu hết trẻ em trong độ tuổi..." Đồng thời mục tiêu cụ thể là
phải đảm bảo cho hầu hết trẻ 5 tuổi được học chương trình mẫu giáo lớn chuẩn bị
vào lớp 1.
Quyết định 161/2002/QĐ - TTg của Thủ tướng chính phủ về một số chính
sách phát triển giáo dục mầm non cũng nêu rõ " Ưu tiên phát triển giáo dục mầm
non ở những nơi có điều kiện khó khăn, các vùng núi cao, vùng đồng bào dân

12,4%

+ Mẫu giáo: 213 cháu

97%

+ Trẻ 5 tuổi: 66 cháu

100%

Kết quả điều tra cho thấy, từ năm học 2013 - 2014 đến năm học 2014 –
2015 tỷ lệ huy động trẻ nhà trẻ ra lớp, trẻ nhà trẻ và mẫu giáo ra lớp chưa cao
so với mặt bằng chung của huyện, của tỉnh.
Nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ trẻ mầm non ra lớp thấp là do:
4


- Điều kiện kinh tế và dân trí của đồng bào dân tộc còn nhiều hạn chế, vẫn
còn quá nhiều tập quán hủ tục, lạc hậu. Đa số phụ huynh chưa hiểu hết tầm quan
trọng của việc cho trẻ trong độ tuổi đến trường Mầm non.
- Địa bàn xã quá rộng, dân cư thưa thớt, đường xá đi lại khó khăn, đa số
người dân dựa vào cây mì, cây lúa làm nguồn thu nhập chính, rất nhiều gia đình đã
sinh sống trong nhà đầm dẫn đến việc đi học của các cháu rất khó khăn và ảnh
hưởng rất lớn đến các công tác huy động trẻ ra lớp của nhà trường.
- Trường có 6 điểm lẻ, những năm đầu cơ sở vật chất tại điểm chính của nhà
trường còn quá thiếu thốn, điều kiện chăm sóc - giáo dục trẻ còn gặp nhiều khó
khăn dẫn đến chất lượng chưa cao.
* Thuận lợi:
Đảng uỷ và chính quyền địa phương có các văn bản chỉ đạo các ban ngành
cùng phối hợp trong công tác vận động học sinh ra lớp, thành lập ban vận động

Nghị quyết của Đảng ta đã chỉ rõ: " Giáo dục là sự nghiệp của toàn Đảng,
của Nhà nước và của toàn dân..." đặc biệt là Giáo dục Mầm non càng phải làm tốt
công tác tuyên truyền sâu rộng tới các bậc cha mẹ có con trong độ tuổi Mầm non
và toàn thể nhân dân.
Với đặc thù của địa phương có 30% đồng bào dân tộc sinh sống, đời sống
vật chất và tinh thần còn mang nặng tính hủ tục, lạc hậu nên tôi đã xây dựng kế
hoạch tuyên truyền phù hợp với điều kiện của địa phương như sau:
- Thành lập Ban vận động tuyên truyền của nhà trường, trong đó có sự tham
gia của cấp uỷ, chính quyền địa phương, đại diện hội phụ nữ, văn hoá xã, đoàn
thanh niên, đại diện hội phụ huynh học sinh...). Xây dựng kế hoạch phối kết hợp
chặt chẽ với các ban ngành đoàn thể để làm tốt công tác tuyên truyền. Tham mưu
với UBND xã đưa tiêu chí "Cho con trong độ tuổi mầm non đến trường" vào để
xét "Gia đình văn hoá".
- Chỉ đạo, phân công mỗi giáo viên phụ trách công tác tuyên truyền một
thôn, từ thôn 1 đến thôn 6:
+ Mỗi giáo viên tự xây dựng kế hoạch tuyên truyền của mình cho phù hợp
với tình hình thực tế của thôn mình phụ trách.
+ Hàng tháng, giáo viên kết hợp với Trưởng thôn, Hội phụ nữ thôn, Chi
đoàn thanh niên của thôn tổ chức các buổi sinh hoạt để tuyên truyền tới các bậc
cha mẹ có con trong độ tuổi Mầm non về tầm quan trọng của Giáo dục Mầm non.
Giúp các bậc cha mẹ hiểu rõ ý nghĩa của việc nuôi dạy con theo khoa học, có kiến
thức để chăm sóc con tốt hơn.
- Chỉ đạo giáo viên xây dựng góc tuyên truyền tại lớp, trang trí tạo môi
trường tuyên truyền tại các nhóm, lớp.
- Tuyên truyền thông qua các ngày hội, ngày lễ, các hội thi: đây cũng là một
dịp để tuyên truyền rất tốt, đem lại hiệu quả cao (hàng năm, ngay từ đầu năm học,
tôi đều xây dựng kế hoạch tổ chức các hội thi cho trẻ theo sự chỉ đạo và hướng dẫn
của phòng GD&ĐT)
+Tuyên truyền trong " Ngày hội đến trường của bé", đây là ngày đầu tiên trẻ
đến trường mở đầu cho một năm học, vì vậy tôi luôn chú ý tổ chức đúng tính chất

hiện chương trình đúng theo sự chỉ đạo của nhà trường, đặc biệt chú trọng việc đổi
mới hình thức tổ chức dạy học lấy trẻ làm trung tâm và phát huy hết tính tích cực
của trẻ, tạo môi trường phong phú, an toàn cho trẻ hoạt động.
Chú trọng vào công tác tăng cường tiếng Việt, giúp trẻ có kỹ năng giao tiếp
bằng tiếng Việt rõ ràng, lưu loát, mạch lạc, tạo cho trẻ có đầy đủ vốn tiếng Việt để
bước vào học lớp lớp 1 tiếp thu kiến thức dễ dàng, thuận lợi hơn.
Chỉ đạo giáo viên tích cực làm đồ dùng, đồ chơi phong phú, phù hợp chủ đề,
chủ điểm để bổ sung cho các góc chơi của trẻ. Khuyến khích giáo viên chủ động,
sáng tạo, linh hoạt trong việc thiết kế các hình thức tổ chức dạy học sinh động, hấp
dẫn, thu hút trẻ. Tích cực chú ý rèn luyện cho các cháu mạnh dạn, tự tin, thích hoạt
động tập thể, thích giao lưu với bạn bè, từ đó các cháu thích được đi học hơn, tỷ lệ
chuyên cần và tỷ lệ bé ngoan tăng cao. Vì vậy, nhiều phụ huynh đã đến trường để
xin cho con đi học.
7


3.3. Làm tốt công tác phối hợp, kết hợp:
Nhà trường đã làm tốt công tác tham mưu với Đảng uỷ, UBND xã về công tác
vận động học sinh ra lớp, phối hợp chặt chẽ với các ban ngành đoàn thể trong xã
làm tốt công tác vận động học sinh ra lớp, đó là một trong những nhiệm vụ chính
trị được ưu tiên hàng đầu trong giáo dục địa phương.
Chỉ đạo giáo viên làm tốt công tác điều tra để nắm chắc số lượng trẻ trong độ
tuổi ra lớp mẫu giáo, cụ thể là số trẻ có độ tuổi từ 3 đến 5, chú ý số trẻ 5 tuổi ở địa
bàn để vận động được hết số lượng trẻ ra lớp không bị sót lại.
Phối hợp với các ban, ngành như: thông tin văn hóa, Hội phụ nữ, ban bảo vệ
chăm sóc trẻ em xã, già làng, trưởng thôn, ban quản lý các thôn…để vận động học
sinh ra lớp.
Ngoài ra, còn tham gia các hoạt động ở địa phương như họp thôn, tham gia
các lễ kỉ niệm của phụ nữ,… tranh thủ tuyên truyền, vận động cho phụ huynh biết
để phụ huynh tự giác đưa con em đến trường, lớp mẫu giáo để học

chăm sóc, giáo dục trẻ nhà trường đã tổ chức bồi dưỡng chuyên đề cho đội ngũ cán
bộ quản lý và giáo viên về các nội dung thực hiện chương trình GDMN. Công tác
chăm sóc, giáo dục trẻ, quản lý, sử dụng và bảo quản thiết bị dạy học, đồ chơi…
Hoàn thiện bộ máy lãnh đạo và các tổ chức trong nhà trường ngay từ đầu năm
học đặc biệt là tổ chuyên môn.
Quản lý và sử dụng tốt về cơ sở vật chất, đồ dùng đồ chơi, trang thiết bị hiện
có. Tham mưu với các cấp lãnh đạo bổ sung đầy đủ cơ sở vật chất nhà trường.
Thực hiện tốt công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên bằng nhiều hình
thức và nội dung phù hợp.
Tạo điều kiện cho CBGV tham gia các lớp học nâng chuẩn có chất lượng như:
Các lớp cao đẳng, đại học, các lớp bồi dưỡng chuyên môn do sở GD&ĐT và
phòng GD&ĐT mở
Toàn thể CBQL, GV và nhân viên trong nhà trường thực hiện tốt các cuộc vận
động các phong trào thi đua. Có phẩm chất đạo đức lối sống tốt. Chấp hành tốt
chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước, không có GV vi phạm pháp luật,
không có giáo viên yếu kém. Gia đình đạt gia đình văn hóa.
Thực hiện nghiêm túc điều lệ trường Mầm Non, Quy định chuẩn nghề nghiệp
giáo viên Mầm non. Các nội quy, quy chế của ngành, của trường.
Tham gia tốt các phong trào của ngành, của trường và của địa phương. Tham
gia đầy đủ các lớp bồi dưỡng chính trị và chuyên môn đặc biệt là về chương trình
giáo dục Mầm non mới.
Nhà trường tạo điều kiện, động viên khuyến khích CBGV tham gia học các lớp
bồi dưỡng về tin học, sử dụng máy vi tính và khai thác thông tin trên mạng intenet
vận dụng vào công tác giảng dạy, công tác chuyên môn.
Ổn định đội ngũ giáo viên trong nhà trường.Thực hiện đầy đủ lương ,các khoản
phụ cấp và các chính sách cho CB giáo viên, nhân viên theo chế độ hiện hành.
Tổ chức và duy trì các phong trào thi đua theo hướng dẫn của ngành và quy
định của nhà nước, phát động các phong trào thi đua đạt hiệu quả cao 100% cán bộ
giáo viên, nhân viên nhà trường đã hưởng ứng tham gia các phong trào thi đua, có
sơ kết, tổng kết, động viên khen thưởng kịp thời cán bộ giáo viên, nhân viên đạt


Năm học 2015 -2016

Tăng (+)
Giảm(-)

Thôn 4

Thôn 5

+Số lớp : 1

+Số lớp : 1

+Số trẻ: 23

+Số trẻ: 35

+Tỷ lệ huy động: 72%

+Tỷ lệ huy động: 100%

+Riêng trẻ 5 tuổi :

+Riêng trẻ 5 tuổi: 10

+Tỷ lệ trẻ 5 tuổi ra

+Tỷ lệ trẻ 5 tuổi ra



+Riêng trẻ 5 tuổi: 16

+Tỷ lệ trẻ 5 tuổi ra

+Tỷ lệ trẻ 5 tuổi ra

lớp :100%

lớp :100%

trẻ học chuyên cần đạt
100%

trẻ học chuyên cần đạt
100%

- Phụ huynh và cộng đồng nhận thức rõ về tầm quan trọng của giáo dục
mầm non, đặc biệt là việc cần thiết phải cho trẻ trong độ tuổi đến trường, phụ
huynh tin tưởng vào các cô giáo từ đó quan tâm tới việc cho con em mình đi học
hơn. Hàng năm nhà trường đều đạt và vượt chỉ tiêu kế hoạch giao, so với dân số độ
tuổi năm sau đều cao hơn năm trước:
* Về chất lượng : Chất lượng chăm sóc - giáo dục trẻ của nhà trường cũng
tăng cao: Trẻ ham muốn được đi học nên tỷ lệ chuyên cần đạt 100%, so với trước
kia chỉ đạt 70 - 97%. Trẻ khoẻ mạnh, nhanh nhẹn, tự tin, có kiến thức và kỹ năng
giao tiếp với mọi người, tỷ lệ bé ngoan đạt 76,3% so với trước chỉ đạt 68 - 70%.
Tỷ lệ suy dinh dưỡng giảm 4,96% so với đầu năm và giảm 5% so với cùng kỳ năm
học trước.

Hình ảnh học sinh lớp mẫu giáo thôn 4

Có 76 trẻ 3->5 tuổi được hưởng chế độ ăn trưa theo quy định của thông tư số:
29/2011/TTLT-BGDĐT-BTC ngày 15/7/2011.
a) Tình hình đội ngũ, chất lượng giáo viên dạy lớp mẫu giáo thôn 4, thôn 5:
Tổng số lớp: 3
Tổng số giáo viên dạy: 3
+ Đạt trình độ chuẩn: 3/3 giáo viên = 100%
+ Đạt trình độ trên chuẩn: 1/3 giáo viên = 33,3 %
+3/3 giáo viên đạt giáo viên dạy giỏi cấp trường; trong đó có: 1/3 GV đạt Gv
dạy giỏi cấp huyện = 33,3%
+ 3/3 giáo viên xếp loại chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non: loại xuất sắc
(năm học 2014 - 2015).
+ 3/3 giáo viên là viên chức hưởng đầy đủ mọi chế độ chính sách của nhà
nước
III. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
1. Kết luận:
Với phạm vi hẹp của đề tài, tôi chỉ đưa ra 6 biện pháp nhằm huy động tốt trẻ
mầm non dân tộc thiểu số ra lớp. Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện từng biện
pháp, tôi rút ra được những kết luận sau:
Công tác vận động trẻ ra lớp và duy trì sỉ số trẻ là công tác then chốt hàng
đầu ở trường mầm non, mẫu giáo, nó góp phần quyết định sự thành công của việc
thực hiện nhiệm vụ năm học. Vì vậy rất cần có những hình thức và biện pháp tuyên
truyền phù hợp với tình hình thực tế của địa phương, mặt khác cần phải chú ý đến
bản sắc đặc thù của đồng bào dân tộc, nắm được đặc điểm tâm lý cũng như phong
tục tập quán của mỗi dân tộc để tuyên truyền nâng cao nhận thức về tầm quan
trọng của giáo dục mầm non tới các bậc phụ huynh và toàn cộng đồng. Để thực
hiện tốt công tác này đòi hỏi giáo viên phải thật sự yêu nghề, mến trẻ, có tâm
huyết, có trách nhiệm với công tác; phải thường xuyên trao dồi kiến thức và năng
lực chuyên môn; giải có khả năng giao tiếp nhẹ nhàng, mềm mỏng với phụ huynh
học sinh.


công tác vận động học sinh ra lớp kết hợp với các biện pháp duy trì sĩ số để đảm
bảo chuyên cần. Hai mặt công tác trên phải luôn gắn bó và được tiến hành đồng
thời. Có thế mới đủ điều kiện để đảm bảo nâng cao chất lượng ở mỗi trường học.
2. Giáo viên phải theo dõi và nắm vững sĩ số học sinh hàng ngày, hàng tuần,
hàng tháng đồng thời có biện pháp hữu hiệu để khắc phục, phòng ngừa.
3. Giáo viên phải có tình yêu thương và tận tình giúp đỡ các cháu. Luôn phải
kiên trì, tận tâm tận lực và phải tâm niệm rằng: “Tất cả vì học sinh thân yêu”. Một
điều quan trọng nhất là sự nhiệt tình giảng dạy của các cô giáo. Những bài giảng
của các cô cần phải tạo cho các cháu tâm lí muốn học và thích đến lớp hơn. Các cô
giáo không những chỉ dạy kiến thức mà còn phải dỗ học sinh học bài . Vì vậy với
giáo viên không chỉ cần có chuyên môn tốt mà còn phải rất kiên trì, hiểu tâm lí học
sinh và tận tụy với nghề. Nếu yêu cầu ở các cháu quá cao hay phương pháp không
14


phù hợp có thể khiến các cháu có tâm lí “sợ học” bởi vậy bài giảng phải luôn vừa
sức với học sinh nhưng kiến thức vẫn đủ và sinh động, lí thú, từ đó học sinh mới đi
học đều.
4. Khi tổ chức đi vận động học sinh ra lớp phải đi tập thể có đông đủ ban
giám hiệu, các cô giáo, các ban ngành đoàn thể trong xã, trong thôn đến gặp trực
tiếp cha mẹ học sinh như một chiến dịch đi vận động học sinh ra lớp. Tổ chức đi
như vậy vừa tạo ra không khí, động lực cho tất cả cán bộ giáo viên, nhân viên khi
đi vận động học sinh, vừa làm cho cha mẹ, học sinh thấy sự quan tâm đến việc học
của học sinh không chỉ có các cô chủ nhiệm mà tất cả cán bộ giáo viên, nhân viên
trong nhà trường cũng đều quan tâm. Bên cạnh đó cần phải phát huy hết vai trò của
giáo viên, nhân viên người sở tại để họ trao đổi với cha mẹ học sinh bằng tiếng địa
phương thì sẽ đem lại hiệu quả cao hơn.
5. Trong công tác tham mưu, phối hợp với cấp ủy chính quyền địa phương
phải kịp thời. Mặt khác ban giám hiệu đặc biệt là Hiệu trưởng phải thường xuyên
có mặt trong các buổi họp thôn hay các buổi triển khai các chương trình phát triển

Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tân Lập, ngày 10 tháng 12 năm 2015.
Người viết

Trần Thị Thu Ba

IV.MỤC LỤC

trang

I. ĐẶT VẤN ĐỀ..................................................................

02

II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:………………………………....

02
16


1. Cơ sở lý luận của đề tài.....................................................

02

2. Thực trạng của đề tài........................................................

04

3. Các giải pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề.............


4. Hiệu quả của sáng kiến kinh
nghiệm:.............................................................................................

9

4.1: Tỷ lệ huy động học sinh ra lớp....................................

10

4.2: Cơ sở vật chất, trang thiết bị đồ dùng đồ chơi lớp mẫu
giáo thôn 4, thôn 5:......................................................................

12

4.3: Chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ, việc thực hiện chế độ chính
sách theo quy định đối với trẻ em 3->5 tuổi như sau:......................

12

III. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT

13

1. Kết luận ....................................................................................

13

* Những bài học kinh nghiệm:..............................................

14

18


19




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status