SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GD&ĐT HUYỆN THẠCH THÀNH
SÁNG KIẾN KINH NGHIÊM
BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG SỐNG CƠ BẢN CHO
HỌC SINH LỚP 4 TRƯỜNG TIỂU HỌC THÀNH MINH
Người thực hiện : Vũ Thị Nguyệt
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường tiểu học Thành Minh
SKKN: Thuộc lĩnh vực giáo viên chủ nhiệm
THANH HÓA NĂM 2017
1
MỤC LỤC:
STT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
7
7
8
13
học.
2.3.3.Rèn KNS qua việc trải nghiệm qua các hoạt động ngoài
14
14
giờ lên lớp.
2.3.4.Tạo môi trường thuận lợi để học sinh có nhiều cơ hội rèn
15
15
luyện kĩ năng sống đã học
2.3.5.Tạo hứng khởi cho học sinh với những hình thức khen
16
16
thưởng phù hợp,kịp thời động viên khích lệ các em
2.3.6. Tổ chức một số buổi nói chuyện về chuyên đề “ Giáo dục
2
thạo, chữ viết sạch đẹp, viết văn hay mà quên đi rằng những kiến thức, kĩ năng
về thực tế cuộc sống hằng ngày cũng không kém phần quan trọng để hình thành
nên một nhân cách hoàn chỉnh.
Như chúng ta đã biết, giáo dục kĩ năng sống hiện nay là yêu cầu cấp thiết
đối với thế hệ trẻ bởi vì: Các em chính là những chủ nhân tương lai của đất
nước, là những người sẽ quyết định sự phát triển của đất nước. Nếu không có kĩ
năng sống các em sẽ không thể thực hiện tốt trách nhiệm đối với bản thân, gia
đình cộng đồng và đất nước. Lứa tuổi học sinh là những lứa tuổi đang hình
thành những giá trị nhân cách giàu ước mơ, ham hiểu biết, thích tìm tòi, khám
phá những cái mới. Song, các em còn thiếu hiểu biết sâu sắc về xã hội, còn thiếu
kinh nghiệm sống, dễ bị lôi kéo, kích động, .... Đặc biệt là trong bối cảnh hiện
nay, đất nước ta đang đi vào hội nhập quốc tế, cơ chế thị trường mở rộng. Vì vậy
thế hệ trẻ thường xuyên chịu những tác động đan xen của những yếu tố tích cực
và tiêu cực, luôn được đặt vào những hoàn cảnh phải lựa chọn, phải đương đầu
với những khó khăn, thách thức. Nếu không được giáo dục kĩ năng sống một
cách kĩ càng cẩn thận các em dễ bị lôi kéo vào những hành vi tiêu cực, bạo lực,
vào lối sống ích kỉ, lai căng, thực dụng, dễ bị phát triển lệch lạc về nhân cách.
Một trong các nguyên nhân dẫn đến hiện tượng tiêu cực của một bộ phận học
sinh trong thời gian qua như: Nghiện hút, bạo lực học đường, ăn chơi xa
đọa,...Chính bởi lẽ các em thiếu kĩ năng sống cần thiết như: kĩ năng xác định giá
trị bản thân, kĩ năng từ chối, kĩ năng kiên định, kĩ năng giải quyết mâu thuẫn, kĩ
năng thương lượng, kĩ năng giao tiếp,....
Đối với học sinh trường Tiểu học Thành Minh thì kĩ năng sống của các
em còn quá ít ỏi. Đa số các em còn rụt rè, chưa tự tin khi giao tiếp. Các em ít có
điều kiện để tiếp xúc với môi trườn bên ngoài vì vậy kĩ năng của các em không
được hình thành nếu không được giáo dục kịp thời thì khi ra xã hội hiện nay các
lý của đề tài: phân tích, đối chiếu với thực trạng của nhà trường trong thời điểm
hiện tại để qua đó tìm ra các biện pháp,giải pháp mới hiệu quả hơn cho các hoạt
động .Góp phần năng cao chất lượng đào tạo nói chung và làm tốt công tác giáo
dục kỹ năng sống cho học sinh lớp 4 nói riêng. Đạt hiệu quả cao trong phong
trào “ Xây dựng trường học thân thiện,học sinh tích cực”
- Đạt được các mục tiêu của giáo dục, đã được định hướng:
Học để biết; Học để làm; Học để chung sống cùng nhau và học để làm người.
1.3. Đối tượng nghiên cứu:
- Nghiên cứu và tổ chức việc nâng cao kĩ năng sống cho bản thân mỗi giáo viên
từ việc nắm rõ, nắm chắc các phương pháp, cách thức tổ chức để từ đó giúp học
sinh rèn kĩ năng sống.
- Nâng cao hiểu biết cũng như các kĩ năng sống cơ bản cho 30 học sinh lớp 4B
trường tiểu học Thành Minh.
1.4.Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế, thu thập thông tin.
- Phương pháp thống kê và xử lí số liệu.
- Phương pháp thực nghiệm.
2.Nội dung sáng kiến kinh nghiệm:
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm:
Chất lượng giáo dục là cái tạo nên phẩm chất giá trị của một con người.
Chương trình GDKNS phù hợp và KNS được coi như một nội dung của chất
lượng giáo dục. Hoạt động GDKNS thông qua HĐ GDNGLL trong trường Tiểu
học là hoạt động mang tính chất pháp chế được quy định:
- Tổ chức một số hoạt động ngoài giờ lên lớp.[7]
- Quản lí hoạt động giáo dục kỹ năng sống và hoạt động giáo dục ngoài giờ
chính khóa.[8]
- Kế hoạch giáo dục kỹ năng sống cho học sinh năm học 2016-2017[11]
Đây là căn cứ để xây dựng kế hoạch GDKNS thông qua HĐ GDNGLL
theo tháng và theo chủ điểm.
Để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho thế hệ trẻ, đáp ứng được
*Ưu điểm:
Ban lãnh đạo xã và các thôn rất quan tâm đến giáo dục của xã nhà. Luôn tạo
mọi điều kiện để đưa lĩnh vực giáo dục lên một tầm cao mới.Trong năm 2017 đã
khởi công để xây dượng cơ sở vật chất chuẩn bị điền kiện cho công tác xây dựng
trường chuẩn quốc gia cấp độ 1, tạo điều kiện cho nâng cao chất lượng giáo dục
cho xã Thành Minh.
*Nhược điểm:
Thành Minh vốn là một xã 135: Điều kiện kinh tế còn gặp nhiều khó khăn,
dân số đông nhất huyện. Trong đó người dân tộc thiểu số chiếm 2/3 số dân trong
xã. Địa bàn rộng, địa hình hiểm trở đi lại khó khăn, một số thôn các em đi học
phải đi qua khe suối. Số dân làm nông nghiệp chiếm 97%
Trình độ dân trí chưa cao, nạn rượu chè, cờ bạc, số đề vẫn còn tồn tại. Kinh
tế gặp nhiều khó khăn nên ảnh hưởng rất lớn đến việc học tập của các em.
Người dân còn có nhiều gia đình có tư tưởng “trọng nam khinh nữ ” vì vậy số
con trong mỗi gia đình đông ( 3-4 hoặc 5-6 con) đặc biệt là những thôn người
dân tộc thiểu số. Đông con nên không có điều kiện quan tâm đến việc học hành
của con, mọi vấn đề đều phó mặc cho thầy cô. Nhiều gia đình còn phải tha
hương kiếm ăn bỏ mặc con ở nhà chăm lấy nhau, dân trí thấp ảnh hưởng rất
nhiều đến chất lượng giáo dục.
Từ những thực trạng đó dẫn đến việc tiếp cận kĩ năng sống của học sinh rất
hạn chế. Các mối quan hệ chỉ bó hẹp trong thôn xóm, làng xã, ít khi có dịp tiếp
xúc với môi trường rộng và phức tạp hơn vì vậy việc hình thành kĩ năng sống là
hết sức khó khăn.
b.Thực trạng trường lớp:
Năm học 2016-2017, nhà trường có 14 lớp với 374 học sinh
5
• Thuận lợi:
sinh cùng trang lứa ở các trường thành phố hay ở vùng trung tâm huyện. Một số
học sinh chưa biết kỹ năng đơn giản tối thiểu nhất trong cuộc sống như thiếu kỹ
năng giao tiếp, không có thói quen chào hỏi hoặc nói câu chào hỏi chưa phù hợp
trong các tình huống cụ thể; không tự tin trong giao tiếp nói năng cộc lốc, thậm
chí có em còn e dè không dám nói hoặc không biết nói lời xin lỗi khi các em làm
sai. Còn có học sinh nói tục, chửi bậy, cử chỉ, hành vi thiếu văn hóa. Khá nhiều
học sinh chưa biết tự vệ sinh cá nhân, chưa biết cách tự bảo vệ mình; chưa biết
tự phục vụ bản thân, cũng như việc phòng tránh tai nạn thương tích…
- Nhiều em chưa biết làm những công việc phù hợp với lứa tuổi như quét lớp,
dọn vệ sinh...thiếu ý thức tập thể, chấp hành kỷ luật kém, chưa thực hiện nghiêm
túc nội quy, quy định của nhà trường, các quy định nơi công cộng, nói chưa đi
đôi với việc làm.
6
Tôi làm khảo sát với một số kỹ năng cơ bản cần thiết các em thể hiện
hằng ngày như sau:
Tổng số
Biếtchào tự
tin Biết phòng
Biết
Phòng
trước
tránh bị
học sinh hỏi
tránh tai nạn phòng
đám
lễ phép
50
33,3
33,3
19,98
50%
33,3
Qua khảo sát thì tôi thấy học sinh chưa có các kĩ năng thiết yếu để giải quyết
vấn đề trong cuộc sống của các em dẫn đến các thực trạng trên:
Nguyên nhân khách quan: Do điều kiện sống ở nông thôn miền núi không
gian rộng, các em tiếp xúc nhiều với thiên nhiên, nên nhận thức cảm tính của các
em phát triển khá tốt. Tuy nhiên môi trường giao tiếp lại không rộng; đối tượng
giao tiếp của các em bó hẹp trong phạm vi gia đình, làng bản ít va chạm bên
ngoài.
Nguyên nhân chủ quan:
-Vì điều kiện thời gian học sinh ở trường ít, học sinh lớp 4 học 6 buổi/ tuần, chủ
yếu dạy kiến thức các bộ môn còn dạy kỹ năng sống chỉ lồng ghép trong các tiết
học đặc biệt là tiết học đạo đức, ngoài ra cũng đã đã bố trí tiết học riêng 2tiết/
tháng và tổ chức hoạt động ngoài giờ để dạy và rèn dạy kỹ năng sống cho trẻ.
Tuy vậy cũng chưa có điều kiện giám sát các hành vi của các em trong các hoạt
động ngoài nhà trường, chính vì thế kỹ năng sống của các em còn nhiều hạn chế.
- Về phía gia đình: Các gia đình hiện nay phần lớn chỉ mải mê với làm ăn kinh
tế, mới chỉ quan tâm tới việc ăn ngủ của trẻ, ít quan tâm dạy cho trẻ các kỹ năng
trong cuộc sống. Mặt khác, lại có những gia đình quá chiều con để phát triển tự
2.3.1.2. Đối với học sinh: Học sinh còn bé, nhận thức về mọi vấn đề đang còn
đơn giản. Các em chưa hiểu biết sâu sắc được làm tầm quan trọng của kĩ năng
sống trong cuộc sống hiện nay. Vì vậy, qua các tiết học, giờ sinh hoạt tôi dần
giúp các em hiểu rõ hơn về kĩ năng sống, về mục đích của việc rèn luyện Kĩ
năng sống cho các em. Từ đó các em hiểu biết và yêu thích về môn học.
2.3.1.3. Đối với phụ huynh: Phần lớn phụ huynh còn trẻ, đang phải đi làm để
ổn định kinh tế vì vậy họ đều giao phó con cái cho ông bà chăm sóc. Đa số họ
đều nhận thức về giáo dục kĩ năng sống cho con cái còn hết sức mơ hồ.
Xuất phát từ thực trạng trên, ngay sau khi nhận lớp, tôi đã tiến hành họp
phụ huynh để trao đổi về vấn đề ngoài việc nâng cao tri thức cho học sinh mà
còn phải chú trọng đến giáo dục kĩ năng sống cho các em, để các em hòa nhập
với cộng đồng. Trong cuộc họp tôi đã đưa ra các thực trạng về đạo đức cũng
như tình hình phức tạp hiện nay; nghiện ngập tràn lan, nạn xâm hại trẻ em, đánh
nhau, chơi game…Từ đó nâng cao nhận thức và ý thức cảnh giác cho các bậc
phụ huynh về tầm quan trọng và sự cấp thiết trong cuộc sống cần có kĩ năng
sống để các em phải biết đối mặt chứ không phải tránh né. Mong muốn phối
hợp chặt chẽ giữa gia đình - giáo viên - nhà trường và các đoàn thể trong và
ngoài nhà trường để góp phần hoàn thiện nhân cách của trê, để trẻ có đầy đủ các
kĩ năng sống sơ giản và cần thiết ngay từ khi là học sinh tiểu học.
2.3.2.Cụ thể hóa nội dung từng kĩ năng sống vào trong mỗi bài học,
mỗi hoạt động học:
Trong chương trình tiểu học các kĩ năng sống được lồng ghép trong các
môn học như: Tiếng Việt, Đạo đức, TNXH ( lớp 1,2,3), Khoa học ( lớp 4,5)Mĩ
thuật, thể dục, Âm nhạc. Bản thân tôi là giáo viên văn hóa đang trực tiếp dạy lớp
4 nên tôi chỉ tìm hiểu sâu vào các môn văn hóa đó là các môn Tiếng Việt, Đạo
đức, Khoa học. Tuy rằng việc lồng ghép đã được xác định nhưng khi vận dụng
thì bản thân mỗi người lại có những biện pháp dạy và các hình thức vận dụng
khác nhau để phù hợp với đối tượng giáo dục của mình từ đó rèn cho học sinh
các nhóm kĩ năng sống như:
1. Nhóm các kỹ năng nhận biết và sống với chính mình.
gây thiệt hại về người và tài sản cho con người. Nơi chúng ta đang ở rất ít phải
hứng chịu điều đó, vậy em đã từng làm gì để giảm bớt đi phần nào sự mất mát
đau thương qua mỗi mùa bão? Sau bài học tôi đều gợi ý để các em có thể tự nhìn
thấy những phẩm chất, lối sống và các hành vi của tích cực của mình để từ đó
dần hình thành kĩ năng sống cho các em thông qua mỗi bài học.
Như vậy qua mỗi tiết học chúng ta đều có thể giáo dục cho các em một kĩ
năng sống cơ bản nào đó một cách rất tự nhiên, dần hình thành cho các em một
chuỗi kĩ năng được vận dụng hằng ngày trong cuộc sống gần gũi và thân thuộc
với các em.
2.3.2.2. Môn Đạo đức:
Đây là một môn học được dạy từ lớp 1 đến lớp 5. Môn học này nhằm giáo
dục học sinh bước đầu biết cách sống và ứng xử phù hợp với các chuẩn mực xã
hội. Dạy đạo đức kết hợp hài hòa giữa việc trang bị kiến thức với bồi dưỡng tình
cảm, niềm tin và hình thành kĩ năng, hành vi cho học sinh.
Chương trình môn đạo đức bao gồm một hệ thống các chuẩn mực hành vi
đạo đức và pháp luật cơ bản, phù hợp với lứa tuổi học sinh tiểu học trong các
mối quan hệ của các em với bản thân, với người khác, với công việc, với cộng
đồng, đất nước, nhân loại và với môi trường tự nhiên. Bản thân nội dung môn
đạo đức đã chứa đựng nhiều nội dung liên quan đến kĩ năng sống như: kĩ năng
giao tiếp, ứng xử với ông bà, cha mẹ, anh chị em, bạn bè, thầy cô giáo và mọi
người xung quanh. Kĩ năng bày tỏ ý kiến của bản thân, kĩ năng ra quyết định và
9
giải quyết vấn đề phù hợp với lứa tuổi (Trong các tình huống cụ thể), kĩ năng
giữ gìn vệ sinh cá nhân, kĩ năng tự phục vụ và tự quản lí thời gian, kĩ năng thu
thập và xử lí thông tin từ các vấn đề trong thực tiễn dời sống ở nhà trường, ở
cộng đồng có liên quan đến chuẩn mực hành vi đạo đức. Trong quá trình dạy
môn đạo đức thì phương pháp đặc trưng để biến các hành vi, chuẩn mực đó trở
Học sinh thảo luận nhóm đôi: Một bạn nêu khó khăn rồi cả hai cùng tìm biện
pháp khắc phục.
Thông qua bài học các em sẽ có kĩ năng tháo gỡ những khó khăn trong học
tập. Biết giúp đỡ lẫn nhau khi gặp khó khăn. Biết phải giúp bạn ở mức độ nào
,không giải hộ bài cho bạn.
Ví dụ 2 : Bài “ Tiết kiệm tiền của ” ( Đạo đức lớp 4 )[12]
Ở tiết 1 sau khi học song, HS nắm được:
- Nêu được ví dụ về tiết kiệm tiền của.Biết được ích lợi của tiết kiệm tiền
của. Biết được vì sao phải tiết kiệm tiền của. Rèn kĩ năng biết chi tiêu phù hợp.
10
Khi dạy sang tiết 2 thì học sinh phải biết sử dụng quần áo, sách vở, điện ,
nước,... một cách tiết kiệm. Biết nhắc nhở bạn bè và những người thân biết cách
tiết kiệm tiền của.
- Trong học tập em làm gì để không lãng phí tiền của ?
- Khi đi mua đồ sinh hoạt hằng ngày, các em nên mua như thế nào ?
- Đối với các đồ dùng của mình và gia đình thì các em sử dụng như thế nào
để tiết kiệm tiền của?
- Ăn quà vặt có phải là tiết kiệm không ? vì sao ?
Tổ chức cho học sinh chơi trò chơi: Đi chợ, hội chợ để các em được trải
nghiệm qua thực tế từ đó có những cách thích ứng tốt nhất trong mọi hoàn cảnh.
Giúp các emcó kĩ biết sống giản dị, tiết kiệm một cách đúng mực.
2.3.2.3 Dạy kỹ năng tích hợp trong Môn khoa học:
Như ta đã biết ở môn Tự nhiên xã hội ở các lớp 1,2,3 là một môn học giúp
học sinh có một số kiến thức cơ bản ban đầu về con người và sức khỏe, về một
số sự vật hiện tượng đơn giản trong Tự nhiên xã hội…Môn khoa học lớp 4,5 là ở
mức độ hiểu biết các kiến thức khoa học ở mức cao hơn về con người và sức
khỏe, về tự nhiên, con người với thế giới tự nhiên. Chú trọng nhiều đến việc
Câu 5: Sau khi tập bơi hặc bơi xong, em cần phải làm gì ? ( Tắm lại bằng
nước sạch và xà phòng tắm, dốc và lau hết nước rmang tai, mũi.)
- Các nhóm trình bày- nhận xét- bổ sung.
- GV kết luận như mục bạn cần biết.
- GV kết luận: Các em nên bơi ở những nơi có đầy đủ phương tiện cứu hộ.
nếu không có bể bơi thì phải đi với những người lớn biết bơi. Không bơi khi quá
no, hay mới hoạt động mệt mỏi, ra nhiều mồ hôi dễ bị cảm. Khi đi qua những
nơi có nước chảy thì cần phải có nhiều người đi cùng, hoặc phải có người lớn
dẫn qua.
GV tổ chức cho học sinh thảo luận xử lí tình huống theo cách riêng của mỗi
nhóm, sau đó các nhóm nhận xét, bổ sung. Từ các cách xử lí tình huống để giáo
dục các em kĩ năng phòng tránh tai nạn đuối nước để tự bảo vệ mình và mọi
người.
Ví dụ 2 : Phòng tránh bị xâm hại[12]
Hoạt động 1 : Học sinh quan sát tranh để nắm được các nguy cơ bị xâm hại
như: Đi một mình nơi tối tăm, vắng vẻ, ở trong phòng kín một mình với người
lạ, bị người khác có hành vi gây khó chịu với bản thân, đi xe với người lạ, nhận
quà có giá trị từ người lạ...Từ đó các em biết cách ứng phó với các nguy cơ bị
xâm hại qua việc tự mình trải nghiệm qua vai diễn của mình và các bạn trong
lớp thông qua các tình huống.
Tôi thực hiện chia lớp thành 6 nhóm và yêu cầu học sinh tự lựa chọn cho
mình một tình huống có nguy cơ bị xâm hại đã liệt kê và tìm cách thoát khỏi
nguy cơ bị xâm hại của nhóm mình
Từng nhóm lên thể hiện tình huống.
Thảo luận cả lớp để tìm ra nhiều cách ứng xử phù hợp, khéo léo, sau đó giáo
viên ghi nhanh lên bảng những cách ứng xử hay.
- Tìm cách tránh xa kẻ đó.
- Đứng dậy, lùi xa để kẻ đó không chạm được vào người. Nói với kẻ đó
tình huống và cách tự phân vai để xử lí tình huông trong thời gian 5 phút.
- 2 nhóm học sinh lên trình bày.
- Nhận xét nhóm bạn
- Tổ chức cho học sinh dự doán kết quả của cuộc nói chuyện của 3 bạn
trong tình huống vừa rồi.
- Giáo viên kết luận: Trong khi chúng ta trò chuyện với nhau thì người nói
phải có người nghe, nếu đều nói thì không ai nghe cả và không trò chuyện được.
Bởi vậy không được tranh lời cướp lời, cướp lời. Chêm vào khi người khác nói.
Đó cũng chính là giữ lịch sự khi giao tiếp .
Hoạt động 2: Truyền tin bí mật.
- GV cho học sinh đọc phần hướng dẫn chơi
- GV hướng dẫn lại cách chơi một lần nữa.
- Tổ chức cho học sinh chơi theo 3 tổ. cho học sinh nhận xét làm thế nào để
truyền tin được chính xá? Người truyền tin phải làm gì? Người nhận tin phải làm
gì?
- Giáo viên kết luận: Trong khi trao đổi thông tin thì ta phải truyền tin chính
xác và chú ý lắng nghe khi người khác nói.
Hoạt động 3: Bày tỏ ý kiến.
- Tổ chức cho học sinh bày tỏ ý kiến về những việc nên làm và những việc
không nên làm. Giải thích vì sao?
- Giáo viên khẳng định: Những việc nên làm là : Ý 1, 2, 3, 5, 6, 12
Hoạt động 4: Giao tiếp không lời
- GV tổ chức cho học sinh quan sát tranh và thảo luận để dự đoán tâm trạng
của người trong tranh.
- HS trình bày ý kiến của bản thân.
- GV kết luận: tranh 1: giận dữ, tranh 2: buồn, tranh3: đau khổ, tranh 4: vui
mừng.
- ?Theo em việc hiểu được tâm trạng của người khác qua ngôn ngữ hình thể
có quan trọng không? Vì sao?
- ? Điều gì sẽ xảy ra nếu các em không cảm nhận được tâm trạng hoặc cảm
Thầy cô, bố mẹ, chú , bác, công an.)
Giáo viên khẳng định: Việc tìm kiếm hỗ trợ, giúp đỡ là hết sức cần thiết.
những địa chỉ đáng tin cậy nhất là: bố mẹ, thầy cô giáo, các chú công an. Khi
gặp khó khăn các em phải biết tìm cách để tìm kiếm sự hỗ trợ kịp thời và nhanh
nhất có thể để tránh sự nguy hiểm cho bản thân.
Hoạt động 4: Ứng xử phù hợp
Giáo viên tổ chức cho học sinh thể hiện lựa chọn mặt đỏ và không lựa chọ mặt
xanh lần lượt các ý trong bài tập 4 và giải thích vì sao?
Giáo viên khẳng định: Ý 1, 2, 4, 6 là đúng.
?Khi nhờ người khác giúp đỡ mình, các em cần phải cư xử như thế nào cho
đúng ?
? Khi các em có nguy cơ bị xâm hại tình dục các em phải làm gì ?
Giáo viên kết luận: Khi trẻ em bị ngược đãi, hành hạ, bóc lột sức lao động hoặc
có nguy cơ bị quấy rối, xâm hại tình dục thì các em phải chủ động tìm kiếm sự
giúp đỡ nếu không vấn đề sẽ có thể nghiêm trọng hơn. Khi nhờ người khác giúp
đỡ phải cư xử lễ phép, tự tin, trình bày khó khăn một cách rõ ràng, ngắn gọn và
không nên nản chí nếu bị từ chối mà tiếp tục tìm kiếm các địa chỉ khác
Thông qua cá tiết học kĩ năng sống, tôi đã trực tiếp giúp cac em nhìn thấy
những kĩ năng cần thiết cho bản thân mình cần có. Từ đó các em nhận thức được
tầm quan trọng của kĩ năng sống trong sinh hoạt hằng ngày và từ đó các em tự
rèn luyện, các kĩ năng sống đó.
2.3.3. Rèn kĩ năng sống qua việc trải nghiệm qua các hoạt động ngoài giờ
lên lớp với phương châm “Học mà chơi- Chơi mà học”.
14
Việc rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh trong và ngoài nhà trường, ngoài
dạy lồng ghép trong các môn học hằng ngày. Hoạt động ngoài giờ lên lớp là con
đường rèn luyện hiệu quả và sát thực nhất bởi lẽ hoạt động ngoài giờ lên lớp
ông bà, cha mẹ, người thân, quê hương đất nước… đều phải được giáo dục ngay
từ lứa tuổi tiểu học. Chính vì vậy mà hoạt động ngoài giờ lên lớp phải tạo mọi
điều kiện để bồi dưỡng thái độ tích cực của các em đối với bản thân, đối với
cộng đồng. Phối hợp và phát huy vai trò của chi Đội tổ chức tốt việc kiểm tra
đánh giá xếp loại nề nếp, học tập và hoạt động trong tuần qua, nên thay đổi một
cách sáng tạo như để các em trực tiếp đánh giá thay vì giáo viên trực đánh giá
nhằm nâng cao tính chủ động và tinh thần trách nhiệm của các em cán sự, đội cờ
đỏ giúp các em rèn kĩ năng giao tiếp, diễn đạt và thu thập thông tin....chi Đội
thường xuyên phát động các phong trào thi đua rèn kỹ năng sống cho các bạn
trong lớp, tuỳ theo chủ điểm hàng tháng để phát động phong trào. Trong phát
động phải theo dõi, nhắc nhở, chấn chỉnh, có nêu gương tốt, tuyên dương kịp
thời. Đội viên thực hiện tốt hàng tuần, hàng tháng và có đánh giá chung vào cuối
15
kỳ I và cuối năm học và được biểu dương khen thưởng. Tổ chức cho học sinh
chơi các trò chơi dân gian, hát dân ca và các loại hình sinh hoạt văn hóa dân
gian, qua đó mà rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh.Tôi đã mạnh dạn đưa ra
một số hoạt động cụ thể như sau:
-Tổ chức cho giáo viên và học sinh làm vệ sinh khu nghĩ trang liệt sĩ của xã
vào ngày 27 hàng tháng
-Thăm hỏi động viên các gia đình thương binh liệt sĩ, gia đình có công với
cách mạng vào các ngày lễ lớn : 2/9; 22/12; 30/4; 27/7 để từ đó giáo dục truyền
thống uống nước nhớ nguồn, nhằm định hướng cho suy nghĩ và lối sống lành
mạnh cho trẻ.
- Quên góp quỹ vì bạn nghèo , áo ấm tặng bạn vào dịp tết nguyên đán.
-Mua tăm, tặng sách cho thư viện, ủng hộ đồng bào bị thiên tai, ủng hộ
người khuyết tật … nhằm giúp các em có kĩ năng cảm thông ,chia sẻ.
- Tổ chức tuyên truyền giáo dục chấp hành luật giao thông đường bộ, phòng
16
2.3.4.1.Môi trường trong lớp học:
Trong lớp học tôi tạo ra các góc trưng bày để học sinh có thể thể hiện
những điểm mạnh, hay suy nghĩ của bản thân:
+ Góc sáng tạo: Để học sinh trưng bày sản phẩm mới, sản phẩm yêu thích
của mình hay nhóm mình. (Có hình ảnh minh họa ở phụ lục)
+ Điều em muốn nói: Để học sinh thoải mái bày tỏ tình cảm, suy nghĩ của mình
về tất cả các hoạt động trong lớp dưới sự khích lệ và giải quyết thấu đáo của cô
giáo.
+ Cây sinh nhật: Để học sinh có thể chia sẻ niềm vui với các bạn.
+ Cây hoa điển hình: Tên các bạn có nhiều điều tốt cả về mọi mặt trong
từng tháng được gắn tên lên bông hoa để biểu dương.
2.3.4.2.Môi trường ngoài lớp học:
Trong năm học 2016-2017, lớp tôi được nhận ba bồn hoa để chăm sóc .Vì
vậy tôi đã tổ chức cho học sinh lớp tôi được thực hành những kĩ năng tối cần
thiết trong lao động vừa sức:
-Tôi chia thành 3 tổ và cho các em lao động vào chiều thứ 4 hàng tuần vào
tiết 5 của buổi học tăng.
-Tôi hướng dẫn các em từng chi tiết nhỏ: cách cầm cuốc sao cho đúng, cách
xới đất, vun hoa. Cách nhổ cỏ, bón phân, bắt sâu sao cho hoa không bị
dập….giờ giải lao tôi còn tổ chức cho các em sinh hoạt văn nghệ hay chơi trò
chơi tạo không khí vui vẻ. Qua các buổi lao động để giáo dục các em biết yêu
lao động và đoàn kết với nhau hơn.
2.3.4.3.Môi trường vui chơi:
- Thỉnh thoảng tôi thường giành thời gian ra chơi để tổ chức cho các em một số
trò chơi mới trong sách kĩ năng sống, hay sách trò chơi dân gian tạo hứng thú và
sự gắn kết với các em.
2.3.4.4.Môi trường trong gia đình: Trong gia đình, tôi tuyên truyền cho các
các kĩ năng phòng chống tai nạn giao thông, tai nạn đuối nước, cách dạy bơi cho
trẻ em, cách phòng tránh bi xâm hại đặc biệt là xâm hại tình dục…để trình chiếu
trên máy giúp phụ huynh có những kiến thức cơ bản thiết thực để định hướng
cho con. Trong các buổi nói chuyện, tôi còn cho học sinh đóng vai một số tình
huống để phụ huynh cùng đưa ra hướng giải quyết tốt nhất, từ đó giúp họ có kĩ
năng để rèn kĩ năng sống cho con em mình một cách hiệu quả nhất. (Có hình
ảnh minh họa ở phụ lục)
2.3.7. Phối hợp với phụ huynh để cùng rèn luyện kĩ năng sống cho các em.
Mỗi chúng ta đều biết, gia đình là tế bào của xã hội. Thực tế cho chúng ta
thấy kĩ năng sống của trẻ chịu sự ảnh hưởng rất lớn từ phía gia đình. Chính vì
hiểu được bản chất của vấn đề giáo dục kĩ năng sống cho các em phải dựa trên
cơ sở là nền văn hoa gia đình. Ta coi gia đình là các gốc để chăm sóc cho cây
vững vàng trước những thử thách của cuộc sống muôn vàn cám giỗ. Ngay ở
cuộc họp đầu năm, tôi đã đưa vấn đề giáo dục kĩ năng sống cho các em ngay tại
gia đình ,ngoài các hoạt động ở trường thì bản thân gia đình là một môi trường
tốt nhất để trẻ được trải nghiệm thực tế. Các bậc cha mẹ phải vận dụng để dạy
các em trong các tình huống cư xử hằng ngày, giám sát việc thực hiện của các
em. Từ đó rèn luyện cho các em những kĩ năng sống cần thiết như: Kĩ năng biết
sắp xếp góc học tập, biết soạn sách vở trước khi đi học, biết chào hỏi người lớn
tuổi hơn mình khi họ đến nhà, biết giao tiếp với bà con hàng xóm, biết chào bố
mẹ và những người thân trong bữa cơm, biết đi thưa về chào, biết tự phục vụ
bản thân một cách thành thạo, biết có trách nhiệm với gia đình người thân...
Ngoài ra các bậc phụ huynh phải rèn thêm cho con mình biết lao động vừa sức
để các em biết kính trọng những người lao động. Tôi cũng yêu cầu cha mẹ phải
là tấm gương để con cái mình noi theo. Tôi thường xuyên trao đổi với phụ
huynh về những biểu hiện bất thường của học sinh nếu có để phối hợp cùng xử
lí vấn đề một cách kịp thời, hiệu quả. Một năm tôi yêu cầu phụ huynh phải gặp
mặt với nhau 4 lần để trao đổi về những kĩ năng con mình đạt được trong thời
gian qua để chia sẻ những kinh nghiệm của họ đồng thời tìm ra những kĩ năng
con mình còn thiếu hụt để tiếp tục rèn luyện trong thời gian tiếp theo.
Phòng
hỏi
lễ đám đông
tránh
tai tránh tai nạn tránh bị
phép
xâm
nạn
đuối nước
hại
giao thông
Biết yêu
lao động
và làm
công
việc vừa
sức
số lượng
30
20
30
30
30
Sau khi kiểm tra tôi thấy các kĩ năng sống của các em đang từng bước được
hình thành một các bền vững. Tôi sẽ tiếp tục nghên cứu để thiết kế thêm nhiều
biện pháp thiết thực và phong phú hơn nữa đê đưa kĩ năng sống đi vào cuộc
sống của mỗi học sinh một cách tự nhiên, gần gũi hơn.
3. Kết luận – kiến nghị
3.1. Kết luận:
19
Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh tiểu học là một vấn đề vô cùng quan
trọng nhằm giúp các em thích ứng với cuộc sống không ngừng biến đổi hiện
nay. Nó là cây cầu nối giữa thế hệ với cuộc sống đang diễn ra và sắp diễn ra.
Giáo dục kĩ năng sống trong trường học và thông qua các hoạt động góp
phần rèn luyện và hình thành cho học sinh sống có trách nhiệm hơn. Biết lựa
chọn ứng xử phù hợp, ứng phó với sức ép, thách thức trong cuộc sống.Giáo dục
kĩ năng sống còn tạo mối quan hệ thân thiết, cởi mở giữa thầy trò, tạo ra sự hứng
thú, tự tin, chủ động sáng tạo trong học tập,nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo
dục.
Kĩ năng sống cần cho suốt cả cuộc đời và luôn luôn được bổ sung, nâng
cấp để thực sự phù hợp với sự thay đổi của cuộc sống hiện tại. Công việc này
không phải chỉ thực hiện trong một thời gian ngắn mà là cả một quá trình lâu
dài, bền bỉ. Phải biết kiên nhẫn, tâm huyết và vận dụng linh hoạt mọi lúc, mọi
nơi.Thực hiện càng sớm đối với trẻ càng tốt. Kĩ năng sống này rất đa dạng mỗi
cá nhân phải biết vận dụng sao cho phù hợp, khéo léo. Công cuộc giáo dục kĩ
năng sống không phải là trách nhiệm của riêng thầy cô giáo, nhà trường mà còn
là trách nhiệm của toàn xã hội. Tất cả mọi người phải cùng chung tay góp phần
trách nhiệm để đào tạo thế hệ trẻ có thể phát triển nhân cách một cách toàn diện,
thích ứng được với cuộc sống hội nhập kinh tế, văn hóa trong thời đại hiện nay.
Bài học kinh nghiệm:
của phụ huynh đối với con em mình ngay tại gia đình vì gia đình là một tế bào
của xã hội.
3.2.3.Đối với phụ huynh:
Đối với bản thân mỗi phụ huynh phải có nhận thức sâu sắc và đúng đắn về
tầm quan trọng của việc rèn kĩ năng sống cho con em mình. Luôn tạo điều kiện
và cơ hội tốt nhất cho con em mình bày tỏ, sẻ chia cảm xúc. Là chỗ dựa vững
chắc về tinh thần để các em luôn đượcthấy mình quan trọng như thế nào đối với
những người trong gia đình và từ đó các em sống có trách nhiệm hơn. Gia đình
luôn là nơi để các em được sẻ chia, khích lệ khi các em có những hành vi đúng
đắn. Hay là người tha thứ, giúp đỡ khi các em lầm đường lạc lối. Phụ huynh
thấy được tầm quan trọng của họ trong quá trình rèn luyện kĩ năng sống cho các
em.
Trên đây là một số kinh nghiệm nhỏ đã được tôi đúc rút trong nhiều năm
giảng dạy tại trường tiểu học Thành Minh. Tôi đã áp dụng trong năm học 20162017 đã mang lại một số hiệu quả ban đầu rất khả quan. Đã có những chuyển
biến lớn trong nhận thức của học sinh cũng như gia đình. Vì vậy tôi muốn chia
sẻ với các đồng chí đồng nghiệp cùng tham khảo. Tuy nhiên do năng lực của cá
nhân còn nhiều hạn chế không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong được sự
góp ý chân thành từ các đồng chí, đồng nghiệp.
Tôi Xin chân thành cảm ơn !
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG
ĐƠN VỊ
Thạch Thành, ngày 22 tháng 05 năm 2017
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của bản
thân, không sao chép nội dung của người
khác.
NGƯỜI VIẾT
Lê Thị Hồng Lý
[11].Công văn số 273/SGDĐT-GDTX ngày 14 tháng 02 năm 2015 của Sở
Giáo dục và Đào tạo Thanh Hóa
[12]. Sách giáo viên lớp 4
22