MỤC LỤC
NỘI DUNG
Mục lục
1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
1.2. Mục đích nghiên cứu
1.3. Đối tượng nghiên cứu
1.4. Phương pháp nghiên cứu
2. NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lí luận
2.1.1.Vị trí của phân môn chính tả
2.1.2.Nhiệm vụ của phân môn chính tả
2.1.3.Nội dung của phân môn chính tả lớp 2
2.2. Thực trạng của vấn đề
2.2.1.Thuận lợi
2.2.2.Khó khăn
2.2.3.Thực trạng của việc dạy và học chính tả ở Trường Tiểu học
Thọ Thanh
2.3. Một số biện pháp rèn kĩ năng viết chính tả cho học sinh lớp 2
Trường Tiểu học Thọ Thanh.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận
3.2. Kiến nghị
Tài liệu tham khảo
Trang
1
2
2
3
với đặc thù của môn học và phù hợp với nhận thức của học sinh, giúp các em học
tập một cách tự giác, nhẹ nhàng, tự nhiên mà lại hiệu quả. Đây là một trong
những yêu cầu cấp thiết của ngành giáo dục nói chung và bậc tiểu học nói riêng.
Để khắc phục tình trạng học sinh viết sai lỗi chính tả mà tất cả những
người làm thầy đều phải ra sức cố gắng sử dụng nhiều hình thức, nhiều phương
pháp dạy, nhằm giúp học sinh hình thành và phát triển kĩ năng phát âm và viết
đúng chính tả, cũng như xây dựng chuẩn ngôn ngữ cho mỗi vùng miền. Trong đó
nhà trường là môi trường rất quan trọng, đóng vai trò chủ đạo trong việc chuẩn
hóa ngôn ngữ và chữ viết.
Năm 2015- 2016, tôi được phân công dạy lớp 2C. Qua thực tế giảng dạy
tôi nhận thấy: mỗi khi giao tiếp một số em cũn phát âm sai, đọc bài các em
thường đọc không đúng, dẫn đến viết sai, hiểu sai nghĩa của từ. Nhất là phân môn
chính tả, các em viết còn lẫn lộn giữa các âm đầu như ch/tr/t, s/x, d/gi/r và hay lẫn
lộn các dấu thanh như dấu hỏi/dấu ngã và đặc biệt có một số em còn đọc, viết
thiếu cả âm, sai cả vần.
Qua đây, tôi nhận thấy rằng vốn từ của các em còn rất hạn chế, việc tìm
hiểu và sử dụng từ còn lúng túng, gặp rất nhiều khó khăn cần phải được bổ sung
và phát triển để đáp ứng nhu cầu học tập và giao tiếp. Đặc biệt phân môn chính tả
trong trường Tiểu học giúp học sinh hình thành năng lực và thói quen viết đúng
chính tả. Tuy nhiên, trong thực tế cho thấy cách phát âm ở mỗi vựng miền có sự
khác nhau, thói quen “nói sao viết vậy”, bên cạnh đó còn tồn tại nhiều học sinh
chưa nắm vững quy tắc viết chính tả và ít được biết đến một số mẹo luật chính tả
cơ bản. Điều này ảnh hưởng không nhỏ tới kết quả học tập của các em ở môn
Tiếng Việt cũng như các môn học khác.
Muốn nói hay viết giỏi đều phải dùng từ. Từ là thành phần để cấu thành
ngôn ngữ. Hiểu được nghĩa của từ đã khó, còn phải biết dùng từ như thế nào cho
hợp văn cảnh, đúng ngữ pháp còn khó hơn. Cho nên, việc dạy cho học sinh nắm
vững Tiếng Việt không thể không coi trọng việc dạy phân môn chính tả, Kĩ năng
chính tả không những cần thiết đối với học sinh lớp 2 nói riêng mà còn rất quan
trọng với tất cả các lớp trong các nhà trường nói chung và toàn xã hội. Đọc một
Hình thành và phát triển ở học sinh các kỉ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe,
nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong môi trường hoạt động của lứa tuổi.
Thông qua việc dạy và học Tiếng Việt, góp phần rèn luyện các thao tác tư duy,
giúp các em suy nghĩ mạch lạc, diễn đạt trong sáng và có khả năng làm chủ được
tiếng nói và chữ viết của dân tộc.
Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt và những
hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, về văn hóa, văn học của Việt
Nam và nước ngoài.
Bồi dưỡng về tình yêu Tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong
sáng, giàu đẹp của Tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt
Nam xã hội chủ nghĩa.
3
Phân môn chính tả có một vị trí rất quan trọng ở bậc Tiểu học bởi vì
giai đoạn tiểu học là giai đoạn then chốt trong quá trình hình thành kĩ năng
chính tả cho học sinh. Chính tả là viết đúng, hợp với chuẩn và những qui tắc
về cách viết chuyển lời nói sang dạng thức viết. Phân môn chính tả dạy cho
học sinh tri thức và kĩ năng chính tả, phát triển năng lực sử dụng ngôn ngữ ở
dạng thức viết vào hoạt động giao tiếp. Nó có vị trí quan trọng trong giai
đoạn học tập đầu tiên của trẻ em. Nó cũng có ý nghĩa quan trọng đối với
việc học tập Tiếng Việt và học tập các bộ môn khoa học.
2.1.2. Nhiệm vụ của phân môn chính tả:
Môn Chính tả cung cấp cho trẻ em những qui tắc sử dụng hệ thống chữ
viết, làm cho trẻ em nắm vững qui tắc đó và hình thành kĩ năng viết và đọc, hiểu
Tiếng Việt thông thạo.
Ngoài ra nó còn cung cấp tri thức cơ bản về hệ thống qui tắc chuẩn, thống
nhất chính tả tiếng Việt: quy tắc liên kết và khu biệt khi viết các chữ, quy tắc nhận
biết và thể hiện chức năng của chữ viết… Rèn luyện thuần thục kĩ năng viết, đọc,
hiểu chữ viết tiếng Việt. Ngoài ra nó còn phát triển cả về ngôn ngữ,tư duy cho học
quen chuẩn bị đồ dùng học tập, một số em còn hay quên sách vở, đồ dùng học
tập, tiếp thu bài còn chậm…Nói tóm lại các em chưa có sự cố gắng trong học tập
nên dẫn đến kết quả như không mong muốn.
Còn lí do không kém phần quan trọng là xuất phát từ tập quán của làng
quê, của tiếng địa phương cũng ảnh hưởng rất lớn đến sự phát âm của học sinh
không đúng dẫn đến đọc sai, viết sai lỗi nhiều.
2.2.3. Thực trạng việc dạy và học chính tả ở lớp 2 trường Tiểu học Thọ
Thanh.
2.2.3.1.Thực trạng của giáo viên:
Học sinh lớp hai mới bắt đầu được làm quen với hai kiểu bài là “chính tả
đoạn, bài” và “chính tả âm, vần”. Nội dung các bài chính tả âm vần là luyện viết
đúng chữ ghi tiếng có âm, vần, thanh dễ viết sai chính tả. Thời gian dành cho bài
tập chính tả âm vần rất ngắn so với chính tả đoạn bài. Song việc rèn kĩ năng qua
các bài tập đó có ý nghĩa rất lớn đối với học sinh, nhưng giáo viên vẫn còn xem
nhẹ, chưa ôn tập kĩ ở dạng này, hơn nữa giáo viên chưa phát huy hết năng lực học
tập của học sinh và gia đình, chưa kích thích được sự đam mê trong quá trình học
tập, không chê nhiều trong quá trình giảng dạy mà chỉ nhắc nhở nhẹ nhàng cũng
làm cho học sinh chủ quan trong quá trình học tập nên dẫn đến kiến thức của các
em còn bị hổng nhiều.
2.2.3.2.Thực trạng của học sinh:
Còn học sinh thực tế của lớp 2 tôi chủ nhiệm chưa có ý thức trong việc tự
rèn luyện khi viết chính tả, và chưa hiểu và nắm vững sự phân biệt và cách phát
âm của giáo viên, hay bắt chước người lớn hoặc anh, em nói ở nhà nên còn nói,
viết và hiểu sai về âm, vần và dấu thanh nên dẫn đến viết sai. Điều này được thể
hiện qua một số ví dụ cụ thể sau:
a) Chưa nắm rõ qui tắc viết chính tả do một âm có nhiều cách viết như g,
gh, ngh, ng…
Hay là gh, ngh, k (chỉ khi nó đứng trước i. e, ê; cách ghi âm đệm, …)
b) Chưa nắm rõ qui tắc sử dụng âm đầu nên hay bị lẫn lộn giữa phụ âm
đầu
đoàn viên - đoàn vin
ăn miến - ăn mín…
Thôn Hồng kì :
Ví dụ:
mẹ - mịa (Sai phần vần)
đỏ - đủa…
quả mít - quả míp…
Thôn 3:
Ví dụ:
con trâu - con tâu ( bỏ qua âm “r” )
cây tre
- cây te
ông trời - ông tời…
Trước thực tế như vậy, tôi đã cho lớp khảo sát và viết bài “ Mẫu giấy vụn’’
(SGK Tiếng Việt 2 tập 1 – trang 48) kết quả như sau:
Số lỗi học sinh thường mắc
Tổng
số
HS
Lỗi về âm đầu
Lỗi về dấu thanh
Lỗi về thiếu
âm, sai vần
Ch/tr/t
s/x
d/gi/r
chậm và sai nhiều thì dẫn đến viết chính tả cũng sai. Do đó muốn học sinh viết
chính tả đúng tôi phải chú trọng đến khâu luyện đọc cho các em. Cho các em
luyện đọc nhiều lần, không những chỉ ở phân môn tập đọc mà còn cả ở các môn
khác nữa phải kiên trì sửa lỗi cho từng em. Hướng dẫn học sinh học theo nhóm để
các em tự phát hiện ra lỗi và chỉnh sửa cho nhau. Về luyện phát âm, giáo viên
phát âm rõ ràng để học sinh nghe, nhớ kĩ để thực hành phát âm cho đúng. Phát âm
có chuẩn thì các em mới viết đúng được chính tả.
2.3.2. Luyện kĩ năng nghe, viết:
Đây là kiểu bài nghe viết, chứ không phải kiểu bài nhìn viết, nên giáo viên
phải đọc rõ ràng, phát âm thật chuẩn để học sinh phối hợp các thao tác như:
nghe( Giáo viên đọc); viết ( Học sinh thao tác); nhìn (Chữ đã viết) … Có
như vậy học sinh mới viết đúng chinh tả được.
2.3.3. Giải nghĩa từ:
Vì học sinh phát âm chưa đúng nên dẫn đến hiểu nghĩa từ sai, viết sai vì
vậy giáo viên cần cho học sinh nắm rõ nghĩa của từ để viết cho đúng:
Ví dụ: đọc “ sửa chữa, nhưng lại viết là sữa chữa, cho nên cần cho học
sinh hiểu được:
“sữa” là chỉ sự vật : sữa mẹ , vú sữa, sữa tươi, uống sữa…
“ sửa” là chỉ hoạt động : sửa xe, sửa nhà, sửa soạn, sửa sang…
2.3.4. Phân tích so sánh:
Những tiếng dễ lẫn lộn tôi nhấn mạnh những điểm khác nhau để học sinh
nhớ
Ví dụ: Khi viết tiếng “trăn ” học sinh dễ lẫn lộn với tiếng “chăn”, giáo viên
yêu cầu học sinh phân tích cấu tạo hai tiếng này.
trăn = tr + ăn + thanh ngang
chăn = ch + ăn + thanh ngang
Học sinh thấy sự khác nhau giữa tiếng “trăn” có âm đầu là “tr”, tiếng
“chăn” có âm đầu là “ch”. Học sinh ghi nhớ cách phát âm cho đúng.
Hay là:
trời = tr + ơi + thanh huyền
chén, chum, chạn, chỉnh, chuông, chăn, chiếu, chảo, chổi, chó, chuồn chuồn, châu
chấu, chèo bẻo, chìavôi, chuột,….
Còn từ Hán Việt có dấu nặng, dấu huyền được viết bằng tr.
Ví dụ: trường hợp, trụy lạc, trạm xá , triệu phú, trụ sở, hỗ trợ…
2.3.6.3. Mẹo phân biệt r/gi/d:
r/gi không đứng trước các vần bắt đầu bằng oa, oă, oe, uê, uy trừ
“ruy băng”
Những từ Hán Việt có dấu ngã, nặng thì ghi bằng d.
Ví dụ: dưỡng dục, tiêu diệt,…
Những từ Hán Việt ghi dấu sắc hỏi thì ghi bằng gi
Ví dụ: giảm giá, giới thiệu,….
Những từ Hán Việt có dấu huyền hay không dấu, có nguyên âm khác a
ghi bằng d.
8
Ví dụ : di dân , du dương, do thám,…
Cả r/gi/d đều không láy với nhau. Nhưng có thể láy âm đầu:
Ví dụ: ra rả, giấm giúi, dào dạt,…
r/d có thể láy với l nhưng gi thì không
Ví dụ: lầm rầm, lai dai,….
Các trường hợp khác:
da: ( Lớp vỏ bọc bên ngoài) như da thịt, da dẻ, da trời,…
gia ( tăng thêm) gia hạn, tăng gia, tham gia,…
ra (Sự di chuyển) ra vào, ra sao, ra chơi,…
2.3.6.4. Luật bổng - trầm: (luật hỏi – ngã trong từ láy)
Đa số các từ láy âm đầu, nếu yếu tố đứng trước mang thanh huyền, nặng,
ngã thì yếu tố đứng sau sẽ mang thanh ngã. Nếu yếu tố đứng trước mang thanh
ngang, sắc, hỏi thì yếu tố đứng sau sẽ mang thanh hỏi (hoặc ngược lại).
Ví dụ: Bổng: ngang + hỏi: nhỏ nhoi, trong trẻo, mong mỏi,…
( con dơi, rơi rụng)
9
mở, mỡ
(mở cửa, rán mỡ)
nghỉ, nghĩ
( suy nghĩ, nghỉ ngơi)
2. 3.7.3. Bài tập điền khuyết:
Ví dụ 1 : Điền vào chỗ trống x hay s:
……. ao .…. nhãng
quả ….u….u
……. ao…….động
đồng ……u
Ví dụ 2 Đặt trên chữ in đậm dấu hỏi hay dấu ngã ?
Làng tôi có luy tre xanh
Có sông tô Lịch chay quanh xóm làng
Trên bờ vai, nhan hai hàng
Dưới sông cá lội từng đàn tung tăng.
(Theo Ca dao)
2.3.7.4 Bài tập phát hiện:
Có sắc – để uống hoặc tiêm
Thay sắc bằng nặng- là em nhớ bài.
( Là ?)
2.3.7.7. Bài tập trắc nghiệm:
Ví dụ: Khoanh tròn chữ cái trước từ ngữ viết đúng:
A. xen kẽ
B. chậm chạp
C. xa sút
D. trung thành
E. cặp da
G. cản trở
Ngoài các biện pháp trên giáo viên còn sử dụng nhiều hình thức như:
Tổ chức trò chơi cho các em tìm thấy cái đúng, cái sai để các em nhớ lâu.
Tổ chức học nhóm dưới nhiều hình thức để các em chủ động hướng dẫn
giúp nhau trong quá trình học tập.
Chấm chữa bài kịp thời, góp ý, khen ngợi tạo hứng thú học tập cho các em.
2.3.8. Hướng dẫn học sinh soát lỗi và sữa lỗi.
Đối với chính tả đoạn bài sau khi học sinh viết xong, tôi cho học sinh đổi
chéo vở và soát lỗi cho nhau . Giáo viên hướng dẫn, qui định lỗi cụ thể để các em
soát cho nhau, nếu thấy lỗi của bạn sai tổng hợp lại để bạn sửa cho đúng chính tả.
2.3.9 Kết hợp giữa giáo viên với phụ huynh học sinh.
Tôi nghĩ mình phải thực hiện tốt mối quan hệ giữa giáo viên với phụ huynh
học sinh. Vì chính tả là môn gần gũi nhất với gia đình và xã hội, nên sự kết hợp
chặt chẽ của gia đình là động lực thúc đẩy học sinh học tốt hơn.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm:
Trong quá trình áp dụng sáng kiến này vào giảng dạy, tôi thấy học sinh có
rất nhiều tiến bộ. Hầu như các em đã biết cách vận dung kiến thức đã học vào làm
bài tập tốt hơn, ít sai lỗi hơn, Đọc và phát âm chuẩn hơn nhiều và còn có rất nhiều
3
12
2
8
2
8
1
4
3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.
3.1. Kết luận:
Các biện pháp nêu trên, nhằm rèn cho học sinh có kĩ năng viết đúng chính
tả để nâng cao năng lực nói và viết, vì nó chính là dấu hiệu trưởng thành về mặt
ngôn ngữ của học sinh. Vì vậy việc rèn cho học sinh viết đúng chính tả là một quá
trình hết sức khó khăn và lâu dài. Chính vì vậy mà chúng ta phải biết kết hợp giữa
giáo viên, phụ huynh và nhà trường. Chúng ta phải giúp cho phụ huynh nhận biết
được việc viết chính tả rất quan trọng để phụ huynh kết hợp với giáo viên tạo điều
kiện động viên cho con em mình đọc bài, viết bài, viết từ sao cho đúng.
3.1.1. Đối với giáo viên:
Mỗi giáo viên phải hiểu rõ chức năng, nhiệm vụ của phân môn.Củng cố và
mở rộng vốn từ, giải nghĩa từ, phân tích, tổng hợp,…để có hình thức, phương
pháp dạy học thích hợp, tránh nhồi nhét, cứng nhắc áp đặt, mất hứng thú học tập
của học sinh.
phân môn chính tả, để thống kê tất cả các lỗi chính tả mà học sinh Thường Xuân
nói chung và học sinh các vùng, miền trong huyện nói riêng thường mắc. Ngoài
các lỗi chung mà sách giáo khoa đưa ra, còn có các lỗi của một số vùng, miền tập
trung lại để giáo viên trong huyện có một tham chiến, áp dụng vào dạy phân môn
chính tả sát với thực tế hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN
Thanh Hóa, ngày 14 tháng 3 năm 2016
CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình
viết, không sao chép của người khác.
Người viết:
Nguyễn Thị Hợp
13
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.Sách giáo khoa Tiếng Việt 2
2. Sách giáo viên Tiếng Việt 2
3. Dạy học chính tả ở tiểu học
4. Phương pháp dạy học Tiếng Việt
5. Sách phát triển và nâng cao tiếng việt lớp 2
6. Đổi mới nội dung phương pháp dạy học ở Tiểu học
14