Một số giải pháp rèn kỹ năng viết đoạn văn cho học sinh lớp 3 - Pdf 56

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do – Hạnh phúc
MÔ TẢ SÁNG KIẾN
Mã số:………………………………..
1. Tên sáng kiến: Một số giải pháp rèn kỹ năng viết đoạn văn cho học sinh lớp 3
2. Lĩnh vực áp dụng: Giáo dục tiểu học
3. Mô tả bản chất của sáng kiến
3.1. Tình trạng giải pháp đã biết
Việc dạy Tập làm văn cho học sinh lớp 3 rất quan trọng song việc dạy cho
học sinh viết một đoạn văn trong phân môn này là rất khó. Bởi một bài văn hoàn
chỉnh bao giờ cũng bắt đầu từ những câu văn, đoạn văn cụ thể. Mặc dù yêu cầu khi
viết văn đối với học sinh lớp 3 mới ở mức độ đơn giản, chưa đòi hỏi học sinh phải
có bố cục 3 phần rõ ràng, các câu văn phải sinh động, giàu “ý tưởng” (chủ yếu
dừng lại ở việc viết đúng, trình bày rõ ràng, nối câu hợp lý…). Trong đó có nhiệm
vụ quan trọng đó là: bồi dưỡng óc thẩm mĩ, sự say mê văn học cho các em là cơ sở
ban đầu và nền móng cho việc học văn của các em ở những lớp học, bậc học tiếp
theo. Làm thế nào để dạy học sinh lớp 3 viết đoạn văn được tốt, đó là điều đáng lo
nhất của giáo viên. Qua nhiều năm giảng dạy phân môn Tập làm văn tôi thấy:
a) Ưu điểm
- Học sinh viết được đoạn văn ở mức cơ bản từ 5 - 7 câu phù hợp theo từng
học kỳ, trên cơ sở có câu hỏi gợi ý;
- Học sinh biết dựa vào câu hỏi gợi ý để trả lời từng câu hỏi và sắp xếp lại
thành đoạn;
- Học sinh biết dựa vào tranh ảnh để bổ sung thêm ý của đoạn văn.
b) Hạn chế
- Hầu hết giáo viên chưa chú ý đến dạy cho học sinh cách viết (bố cục đoạn văn);
- Giáo viên còn thiếu chú ý đến việc dạy Tiếng Việt trên quan điểm giao
tiếp - tích hợp nên kết quả đoạn văn của học sinh chưa cao;
- Học sinh ngại viết những bài tập có yêu cầu viết đoạn văn.


Các bước thực hiện của giải pháp:
2


a) Trau dồi hứng thú khi tiếp xúc với văn thơ
Để học sinh có định hướng đúng đắn, có lòng yêu thích văn học và có hứng
thú khi viết đoạn văn thì giáo viên cần giúp học sinh hiểu được chỉ có sự yêu thích
văn học mới có sự nuôi dưỡng say mê. Cần thường xuyên đọc thơ, văn để bồi
dưỡng lòng yêu văn học, thấy được sự trong sáng, phong phú và đặc sắc của ngôn
ngữ dân tộc, nâng cao năng lực xúc cảm, trau dồi lòng hướng thiện...và muốn
“làm thân” với văn thơ thì chúng ta phải có tấm lòng chân thật, tình cảm thiết tha
yêu mến văn thơ.
Khi dạy Tập đọc tôi yêu cầu các em nắm chắc từng nội dung đoạn văn và ý
nghĩa nội dung cả bài văn, tôi cho các em học thuộc những đoạn văn, những bài
thơ hay sau đó kiểm tra lại trong giờ học sau. Khi dạy Kể chuyện cũng vậy tôi dẫn
dắt các em nắm chắc nội dung ý nghĩa câu chuyện, hiểu rõ tâm trạng từng nhân
vật. Từ đó các em mới có giọng kể tốt, hiểu sâu và nhớ lâu hơn.
b) Giúp học sinh tích luỹ vốn hiểu biết về thực tế cuộc sống
Có nghĩa là học sinh cần hiểu được có những cảnh vật, sự vật, con người, sự
việc diễn ra quanh ta tưởng chừng như tất quen thuộc nhưng nếu ta không chú ý
quan sát, nhận xét để ghi nhớ và có cảm xúc thì khó mà làm giàu thêm vốn hiểu
biết của mình.
Ví dụ: Khi dạy về chủ đề người lao động phải giao phiếu về nhà các em điền
vào theo mẫu in sẵn (hãy kể về những người lao động: người lao động trí óc là
những ai? Làm những công việc gì? Người lao động chân tay là những ai? Làm
những công việc gì? Em có suy nghĩ gì về những người lao động?...).
Hay để dạy tốt bài “Nói về quê hương” (Tuần 11- Tiếng Việt 3 tập 1) thì giáo
viên chọn ngày đẹp trời, chọn cảnh vật để quan sát rồi dẫn học sinh đến địa điểm
đó để chơi trò chơi do giáo viên định hướng và quan sát cảnh vật có gì đẹp, thơ
mộng không.

Tiếng còi ô tô xin đường gay gắt, tiếng còi tàu hoả thét lên và tiếng bánh sắt lăn
trên đường ầm ầm”. (Âm thanh thành phố - TV3 - T1)
(Những từ gạch chân là những từ tả âm thanh. Đoạn văn có nhiều từ chỉ âm
thanh cho ta thấy được cuộc sống ồn ào, náo nhiệt của thành phố).
Đối với học sinh khá, giỏi ta có thể mở rộng thêm để học sinh làm quen với
dạng bài cảm nhận về giá trị của từ ở mức độ khó hơn.

4


Ví dụ: Em có nhận xét gì về cách sử dụng từ được gạch chân trong 2 câu thơ
sau:
Cỏ non xanh tận chân trời
Cỏ non xanh rợn chân trời
(Yêu cầu ở đây giáo viên giúp học sinh nhận biết từ “rợn” có giá trị gợi tả,
biểu cảm hơn rất nhiều từ “tận” vì nếu là “Cỏ non xanh tận chân trời” thì chỉ là một
bức tranh thiên nhiên rộng. Còn câu “Cỏ non xanh rợn chân trời” thì ngoài ý nghĩa
của bức tranh thiên nhiên rộng còn thể hiện được cảm xúc, tình cảm của người
trước cảnh). Mặt khác để học sinh viết được câu đúng (đúng về ngữ nghĩa) thì học
sinh phải hiểu được nghĩa của từ. Từ đó học sinh tránh nhầm lẫn.
Để chỉ tính nết một học sinh nhanh nhẹn, lém lỉnh, đáng yêu ta có thể sử dụng
từ “láu lỉnh” để viết câu: Bạn Nam rất láu lỉnh.
(Nhưng ở đây học sinh còn hay nhầm giữa từ “láu lỉnh” với “láu cá”)
Nói tóm lại: Khi dạy học cần giúp học sinh có vốn từ phong phú, hiểu nghĩa
từ, tác dụng của từ, cách sử dụng từ.
c.2. Khi dạy về câu
Khác với việc cung cấp cho học sinh kiến thức về câu trong chương trình
Tiếng việt cải cách giáo dục. Ở chương trình Tiếng việt 3 học sinh nhận biết về
câu, các mẫu câu thông qua hệ thống ví dụ, bài tập cụ thể:
Đối với phần “câu” trong chương trình Tiếng việt 3 học sinh chỉ ôn lại các

Em giữ quyển vở cho sạch và em bọc bìa cho sạch sẽ.
(Hướng giải quyết: Đối với dạng bài tập này giáo viên cho học sinh nhận xét
về cách viết câu cho sẵn hoặc giáo viên lấy ví dụ cụ thể từ những bài viết của học
sinh sau đó cho học sinh tự sửa sau khi nhận xét).
Mức độ 3: Tập viết câu văn gợi tả, gợi cảm
Ví dụ 1:
- Cánh đồng lúa rất xanh.
- Cánh đồng lúa xanh mơn mởn, màu xanh non ngọt ngào, thơm mát toả ra
mênh mông.
Ví dụ 2:
- Con đường dài và nhỏ.
- Con đường nhỏ, dài ngoằn ngoèo trông như những chú trăn khổng lồ đang
uốn lượn.
6


(Ở dạng bài tập này, giáo viên đưa ra những ví dụ cụ thể tự chuẩn bị (như 2
ví dụ trên) hoặc chắt lọc từ những bài viết của học sinh rồi cho học sinh nhận xét,
so sánh xem câu văn nào hay hơn từ đó khuyến khích học sinh có ý thức tập viết
câu giàu hình ảnh).
Mức độ 4: Tập cho học sinh nhận xét về cách viết câu có bố cục tiêu biểu.
Ví dụ 1:
Ai trồng cây...
Em trồng cây...
Em trồng cây.
(Bài hát trồng cây - TV3 - T2- Trang 109)
- Rừng cọ ơi ! Rừng cọ !
(Mặt trời xanh của tôi - TV3 - T2 - Trang 125)
Ví dụ: Trong bài thơ “Vàm Cỏ Đông” (TV3 - T1 ) có câu hỏi:
Dòng sông Vàm Cỏ Đông có những nét gì đẹp? (Khổ thơ 2).

Ví dụ 2: Chú lính bước vào đầu chú. Đội mũ sắt dưới chân. Đi đôi giày da
trên trán lấm tấm mồ hôi.
(Cuộc họp của chữ viết - TV3 - Tập 1- Trang 44)
Tôi cho học sinh đọc chậm, dừng lại, nghỉ hơi đúng dấu câu (trong ví dụ 2),
cho học sinh chú ý lắng nghe sau đó hỏi về nội dung câu văn và cho học sinh phân
tích câu văn đó. Lúc này học sinh mới dễ dàng nhận ra cái sai của cách đặt dấu
câu. Vì đặt dấu câu sai nên sai nghĩa của câu văn dẫn đến sai nghĩa của cả đoạn
văn. Sau đó giáo viên chốt lại khi viết đoạn văn ta phải đặt đúng dấu câu để đảm
bảo đúng nghĩa của câu văn, đoạn văn ta cần viết.
c.4. Khi dạy về biện pháp tu từ
Đây là phần kiến thức mới trong nội dung chương trình môn Tiếng Việt 3 mới.
Trong văn học có rất nhiều biện pháp tu từ song ở chương trình Tiếng Việt 3 chỉ đề
cập đến hai biện pháp tu từ điển hình đó là: Biện pháp tu từ nhân hoá và so sánh.
Vậy vì sao chúng ta cần dạy tốt và chú trọng đến biện pháp tu từ khi rèn kỹ
năng viết đoạn văn cho học sinh.
Theo tôi biện pháp so sánh có tác dụng làm cho câu văn cụ thể, có hình ảnh.
Tác dụng của biện pháp nhân hoá giúp cho sự vật được miêu tả sinh động, gần gũi,
dễ hiểu hơn.

8


Đối với hai biện pháp tu từ này sách giáo khoa có nhiều loại hình bài tập
song ta có thể quy về hai dạng bài chủ yếu đó là:
- Tập nhận biết dấu hiệu, tác dụng của hai biện pháp tu từ so sánh và nhân hoá;
- Viết câu, có sử dụng biện pháp tu từ so sánh, nhân hoá.
Dạng bài: Nhận biết dấu hiệu, tác dụng của câu có sử dụng biện pháp tu từ
so sánh, nhân hoá.
Ở mỗi biện pháp tu từ này khi dạy học sinh về cách nhận biết dấu hiệu
chứng tỏ là câu có sử dụng biện pháp so sánh hay nhân hoá chúng ta nên đi theo

sánh thông qua từ chỉ sự so sánh “như”, xong câu văn lại thiếu tính thực tế).
Đối với dạng bài tập này giáo viên có thể chọn lọc một số câu, đoạn văn,
khổ thơ có sử dụng biện pháp tu từ: nhân hoá, so sánh điển hình làm mẫu cho học
sinh tham khảo. Từ đó học sinh sẽ chú ý đến việc viết câu, đoạn văn, khổ thơ có sử
dụng biện pháp tu từ để tăng giá trị nội dung của bài viết.
d) Dạy văn nói (rèn kỹ năng nói)
Trong thực tế dạy học nhiều giáo viên chưa chú ý rèn kỹ năng nói cho học
sinh để phục vụ cho việc rèn kỹ năng viết.
Song theo tôi việc viết câu văn, đoạn văn có thành công hay không phụ
thuộc nhiều vào sự chuẩn bị “ngôn ngữ nói” của học sinh. Ngoài việc “nói” rèn
cho học sinh sự mạnh dạn, tự tin thì học sinh được rèn kỹ năng nói, tư duy phát
triển tốt hơn. Trong quá trình nói học sinh đã có ý thức nói thành câu, trình bày vấn
đề theo trình tự và sẽ “thuộc” nội dung bài sắp viết.
Mặt khác dựa vào bài nói của học sinh, giáo viên nắm bắt được ý hiểu nội
dung bài viết của học sinh một cách nhanh nhất. Từ đó, giáo viên có thể sửa, điều
chỉnh, bổ sung cho bài không chỉ của mình học sinh đó mà có thể cho cả lớp.
Qua thực tế những học sinh nào chuẩn bị bài nói tốt thì bài viết sẽ tốt hơn.
Tiết Tập làm văn tuần 7: Yêu cầu của bài gồm:
- Kể lại buổi đầu đi học;
- Viết lại những điều đã kể thành một đoạn văn.
Như vậy trước khi học sinh viết đoạn văn theo yêu cầu, học sinh phải kể
được những điều mình sắp viết. Để kể được học sinh phải có sự chuẩn bị bài chu
đáo. Qua phần kể của học sinh, giáo viên nhận biết được học sinh đó có xác định
đúng yêu cầu của bài hay không? Kể có đúng nội dung không? Cách sử dụng từ
đặt câu thế nào? Từ đó giáo viên phải sửa lỗi cho học sinh.
10


Đối với học sinh các em có thể đối chiếu, so sánh bài làm của bạn với mình,
thấy bài của bạn có ý nào hay thì học tập, ý nào chưa hay thì tránh. Mặt khác qua


đoạn (những câu viết về nội dung đoạn văn), cuối cùng là câu kết đoạn (có thể nêu
cảm nghĩ hoặc nêu một nhận xét về nội dung vừa viết).
Sau khi hướng dẫn học sinh viết đoạn văn có bố cục rõ ràng có nhiều em đã
viết đoạn văn kể về buổi đầu đi học rất hay và em học sinh viết đoạn văn như ở ví
dụ nêu trên đã sắp xếp lại các câu một cách hợp lý, ý các câu trong đoạn văn được
liên kết chặt chẽ.
Qua thực hành luyện tập với những dạng bài tập như trên chắc chắn học sinh
sẽ nối câu tạo đoạn văn có bố cục, nội dung chặt chẽ hơn.
e) Hướng dẫn học sinh thực hành viết đoạn văn
Tuy đã cung cấp cho học sinh hàng loạt những kiến thức về cách dùng từ,
đặt câu, sử dụng dấu câu, luyện nói,...nhưng đối với từng bài tập thực hành viết cụ
thể chúng ta cần làm tốt các bước theo quy trình sau:
- Xác định, nắm chắc yêu cầu của bài (giáo viên, học sinh);
- Học sinh thực hành nói theo yêu cầu của bài viết (nếu bài không có
phần luyện nói);
- Giáo viên nhận xét bổ sung;
- Học sinh thực hành viết theo yêu cầu của bài tập (giáo viên theo dõi giúp
đỡ học sinh còn yếu);
- Giáo viên chấm nhận xét một số bài.
Ví dụ: Bài tập 2 chương trình Tập làm văn tuần 15 yêu cầu như sau:
- Dựa vào bài tập làm văn miệng tuần trước hãy viết một đoạn văn giới thiệu
về tổ em.
+ Bước 1:
- Học sinh đọc yêu cầu đề bài;
- Giáo viên hỏi: Bài yêu cầu gì? (Viết một đoạn văn giới thiệu về tổ em). Khi
giới thiệu về tổ em cần giới thiệu về những gì?...
+ Bước 2: Giáo viên yêu cầu khoảng 2-3 học sinh khá giỏi trình bày miệng
đoạn văn giới thiệu về tổ của mình, học sinh và giáo viên nhận xét bổ sung;
+ Bước 3: Giáo viên yêu cầu học sinh viết vào vở (giáo viên theo dõi giúp

Sau đó, đối với những bài viết chưa tốt giáo viên yêu cầu các em về nhà viết
lại bài, giáo viên vẫn tiếp tục kiểm tra.
3.3. Khả năng áp dụng của giải pháp

13


Các giải pháp đã được cải tiến này có thể áp dụng để dạy kỹ năng viết văn
cho học sinh từ lớp 2 đến lớp 5 trong các nhà trường tiểu học. Tùy theo đặc thù của
từng khối lớp, chuẩn kiến thức kỹ năng cần đạt và trình độ của học sinh mà giáo
viên sẽ vận dụng phù hợp.
3. 4. Hiệu quả, lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp
dụng giải pháp
Sau khi thực hiện biện pháp trên tôi nhận thấy về mặt chuyên môn tôi hiểu
biết thêm nhiều và tự tin hơn.
Qua kiểm tra đánh giá kết quả cuối năm học 2016-2017, tôi đã áp dụng kinh
nghiệm trên vào giảng dạy và lớp của tôi đã thu được kết quả như sau:
- Học sinh tự tin khi viết những bài tập có yêu cầu viết đoạn văn.
- Học sinh viết câu đúng ngữ pháp, nắm chắc cấu tạo câu, có chú ý đến việc
sử dụng đúng dấu câu, dùng dấu câu hợp lí;
- Một số học sinh khá, giỏi làm quen việc tập viết câu có giá trị nghệ thuật;
- Khả năng nối câu, tạo đoạn mạch lạc;
- Học sinh không còn bỡ ngỡ trước khái niệm “đoạn văn”.
So sánh kết quả hai năm học tôi thấy kết quả viết đoạn văn của học sinh năm
học 2015-2016 tăng lên rõ rệt. Điều đó chứng tỏ biện pháp giúp học sinh nâng cao
chất lượng viết đoạn văn cho học sinh lớp 3 của tôi đã có hiệu quả.
Năm học
2015-2016
2016-2017


15




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status