Một số biện pháp luyện giúp học sinh lớp 2 vnen học tốt phân môn luyện từ và câu - Pdf 43

A. MỞ ĐẦU:
I. Lý do chọn đề tài:
Theo tinh thần Nghị Quyết TW8 khóa XI Đổi mới căn bản, toàn diện giáo
dục và đào tạo , đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Về mục tiêu
hệ thống, nghị quyết đề ra yêu cầu: Xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực
hiện dạy tốt, học tốt, quản lý tốt. Có cơ cấu và phương thức giáo dục hợp lý, gắn
với xây dựng xã hội học tập; chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và
hội nhập quốc tế hệ thống giáo dục - đào tạo; giữ vững định hướng xã hội chủ
nghĩa và bản sắc dân tộc. Tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng,
hiệu quả, giáo dục - đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng,
bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân.
Đổi mới giáo dục là một thử thách đối với ngành giáo dục nói chung với
giáo viên tiểu học nói riêng . Chúng ta cần thay đổi quan niệm điều chỉnh các
phương pháp dạy và học cho phù hợp để đạt được hiệu quả giáo dục cao nhất.
Thực sự thành công mục tiêu giáo dục của nội dung sách giáo khoa hiện nay.
Công việc thực sự không đơn giản chút nào. Đối với môn Tiếng việt ( phân môn
Luyện từ và câu lớp 2 ) cũng vậy là một phân môn mới đối với các em lớp 2
Trong thực tế, phân môn Luyện từ và câu có vị trí rất quan trọng, là chìa
khóa mở ra kho tàng văn hóa trên mọi lĩnh vực đời sống, xã hội của con người.
Hơn nữa, phân môn Luyện từ và câu giúp học sinh lĩnh hội Tiếng Việt, văn hóa,
là công cụ giao tiếp tư duy và học tập. Đối với học sinh khi sử dụng Tiếng Việt
thì việc Luyện từ và câu có một vai trò quan trọng nó giúp học sinh có đủ điều
kiện để sử dụng Tiếng Việt đạt hiệu quả cao trong học tập các môn văn hóa,
trong việc viết văn bản. Xuất phát từ mục đích yêu cầu của môn Tiếng Việt trong
trường tiểu học nhằm tạo cho học sinh năng lực sử dụng Tiếng Việt, văn hóa và
hiện đại để suy nghĩ, giao tiếp và học tập. Thông qua việc học Tiếng Việt rèn
cho học sinh năng lực tư duy, phương pháp suy nghĩ giáo dục cho các em tư
tưởng, tình cảm trong sáng. Có như vậy mới thực hiện được nhiệm vụ đào tạo
học sinh thành những con người phát triển toàn diện.
Mặt khác, đối với giáo viên, chất lượng giảng dạy phân môn Luyện từ và

pháp dạy ( luyện từ và câu) cho học sinh một cách tối ưu. Làm thế nào để sự
tiếp thu kiến thức và vận dụng làm các bài tập của các em có hiệu quả.
- Nghiên cứu nội dung chương trình sách giáo khoa phân môn Luyện từ
và câu lớp 2 VNEN, dự giờ học hỏi đồng nghiệp đồng thời điều tra khảo sát việc
dạy và học phân môn luyện từ và câu của giáo viên và học sinh lớp 2. Từ đó
thấy được những khó khăn vướng mắc của giáo viên và học sinh thông qua các
giờ dạy và các bài tập luyện từ và câu để tìm ra một số biện pháp cụ thể nhằm
nâng cao chất lượng dạy và học môn Tiếng Việt nói chung và phân môn luyện từ
và câu nói riêng ở lớp 2 đạt kết quả tốt.
III. Đối tượng nghiên cứu
- Học sinh lớp 2C của trường tiểu học Quang Chiểu 1 Mường Lát.
- Nghiên cứu những cơ sở lí luận của công tác giáo dục và khảo sát thực tế
để tìm ra những biện pháp dạy đúng, hay nhất để giúp học sinh lớp 2 học tốt
phân môn (Luyện từ và câu ) đạt hiệu quả cao.
IV. Phương pháp nghiên cứu
+ Với mục đích và nhiệm vụ đã được xác định đề tài tập trung sử dụng một
số phương pháp sau:
- Phương pháp quan sát: Quan sát việc học tập của các em trên lớp và ở
nhà.
- Phương pháp đàm thoại: Trao đổi với đồng nghiệp, học sinh, phụ huynh
để tìm ra nguyên nhân và nêu phương án khắc phục.
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế: Điều tra kết quả học tập của các
em
B. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
I. Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm

2


Ở lớp 2 chương trình mới, môn từ ngữ - ngữ pháp được kết hợp thành một

được xây dựng phù hợp với yêu cầu phát triển lời nói của học sinh, giúp các em
mở rộng thêm kiến thức trong quá trình học tập, lao động và giao tiếp ngày một
tốt hơn, tiến bộ hơn, đạt kết quả cao hơn.
II.Thực trạng của vấn đề:
1.Thực trạng dạy phân môn Luyện từ và câu lớp 2 VNEN
Trong chương trình Tiểu học,phân môn Luyện từ và câu lớp 2 VNEN là
môn học mới và khó nhưng thời lượng chương trình dành cho loại phân môn
này lại ít. Vì vậy mà học sinh không được củng cố và rèn luyện kĩ năng nhiều
chắc chắn không tránh khỏi những vướng mắc, sai lầm khi làm bài. Qua quá
trình thực dạy lớp 2 bản thân thấy trong dạy và học phân môn luyện từ và câu
lớp 2 , giáo viên và học sinh có những tồn tại vướng mắc như sau:
- Do thời gian phân bố cho phân môn Luyện từ và câu lớp 2 ít nên học
3


sinh không được củng cố rèn luyện kĩ năng làm các loại bài tập này một cách
hệ thống, sâu sắc, việc mở rộng hiểu biết và phát triển khả năng tư duy, trí
thông minh, óc sáng tạo của học sinh còn hạn chế. Trong thực tế giảng dạy mà
đặc biệt là qua những lần thao giảng ở trường bản thân tôi nhận thấy: Các hình
thức tổ chức hoạt động học tập trong giờ học luyện từ và câu còn đơn điệu. Một
số giáo viên tổ chức dạy theo vở bài tập từ đầu đến cuối. Tức là hướng dẫn học
sinh lần lượt làm các bài tập vở theo trình tự và hình thức như nhau. (chủ yếu là
làm việc cá nhân).
- Cũng có nhiều giáo viên đã biết thay đổi các hình thức cá nhân, nhóm,
lớp cho các bài tập trong một tiết dạy nhưng nhìn chung việc vận dụng chưa
đem lại hiệu quả cao. Đối với dạy Luyện từ và câu nhiều giáo viên chưa tạo
cho học sinh sự chủ động , tích cực trong việc chiếm lĩnh kiến thức mới của bài
học khiến giờ học trở nên nặng nề.Sở dĩ có tình trạng trên là do bản thân cũng
như một vài đồng chí giáo viên chưa thấy hết ý nghĩa, tầm quan trọng của giờ
học Luyện từ và câu.


Cậu bé đáp:
Dạ có ( ) Chị viết hộ em vào cuối thư : “ Xin lỗi ông bà vì chữ cháu xấu
và nhiều lỗi chính tả”.
+ Đáp án bài tập 1
Nam nhờ chị viết thư thăm ông bà vì em mới vào lớp 1, chưa biết viết (.) Viết
xong thư, chị hỏi:
- Em có muốn nói thêm gì nữa không (?)
Cậu bé đáp:
Dạ có (.) Chị viết hộ em vào cuối thư : “ Xin lỗi ông bà vì chữ cháu xấu
và nhiều lỗi chính tả”.
Bài tập 2 : Chọn từ ngữ thích hợp rồi điền vào chỗ trống để tạo thành một
câu hoàn chỉnh:
a/ Cháu ….. ông bà.
b/ Cha mẹ ..... con
c/ Em ….. anh chị.
Đáp án bài tập 2
a/ Cháu yêu thương, kính yêu… ông bà.
b/ Cha mẹ chăm lo con
c/ Em yêu quý, kính mến …. anh chị.
Bài tập 3: Gạch một gạch dưới bộ phận câu trả lời câu hỏi Ai ? Gạch hai
gạch dưới bộ phận câu trả lời câu hỏi làm gì ?
Mẫu : Chi đến tìm bông cúc màu xanh.
a. Cây xòa cành ôm cậu bé.
b. Em học thuộc đoạn thơ.
c. Em làm ba bài tập toán.
Đáp án bài tập 3
a. Cây xòa cành ôm cậu bé.
b. Em học thuộc đoạn thơ.
c. Em làm ba bài tập toán.

0

1

9,1

5

45,5

5

45,4

* Những tồn tại cụ thể trong bài làm của học sinh
Bài 1: Học sinh làm sai do không đọc kĩ đề bài. Do nhận thức của các em
chủ yếu là cảm tính nên sự vận dụng vào trong bài tập còn thiếu chính xác
Nam nhờ chị viết thư thăm ông bà vì em mới vào lớp 1, chưa biết viết (, )
Viết xong thư, chị hỏi:
5


- Em có muốn nói thêm gì nữa không (. )
Cậu bé đáp:
Dạ có (? ) Chị viết hộ em vào cuối thư : “ Xin lỗi ông bà vì chữ cháu xấu
và nhiều lỗi chính tả”.
Bài 2 : Học sinh sai vì một số em chọn từ ngữ chưa phù với văn
cảnh.Khả năng xác định từ của học sinh chưa tốt các em còn nhầm lẫn
a/ Cháu thương yêu ông bà.
b/ Cha mẹ kính trọng con.

sẽ giới thiệu: Bài học hôm nay sẽ giúp em biết thêm thế nào là từ và câu:
Hoặc tôi có thể dựa vào các bài tập đọc để giới thiệu bài nhằm giúp các
em nhớ được tên các nhân vật trong các bài tập đọc đã học.
Ví dụ: Bài 3B: trang 36 và trang 37 ( tập 1A )“ Từ chỉ sự vật. Kiểu câu :
Ai là gì?”. Đây chính là bài học với chủ đề : Bạn bè. Giáo viên có thể hỏi :
6


Trong tuần các em đã học những bài tập đọc nào nói về bạn bè ? Sau khi học
sinh trả lời, giáo viên sẽ giới thiệu: Các em đã được học những bài tập đọc nói
về tình bạn. Các em có biết từ chỉ sự vật là từ chỉ gì không ? Và muốn biết đặt
câu theo mẫu Ai ( hoặc cái gì, con gì ) là gì ? em sẽ làm như thế nào. Hôm nay
cô sẽ cùng các em tìm hiểu về từ chỉ sự vật và kiểu câu : Ai ( hoặc cái gì, con
gì ) là gì ?
Hoặc tôi có thể dùng tranh ảnh để giới thiệu bài nhằm gây hứng thú, tạo
nhu cầu học bài ở học sinh.
Ví dụ : Khi dạy Bài 25A+Bài 25B : trang 92 và trang 98 ( tập 2A) “Từ ngữ
về sông biển. Dấu phẩy” Tôi đã sưu tầm một số tranh ảnh về các loài cá nước
ngọt và nước mặn. Sau đó giới thiệu cho học sinh biết đây là các loài cá nhưng
để biết đâu là cá nước ngọt ? Đâu là cá nước mặn ? Chúng ta cùng nhau tìm hiểu
qua bài học hôm nay.
- Có nhiều cách để giới thiệu bài mới, dùng hình ảnh trong sách giáo khoa,
băng hình liên quan đến bài dạy, tạo tình huống dẫn dắt vào bài. Giới thiệu mục
đích, yêu cầu của bài thông qua một phần bài tập có thể lựa chọn nội dung giới
thiệu bài cho phù hợp với mục tiêu cần đạt của bài.
- Tuy nhiên trong giờ luyện từ và câu bao giờ cũng có hai phần từ và câu
nên phần giới thiệu bài chia hai phần học
Ví dụ: Bài 6B: trang 80 ( tập 1A) giới thiệu bài qua tranh, giáo viên treo
tranh yêu cầu học sinh quan sát tranh đặt câu theo mẫu đã học Ai là gì? Học
sinh nói tự do, giáo viên chọn một vài câu có nội dung tương tự bài tập sách giáo

Ở lớp 2 VNEN, có những bài dạy về lí thuyết như : Từ và câu, Từ ngữ
chỉ sự vật (Danh từ), Từ ngữ chỉ hoạt động, trạng thái (Động từ), Từ ngữ chỉ đặc
điểm, tình cảm (Tính từ) …. Những bài học này là tổng kết những kiến thức
được rút ra từ những bài tập học sinh được làm. Khác với chương trình lớp 2
trước, chương trình lớp 2 mới học sinh được làm bài tập sau đó mới rút ra kiến
thức trọng tâm của bài.
Dạy nghĩa của từ được hiểu là nội dung đối tượng vật chất, là sự phản ánh
đối tượng của hiện thực trong nhận thức được ghi lại bằng tổ hợp âm thanh xác
định. để làm tăng vốn từ cho học sinh, giáo viên cần phải cung cấp những từ mới
bằng những tranh ảnh, hoạt động hay lời nói mà giáo viên đưa ra. Công việc đầu
tiên của dạy từ là phải làm cho học sinh hiểu nghĩa của từ, hiểu được tầm quan
trọng của việc dạy nghĩa của từ và nó còn là nhiệm vụ sống còn trong sự phát
triển ngôn ngữ của trẻ em.Muốn thực hiện được điều này người giáo viên phải
hiểu nghĩa của từ, phải biết giải nghĩa phù hợp với mục đích dạy, phù hợp với
đối tượng học sinh. Giải nghĩa từ bằng trực quan là biện pháp giáo viên đưa vật
thật, tranh ảnh, … Giải nghĩa từ bằng trực quan chiếm vị trí quan trọng trong
giải nghĩa từ ở tiểu học vì nó góp phần giúp học sinh hiểu nghĩa của từ một cách
dễ dàng nhưng cách giải nghĩa này đòi hỏi người giáo viên phải chuẩn bị khá
công phu.
Ví dụ: Bài“Từ chỉ sự vật” (Bài 3B tập 1A) giáo viên giải nghĩa cho học
sinh các từ chỉ sự vật như : bộ đội, công nhân, cây dừa, cây mía… thông qua
tranh và lời nói của giáo viên.
Ngoài ra, giáo viên còn giải nghĩa bằng ngữ cảnh, đó là đưa từ vào trong
một nhóm từ, một câu, một bài để làm rõ nghĩa của từ trong ngữ cảnh. Giáo viên
không cần giải thích mà nghĩa của từ tự bộc lộ trong ngữ cảnh .
Ví dụ : Bài Từ và Câu ( Bài 1A tập 1A ) Giải thích từ “nhà”,giáo viên có
thể đưa từ nhà vào trong câu: Nơi em ở là ngôi nhà sàn.
* Dạy bài mở rộng vốn từ
Đây là loại bài tập có vị trí chủ đạo, bao trùm trong nội dung luyện từ và
câu dạy mở rộng vốn từ có nghĩa là giáo viên hướng dẫn các em mở rộng vốn

2A), các em học chủ đề “chim chóc” thì ở luyện từ và câu các em được học từ
ngữ về chim chóc và mở rộng vốn từ các từ ngữ về loài chim.
Khi học sinh chưa nắm chắc từ thì giáo viên cần gợi ý từ và giúp học sinh
hiểu được nghĩa của từ và nắm chắc hệ thống từ một cách thành thạo, biết dùng
từ để đặt câu. Giáo viên cần định hướng những từ nhất định, cần thu hẹp phạm
vi liên tưởng lại.
Ví dụ : Khi dạy bài “Từ ngữ về các môn học”
Giáo viên đưa ra những câu hỏi gợi ý từ đó để giúp học sinh nắm được hệ thống
của từ trong chủ đề “ Thầy cô” như :
- Trong thời khoá biểu, những môn học nào em được học nhiều nhất?
(Môn Toán và Tiếng Việt)
- Ngoài ra em còn học những môn học nào khác nữa ? (Tự nhiên – Xã
hội, đạo đức, nghệ thuật, ……)
- Trong môn Tiếng Việt em học gồm có những phân môn nào ? (Tập đọc,
chính tả, luyện từ và câu, tập viết, kể chuyện, tập làm văn)
- Trong môn nghệ thuật em thấy có những phân môn nào ?(thủ công, âm
nhạc, mĩ thuật)
- Sau đó GV dùng những tấm bìa khác màu để phân biệt các môn học.
Giải các bài tập hệ thống hóa vốn từ, học sinh sẽ xây dựng được những
nhóm từ khác nhau. Để hướng dẫn học sinh làm những bài tập này giáo viên
cần có những vốn từ cần thiết và phân biệt được các loại từ.
Ví dụ : Chọn từ ngữ thích hợp rồi điền vào chỗ trống để tạo thành một câu
hoàn chỉnh:
a/ Cháu ….. ông bà.
b/ Con …… cha mẹ.
c/ Em ….. anh chị.
9


- Giáo viên phải xác định cho học sinh ở bài tập này phải điền những từ

mẫu trong sách giáo khoa để hướng dẫn học sinh tìm từ. Các từ mẫu giúp học
sinh hiểu rõ yêu cầu của bài tập , có tác dụng gợi ý định hướng cho học sinh
trong việc tìm từ.
Nhiều bài tập tìm từ ngữ cùng chủ đề không có các từ mẫu:
Ví dụ : Bài 14B. Trang 62: hãy tìm 3 từ nói về tình cảm thương yêu giữa
anh , chị, em.
Về cách dạy, với những bài tập này, nếu học sinh gặp khó khăn, giáo viên
có thể nêu từ mẫu để học sinh đựa vào đó tiến hành tìm từ.
Ví dụ : Bài 10A: bài tập 3 trang 7: Tìm những từ chỉ người trong gia đinh,
họ hàng ở câu chuyện Sáng kiến của bé Hà.
Các từ cần tìm có lúc được huy động trong vốn của học sinh. Cũng có bài
tập chỉ yêu cầu học sinh tìm các từ có sẵn trong một văn bản.
10


Ví dụ : Bài 12B: trang 37 “ Từ ngữ về tình cảm”
- Dùng mũi tên () nối các tiếng sau thành những từ có hai tiếng rồi ghi
các từ tìm được vào dòng dưới.
yêu
thương
quý
mến
kính
- Giáo viên hướng dẫn học sinh bằng cách : Hướng dẫn các em tạo các từ
theo từng tiếng dưới dạng sơ đồ cây. Như tiếng“ yêu” ta có các từ: yêu thương,
yêu quý, yêu mến..tương tự như vậy học sinh sẽ tạo các từ tiếp theo.
Với các dạng bài tập này giáo viên cần cho học sinh phân tích đề bài một
cách rõ ràng. Khi cần giáo viên có thể giải thích để các em nắm được yêu cầu
của bài tập. Khi hướng dẫn học sinh làm bài tập, giáo viên phải nắm chắc trình
tự giảng bài, cần có những dự tính cho những tình huống và những lỗi học sinh



hình thức nói và viết. Vì vậy, thực hành câu nhất thiết phải được dạy một cách
có định hướng, có kế hoạch thông qua hệ thống bài tập câu.
Các bài tập nhận diện , phân tích trong quá trình hướng dẫn học sinh làm
bài tập giáo viên cần đặt ra những câu hỏi thích hợp đối với mỗi thành phần học
sinh nhận diện ra chúng. Những bài tập xây dựng tổng hợp chủ yếu nằm ở cấp
độ câu, nó được xây dựng thành nhóm :
Nhóm các bài tập theo mẫu gồm :
Bài tập viết theo mẫu làm rõ ý nghĩa của câu.
Trả lời câu theo mẫu có sẵn.
Nhóm các bài tập này, giáo viên đưa ra các ví dụ và làm mẫu. ở đây ví dụ
phải là mẫu đích thực và câu hỏi cần dần dần tăng độ khó.
Ví dụ : Khi dạy câu kiểu : Ai / là gì ? Trước khi vào bài dạy giáo viên cần
phân tích mẫu, cho học sinh lấy ví dụ theo câu kiểu Ai / là gì ? Sau đó mới đi
vào thực hành nói và viết theo câu kiểu Ai / là gì ?
Câu kiểu Ai/ là gì ? tức là giới thiệu về người, vật …nào đó.
Ví dụ :
Lan/ là học sinh lớp 2A (Ai / là gì ?)
Ai
là gì
Điện thoại/ là phương tiện thông tin nhanh nhất. (Cái gì / là gì ?)
Cái gì
là gì
Cò và Vạc/ là đôi bạn thân (Con gì / là gì ?)
Con gì
là gì
Sau đó giáo viên cho học sinh thực hành với bài tập sau :
Bài tập 1 : Đặt câu theo mẫu dưới đây rồi ghi vào chỗ trống
Ai (hoặc cái gì, con gì)

dự tính được những câu trả lời của học sinh và những sai phạm mà các em có
thể mắc phải để chuẩn bị sẵn phương án sửa chữa khi học sinh không giải được
bài tập thì giáo viên phải cắt nhỏ từng bước để sửa sai cho học sinh.
Phải dành thời gian đúng mức cho khâu kiểm tra, đánh giá. Có thể cho
học sinh kiểm tra lẫn nhau, đánh giá những câu có mẫu lời giải đúng để học sinh
tự đối chiếu, đánh giá bài làm của mình.
Tóm lại để giải được các kiểu bài tập này,giáo viên cần có vốn từ cần thiết
và biết phân loại các từ. Các bài tập hệ thống hóa vốn từ vừa sức với học sinh
tiểu học, được các em thực hiện một cách tự nhiên và có hứng thú.
3. Biện pháp 3: Hướng dẫn học sinh làm bài tập:
- Dựa vào các loại bài tập cụ thể, GV tổ chức cho HS làm bài trên bảng lớp,
bảng con, trong vở nháp hoặc vở bài tập Tiếng Việt bằng các biện pháp sau:
+ Giúp HS nắm vững yêu cầu của bài tập (bằng câu hỏi, bằng lời giải
thích).
+ Giúp HS chữa một phần của bài tập để làm mẫu (một học sinh chữa mẫu
trên bảng lớp hoặc cả lớp làm bài vào vở hay bảng con).
+ Giáo viên tổ chức cho học sinh làm bài vào bảng con hoặc vào vở, giáo
viên theo dõi uốn nắn.
+ Giáo viên tổ chức cho HS trao đổi, nhận xét về kết quả, rút ra những
điểm ghi nhớ về nội dung bài học
- Các bài tập cần phải phù hợp với đối tượng học sinh, giáo viên cần linh
hoạt sử dụng các bài tập thiết thực có tác dụng trực tiếp đối với học sinh.
Ví dụ: Bài 3B, baì 3 trang 37 “ Đặt câu hỏi cho bộ phận câu được in đậm”.
a, Em là học sinh lớp 2.
b, Lan là học sinh giỏi nhất lớp.
c, Môn học em yêu thích là tiếng việt.
Đây là bài tập yêu câu học sinh nhận diện bộ phận chính thứ nhất của câu
có mô hình Ai – là – gì?. Bộ phận này đã được in đậm
- Cách nhận diện bộ phận này là đặt câu hỏi ( cho bộ phận in đậm ).
- Sau khi đã đặt câu hỏi, học sinh cần kiểm tra lại xem mình đặt câu hỏi đã

câu hỏi làm gì? Xem xét từng từ ở nhóm 1 có thể ghép với từ nào ở nhóm 2 và
nhóm 3 cho hợp nghĩa riêng từ nhau ở nhón 3 đòi hỏi từ ở nhóm 1 trả lời cho
câu hỏi Ai? Phải là từ chỉ nhiều người. do đó trường hợp có từ nhau ở nhóm 3
thì từ ở nhóm 1phair là chị em hoặc anh em.
Sau khi đã đặt câu, học sinh cần kiểm tra lại xem mình đặt câu đã đúng chưa
băng cách đặt câu hỏi cho từng bộ phận câu em đã đặt ( câu hỏi: Ai?, làm gì? ).
Nếu câu trả lời khớp với các bộ phận câu em đặt thì em đã giải đúng.. Nếu câu
trả lời sai lệch với bộ phận câu em đặt thì em đaz giải sai. Kiến thức cần phải
khắc sâu qua bài tập này ;l à câu có mô hình Ai ( cài gì) – là gì?
Ví dụ : Khi dạy các tiết hướng dẫn thực hành Tiếng Việt vào buổi chiều,
với bài “Ôn các từ ngữ về loài chim” tôi đã đưa ra các câu hỏi về loài chim. Sau
đó yêu cầu học sinh giải thích và nêu đặc điểm của các loài chim đó. Như :
Câu đố thứ nhất :
Con gì nho nhỏ
Cái mỏ xinh xinh
Chăm nhặt, chăm tìm
Bắt sâu cho lá
( Con chim sâu)
Câu đố thứ hai :
Mỏ dài lông biếc
Trên cành lặng yên
Bỗng vút như tên
Lao mình bắt cá
Là con chim gì ?
( Chim bói cá )
Sau khi học sinh đã giải xong câu đố về các loài chim, giáo viên hỏi : Dựa
vào các câu đố ở trên em hãy nêu đặc điểm của con chim sâu, chim bói cá, chim
gõ kiến, chim cu gáy ?
Ví dụ: Bài tập. Đặt câu với mỗi từ em tìm được ở bài tập 1: thương yêu,
biết ơn

Một trong những hoạt động tạo được hứng thú học tập cho học sinh rất
hiệu quả học sinh học mà chơi , chơi mà học. Nâng cao chất lượng giờ dạy, đó là
hoạt động trò chơi của học sinh trong học tập. Trò chơi cho học sinh phải phù
hợp với từng kiểu bài, từng tiết dạy, từng đối tượng học sinh trong lớp. Tôi đưa
ra một số trò chơi như sau:
Ví dụ 1: Trò chơi Tìm nhanh từ cùng chủ đề
A. Mục đích:
- Mở rộng vốn từ, phát huy óc liên tưởng và so sánh
- Rèn tác phong nhanh nhẹn,luyện trí thông minh và cách ứng xử nhanh
B. Chuẩn bị:
- Bảng phụ hoặc giấy nháp
C. Cách tiến hành:
- Trò chơi có từ 2 – 4 nhóm, mỗi nhóm có từ 3 – 4 học sinh tham gia
- Sau khi giải nghĩa từ ngữ được dùng để gọi tên chủ đề:
( Ví dụ: Đồ dùng học tập là những dụng cụ của cá nhân dùng để học tập :
(vật nuôi là những con vật nuôi trong nhà...) Giáo viên ( người đẫn trò ) nêu yêu
cầu:
15


( + Hãy kể ra những từ gọi tên đồ dùng học tập hoặc những từ nói về tình
cảm gia đình...)
+ Từng nhóm ghi lại những từ đó vào bảng phụ ( đã chia theo số lượng
nhóm), hoặc ghi vào giấy nháp để đọc lên. Thời gian viết khoảng 2 – 3 phút.
+ Mỗi từ viết đúng được tính 1 bông hoa: mỗi từ viết sai bị trừ 1 bông hoa
nhóm nào có số bông hoa nhiều nhất sẽ đứng ở vị trí thứ nhất, các nhóm khác
dựa theo số hoa để xếp vào vị trí nhì, ba, tư...
Chú ý: Trò chơi này có thể được sử dụng ở các bài luyện từ và câu:
- Trong sách giáo khoa Tiếng việt 2 VEN:
+ Kể tên các môn em đã học ở lớp 2 Bài 2B, trang 23.

Ví dụ: Với phụ âm đầu b, học sinh có thể đưa ra: Bà, bố, bi, bánh, bạn,
biết, bò, bút...: với phụ âm đầu c, học sinh có thể đưa ra: Cá , cơm, có, cò, cỏ,
cờ, cấm, canh, cột...
16


Cũng có thể tiến hành tìm các từ theo các bước sau:
- Ghép phụ âm đầu đã cho với 1 nguyên âm: a, o, ô, ơ, e,ê....rồi thay đổi lần
lượt các thanh huyền, sắc, hỏi, ngã, nặng. Xét trong các tiếng đã ghép được,
tiếng nào có nghĩa thì ghi lại:
Ví du: b – ba, bà, bá, bả, bạ, bo, bò, bó, bỏ, bõ,bọ...
- Ghép phụ âm đầu đã cho với vần có 2 bộ phận ( âm chính và âm cuối, âm
đệm, âm chính ) đến vần có 3 bộ phận ( âm đệm, âm chính, âm cuối ) rồi thay
đổi lần lượt các thanh và chọn ra các tiếng có nghĩa.
Ví dụ: ban, bàn, bán, bản, bạn,bần, bấn,bẩn, bận....
+ Có thể kết hợp tìm từ đơn cũng có phụ âm đầu với từ theo chủ đề hoặc
kết hợp với tìm từ theo từ loại ( Chỉ sự vật, chỉ hành động, chỉ tính chất )
Ví dụ: Tìm từ chỉ đồ dùng trong nhà có phụ âm đầu ch (chén,chõng,
chăn,chiếu, chum, chai...)
- Tìm từ chỉ gia đình họ hàng có phụ âm đầu ch ( ch, chú, cháu, chắt ... )
- Tìm từ chỉ người, vật có phụ âm đầu c ( cô, cơm, cá, cò, cỏ...)
- Tìm từ chỉ hoạt động có phụ âm đầu đ ( đi, đứng, đo, đếm, đong... )
- Tìm từ chỉ hoạt động có phụ âm đầu b ( bám, bò,bán, bắn, bàn, băm...)
Ví dụ 3 : Trò chơi ghép nhanh tên sự vật.
A. Mục đích:
- Ghép nhanh được từ với đồ vật hoặc hình vẽ tương ứng.
- Có biểu tượng cụ thể về nghĩa của từ.
B. Chuẩn bị:
- 2 bộ đồ dùng để chơi, mỗi bộ gồm một số đồ vật thật hoặc tranh ảnh đại
diện cho nghĩa của từ được nêu trong sách giáo khoa, các thẻ từ ghi tên các đồ

IV. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
Qua quá trình vừa nghiên cứu vừa áp dụng một số biện pháp vào thực tế
giảng dạy phân môn luyện từ và câu cho học sinh lớp 2. Tôi đã thu được kết quả
khả quan. Học sinh học tập rất tích cực, hứng thú, chủ động trong việc lĩnh hội
tri thức, không khí lớp học sôi nổi, hào hứng. Các em được tự mình hình thành
những kỹ năng về vốn từ và kiến thức về phân môn luyện từ và câu. Từ đó các
em cảm thấy thú vị và thích thú. Giáo viên đóng vai trò là người tổ chức điều
khiển các hoạt động định hướng, gợi mở, dẫn dắt học sinh lĩnh hội kiến thức
mới
Trong thời gian công tác tại trường Tiểu học Định Hưng tôi đã điều tra
nghiên cứu và thử áp dụng thực tế đã được các động nghiệp trong trường đồng
tình ủng hộ. Với đề khảo sát cho thấy học sinh đạt kết quả cao hơn, cụ thể được
biểu hiện ở bảng kết quả sau:
Bảng điểm khảo sát sau khi áp dụng sáng kiến
Sĩ số

11

Điểm 9-10

Điểm 7-8

Điểm 5-6

Điểm dưới 5

SL

TL %


Học sinh nắm chắc kiến thức, hiểu được bản chất của vấn đề, tiếp thu bài
tốt, chất lượng học tập đồng đều hơn. Học sinh ít mắc sai lầm trong quá trình
làm bài.Học sinh không còn lúng túng trong bước tìm cách giải cho mỗi bài tập
luyện từ và câu. Học sinh học các bài tập luyện từ và câu đều hứng thú hơn,
không còn ngại.Tỉ lệ điểm chín, mười được nâng lên, không còn điểm ba, bốn.
C. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
I. Kết luận :
Phân môn luyện từ và câu có một vị trí rất quan trọng cho việc phát triển
18


văn hóa của đất nước.Thực tế cho thấy trong phân môn luyện từ và câu thì kĩ
năng dùng từ để đặt câu là rất cơ bản và trọng tâm của môn Tiếng Việt. Muốn
làm bài tập luyện từ và câu đúng và không sai yêu cầu học sinh phải nắm chắc lí
thuyết và các quy tắc, định nghĩa, kĩ năng làm bài tập.
Qua kết quả thực nghiệm và thực tế giảng dạy phân môn luyện từ và câu ở
lớp 2VNEN, tôi thấy để tiết dạy có kết quả tốt cần thực hiện tốt các giải pháp :
+ Thường xuyên trao đổi kinh nghiệm giảng dạy, trau dồi kiến thức phân
môn luyện từ và câu với các đồng nghiệp.
+ Tổ chức học tập bằng nhiều hình thức: học cá nhân, học nhóm, hái hoa
dân chủ . Giáo viên luôn đổi mới phương pháp dạy học, phát huy tính chủ động,
sáng tạo của học sinh
+ Sử dụng đồ dùng trực quan, làm tranh minh họa , tổ chức trò chơi để tạo
hứng thú học tập cho học sinh và nhớ nhanh nội dung bài học.
+ Dùng hệ thống câu hỏi gợi mở giúp học sinh tìm được những từ có
nghĩa để đặt câu.
+ Cần quán triệt phương pháp lấy học sinh làm trung tâm, coi học sinh
làm chủ thể của hoạt động nhận thức, biến các em thành người chủ động trong
quá trình học tập, lĩnh hội tri thức. Các em phải hoàn toàn tự mình tham gia mọi
hoạt động nhận thức và giao tiếp.

B. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
I. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
II.Thực trạng
1. Thực trạng dạy phân môn Luyện từ và câu lớp 2
2. Kết quả của thực trạng
III. Các biện pháp thực hiện trong giảng dạy phân môn luyện từ và câu
Biện pháp1: Khơi sự tò mò, hứng thú học bài cho các em bằng chính

Trang
1
2
2
2
3
3
3
3
4
6
6

lời giới thiệu của mình

V. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục với

7
13
15
17



Phạm Quốc Tuấn -

Hướng dẫn học

Nguyễn Thị Ngọc Bảo

tiếng việt lớp 2
tập 1A, 1B.

1

Nguyễn Thị Ngọc Bảo

2013
NXB Giáo dục

Hướng dẫn học Việt Nam.

2012

tiếng việt lớp 2
tập2A, 2B.

2

Nguyễn Minh Thuyết

Sách



2 (Tập 1, Tập 2)
Phương pháp
luyện từ và câu
Tiểu học (Lớp 2)

Lê Phương Nga

- Phương pháp
dạy tiếng việt ở
tiểu học-

Việt Nam.

2009

NXB Giáo dục
Đà Nẵng
NXB Giáo dục

2003
2003

Việt Nam

21


Dạy học lấy học
sinh làm trung


lời giới thiệu của mình
Biện pháp2: Phân ra các kiểu bài trong phân môn luyện từ và câu
Biện pháp3: Hướng dẫn học sinh làm bài tập
Biện pháp4: Áp dụng trò chơi học tập
V. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục với

8
13
15
17

bản thân,đồng nghiệp và nhà Trường
C. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ

18

I. Kết luận
II. Kiến nghị

18
19

22




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status