Một số biện pháp sử dụng khi dạy tiết trả bài viết trong phân môn tập làm văn lớp 5 - Pdf 35

MỘT SỐ BIỆN PHÁP SỬ DỤNG KHI DẠY TIẾT TRẢ BÀI VIẾT TRONG
PHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN LỚP 5
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Xuất phát từ yêu cầu của việc dạy học Tập làm văn cho bậc tiểu học là: hình
thành cho học sinh thói quen tư duy độc lập, sáng tạo biết cách miêu tả, tường thuật
lại thế giới khách quan bằng hệ thống từ ngữ, câu văn. Từ đó các em sử dụng hệ thống
ngôn từ của cá nhân vào thực tế bài viết cho sinh động, gợi cảm, bằng cách nhìn nhận
sự vật, đánh giá sự vật theo cảm tính và dần dần các em nhìn nhận sự vật, đánh giá sự
vật bằng sự quan sát tinh tế, bằng sự cảm nhận của các giác quan. Ở lớp 5 các em dã
biết viết bài văn một cách chặt chẽ, logic và ít nhiều sử dụng được một số biện pháp
nghệ thuật tu từ cho cách viết qua cảm nhận cái đẹp được thể hiện trong văn học.
Tôi nghĩ rằng dạy Tập làm văn cho học sinh tiểu học là một nhiệm vụ mà mỗi
Thầy cô có tâm huyết đều thấy trăn trở và ai cũng mong muốn làm được, dạy được để
học sinh cảm thấy yêu thích môn học này. Vì vậy, trong phạm vi hẹp sáng kiến kinh
nghiệm này chỉ đề cập đến giai đoạn cuối của sản phẩm đó là: Tiết học trả bài viết.
Theo quy trình dạy và học, tiết học này là tiết học đánh giá sản phẩm để Thầy trò
cùng nhau trau chuốt, gọt giũa, hoàn thiện sản phẩm bằng cách: chữa từ sai - ý chưa
hoàn chỉnh, câu văn khô khan hoặc lủng củng… để Thầy Trò qua đó tìm cách thể hiện
tốt hơn cho bài viết. Và như thế tiết học trở thành tiết học tốt, cuốn hút học sinh. Học
sinh tự tin và thích học văn hơn. Nếu người Thầy tìm được cách giải quyết vấn đề hợp
lý, học sinh được trực tiếp tham gia vào quy trình trả bài viết với tư cách là một chủ
thể theo cách dạy học tích cực: Thầy thiết kế - Trò thi công thì ở trong tiết học Trò
không phải lĩnh hội kiến thức thụ động theo lối: Thầy giảng - Trò ghi mà theo một
chiều hướng tích cực đó là: từ kiến thức Tập làm văn Trò có được do chính các em
tích lũy, sáng tạo trong quá trình làm việc theo hướng tương tác: Thầy với Trò; Trò
với Trò.
Chính từ những trăn trở này, qua thực tế dạy - học tôi đã cố gắng tìm hiểu,
nghiên cứu sâu hơn về phương pháp tổ chức dạy Tiết học trả bài viết cho HS lớp 5
nhằm tìm ra được phương pháp, hình thức tổ chức thích hợp nhất, vận dụng tốt nhất
trong quá trình giảng dạy của mình. Vì vậy tôi mạnh dạn trình bày cách dạy của mình
và mong muốn với sự góp ý của hội đồng khoa học, của đồng nghiệp thì sẽ có được giải

đẹp trong văn học các em cũng có cảm hứng. Thế nhưng khi yêu cầu viết đoạn văn
hay bài văn các em lại rất ngại.
Nguyên nhân: hầu hết học sinh trường tiểu học Nghĩa Phú sống ở nông thôn, các
em rụt rè, không mạnh dạn trước đông người, ngôn ngữ giao tiếp còn nhiều hạn chế.
Phát âm còn nặng về phương ngữ nên phát âm như thế nào viết như thế đó. Mặt khác
điều kiện kinh tế của gia đình còn khó khăn nên việc đầu tư tài liệu tham khảo chưa
đáp ứng theo yêu cầu. Bên cạnh đó, năng lực tiếp thu, ý thức học tập, sự chuẩn bị bài
của các em chưa cao…Từ những nguyên nhân trên dẫn đến kết quả bài làm của học
sinh còn thấp. Bài viết chưa sinh động; dùng từ không chính xác; câu văn viết còn
2


lủng củng; diễn đạt không trôi chảy;ít học sinh sử dụng các biện pháp nghệ thuật tu
từ; bài văn chưa có hồn…
II. CÁC BƯỚC TIẾN HÀNH VÀ BIỆN PHÁP.
1. Chấm bài:
Chấm bài là yêu cầu đòi hỏi sự chuẩn bị rất công phu của người giáo viên. Bởi vì
nếu chấm kỹ, chấm đúng, sửa từng chi tiết nhỏ về từ, về ý, về diễn đạt và cách dùng
từ … cho học sinh thì sẽ giúp cho tiết trả bài đạt kết quả tốt.
 Biện pháp.
*Biện pháp 1: Sử dụng ký hiệu khi chấm bài, chữa bài.
Để học sinh nhận biết được bài viết của mình có những lỗi gì thì ngay từ tiết Tập
làm văn đầu tiên tôi đã hướng dẫn các em làm quen với những ký hiệu mà khi chấm
bài tôi thường sử dụng, cụ thể:
- Nếu ngoài lề có chữ T gạch chân và viết lại từ sửa: đó là lỗi chính tả.
- Nếu ngoài lề có chữ T gạch chân và dấu ?: đó là lỗi về từ.
- Nếu ngoài lề có chữ T gạch chân và dấu sổ dọc: đó là lỗi về câu.
Làm như thế khi đọc bài viết của mình học sinh sẽ dễ dàng nhận ra lỗi sai để từ đó các
em có cách sửa sai nhanh và phù hợp với đặc điểm lứa tuổi của các em.
*Biện pháp 2: Khi chấm bài giáo viên ghi lại các lỗi học sinh hay mắc phải.

Lỗi về chính tả
Ví dụ: khuôn mặc

Lỗi về từ

Lỗi về câu

Ví dụ: Mái tóc bà em bạc Ví dụ: Không những Lan
phếch theo thời gian.
học giỏi mà hát rất hay

 *Biện pháp:
*Biện pháp 1: Sửa lỗi về chính tả.
Khi sửa lỗi về chính tả, tôi cho học sinh nêu từ sai (từ đã được giáo viên chỉ ra
trong vở).
Ví dụ:
Từ học sinh viết : khuôn mặc
Giáo viên hỏi: Em hãy nhận xét về lỗi sai trong bài viết của bạn?
Học sinh nhận xét: Từ khuôn mặc bạn đã viết sai chữ mặc, sai ở phần vần, sai
âm cuối: âm “ t” bạn lại viết âm “ c”.
Vậy từ được dùng trong câu văn này phải là từ gì để thay cho từ khuôn mặc:
khuôn mặt
- Học sinh nêu từ: chái soan
- Học sinh nhận xét: Từ chái soan bạn đã viết sai cả hai chữ: chái và soan
4


sai âm đầu: “ tr”bạn viết “ch”
“x” bạn viết “s”
học sinh đọc lại: trái xoan


t/c

l/n

tr/ch

Ví dụ: Cùng một cách phát âm: mặt, mặc (phát âm gần giống nhau nhưng nghĩa
lại khác nhau) : - mặt (khuôn mặt - danh từ)
- mặc (hoạt động mặc quần,áo - động từ)
hoặc: củng - cũng
củng - dùng trong từ : củng cố (nhắc lại cho nhớ)
cũng - dùng trong : cũng như (so sánh)

5


Do nghĩa của hai từ khác nhau nên khi dùng từ cần chú ý đặt mỗi từ sao cho phù
hợp với văn cảnh.
Vì vậy nếu các em viết sai lỗi chính tả có thể dẫn đến sai nghĩa của từ.
*Biện pháp 2: Sửa lỗi về từ.
Khi sửa lỗi về từ giáo viên cho học sinh lần lượt nêu câu có từ sai và ghi bảng:
Ví dụ: Mái tóc của bà em bạc phếch theo thời gian.
Giáo viên: Câu văn bạn viết như thế đã hay chưa?
Nếu học sinh không phát hiện ra lỗi sai của bạn thì giáo viên có thể nêu câu hỏi
gợi ý cho học sinh.
Giáo viên: Trong câu văn trên bạn đã dùng từ phù hợp chưa? đó là từ nào?
Học sinh: Từ bạc phếch
Giáo viên: Em hãy giúp bạn tìm từ thay thế cho phù hợp?
Học sinh : bạc trắng, bạc phơ.

Giáo viên: Vẫn không rõ nghĩa, vậy trong trường hợp này ta phải đặt các từ đó
vào trong câu và xét xem đã phù hợp với văn cảnh hay chưa.
Tấm lòng của cô như thế nào làm em kính trọng cô?
Học sinh : Tấm lòng nhân ái của cô làm em kính trọng cô.
Giáo viên : Như vậy ta phải thay: từ phát ra bằng từ nhân ái.
Cơ sở để các em tìm từ đúng trong trường hợp này là em phải tìm từ trung tâm,
từ xương sống quyết định nghĩa câu văn như ví dụ sau:
Đôi mắt cô lấp lánh như giọt nước luôn nhìn chúng em trìu mến.**
Giáo viên: Trong câu, cụm từ nào dùng không hợp lý ?
Học sinh : Cụm từ “ lấp lánh như giọt nước.”
Giáo viên: Cụm từ “lấp lánh như giọt nước” không hợp lý ở điểm nào?
Học sinh: So sánh không hợp lý. Đôi mắt lấp lánh - giọt nước
Học sinh: Từ sai

Đôi mắt → lấp lánh.

Học sinh đã chỉ ra được 2 lỗi sai:
- Sai từ : lấp lánh.
- Sai cách so sánh : Đôi mắt lấp lánh - như giọt nước.Vì thế các em sẽ nhanh
chóng tìm được từ thay thế.
Đôi mắt sáng, hiền từ của cô luôn nhìn chúng em trìu mến.
Giáo viên : Cơ sở để em dùng được từ hiền từ thay thế cụm từ sai ở trên là gì?
Học sinh: Là nhờ có ngữ nhìn chúng em trìu mến.
Giáo viên : Vậy chính từ trìu mến trong ngữ nhìn chúng em trìu mến là đốt
sống giúp các em tìm được từ hiền từ thay thế.
*Biện pháp 3: Sửa lỗi về câu.
Với đối tượng học sinh tiểu học hiện tượng viết câu sai về ngữ pháp, không rõ
nghĩa, câu dài dòng, câu không liên kết ý là phổ biến. Chúng ta rất dễ bắt gặp trong
bài văn của các em, kể cả bài văn của học sinh giỏi. Điều đó bắt nguồn từ thực tế, các
em “nghĩ gì viết ấy, nói sao viết vậy”. Vì thế sửa câu là giúp học sinh biết cách viết

Giáo viên : Em nhận xét câu trên: Về cấu trúc ngữ pháp ?
Học sinh: Cấu trúc ngữ pháp đúng :
Bạn Mạnh Tuấn năm nay (chủ ngữ)
Bằng tuổi em, cũng học lớp 5 với em.( vị ngữ ).
Giáo viên : Nhưng ở câu này có gì không ổn?
Học sinh : Không ổn ở trật tự câu.
Giáo viên : Em hãy sửa lại giúp bạn.
Học sinh : Năm nay, bạn Mạnh Tuấn.
Giáo viên: Vậy trường hợp này nên để năm nay làm trạng ngữ sẽ hợp lý hơn bổ
ngữ.
8


Giáo viên: Vị ngữ vẫn còn chưa hợp lý, em hãy thay đổi vị trí xem sao?
Học sinh: Học lớp 5 với em và cũng bằng tuổi em.
Giáo viên: Như vậy sau khi sửa ta có câu:
Năm nay, bạn Mạnh Tuấn học lớp 5 với em và cũng bằng tuổi em.
Giáo viên : Em hãy diễn đạt lại để câu gọn ý hơn.
Năm nay, cũng như em, Mạnh Tuấn đang học lớp 5.
Giáo viên : Vậy là bạn đã dùng một vị ngữ của câu làm trạng ngữ.
Thế nên: Ta có thể thay đổi trật tự của câu, hoặc thay đổi chức năng ngữ pháp
trong câu để sửa câu, làm cho câu rõ ý, gãy gọn và trong sáng hơn nhưng ý nghĩa của
câu vẫn không thay đổi.
* Lưu ý :
Với cách sửa câu sai ngữ pháp bằng cách cung cấp đủ kết cấu chủ ngữ - vị ngữ
hoặc thay đổi chức năng ngữ pháp của câu sai sẽ làm cho câu có ý tường minh hơn,
dễ hiểu hơn. Việc sửa bài trực tiếp tại bảng lớn với sự tham gia tích cực của cả lớp,
của mỗi cá nhân sẽ tạo cho học sinh hứng thú và không còn cảm thấy ngại trước một
câu tưởng như không sửa được.
* Sửa câu có lỗi về diễn đạt.

mũi cao và mái tóc dài xõa xuống vai, da trắng hồng như em bé mới sinh.
Giáo viên: Em hãy nhận xét về cách dùng từ miêu tả ?
Học sinh: Dùng từ miêu tả chưa phù hợp :
mũi thính (thính dùng cho con vật đánh hơi)
tóc đen láy (đen láy dùng tả đôi mắt phù hợp hơn)
Giáo viên : Em hãy sửa giúp bạn.
Học sinh: Vừa gặp bạn, chưa nói câu nào, bạn đã cười, đôi mắt đen láy, rất hợp
với cái mũi cao và mái tóc dài xõa xuống vai, da trắng hồng như em bé mới sinh.
Giáo viên : Em nhận xét vì sao câu vẵn chưa sinh động?
Học sinh: Bạn biết dùng từ so sánh nhưng so sánh sai:
Da trắng - như em bé
Giáo viên: Em hãy sửa bằng cách sử dụng biện pháp tu từ so sánh hoặc liên tưởng?
Học sinh: Vừa gặp bạn, chưa nói câu nào, em đã thấy bạn cười, nụ cười thân thiện
nở thật tươi và đôi mắt cũng cười. Mái tóc đen, dài xõa xuống vai thật duyên dáng. Cái
mũi cao rất xinh được đặt trên làn da trắng mịn như da em bé làm bạn thêm đẹp.
Ví dụ:
Đọng lại trên những chiếc lá xanh thẫm, trên cái trán đã nổi nhiều vết nhăn
của ông là những giọt mồ hôi như muốn tưới cây giúp ông.

10


Khi đọc câu văn này chúng ta cảm thấy khó hiểu vì cách dùng từ và sắp xếp từ
không hợp lý nên đã tạo ra câu không rõ ý. Với kiểu câu này sửa như sau:
Giáo viên gọi học sinh viết câu sai và yêu cầu em đó đọc lại câu này.
Giáo viên: Em hãy cho biết ý em muốn viết gì?
Học sinh nêu ý của em muốn viết: Mồ hôi của ông rơi đọng trên lá, lẫn trong
những giọt nước ông tưới.
Giáo viên: Như vậy cả lớp đã hiểu ý của bạn, em nào có thể giúp bạn diễn đạt
lại cho hay hơn.

* Đọc bài có câu văn hay, ý sáng tạo: Đối với bài có câu hay, ý sáng tạo đó là
những câu sử dụng tốt biện pháp nghệ thuật tu từ: đọc, phân tích và khen ngợi học
sinh (những câu này đã được đánh dấu sẵn trong quá trình chấm bài)
Ví dụ 1:
Nhanh thật, mới năm trước em về, tóc ông chỉ điểm vài sợi bạc. Vậy mà năm
nay, mái tóc ấy chẳng còn mấy sợi đen.
Khi đọc đến câu văn này tôi thật sự bất ngờ vì khả năng quan sát tinh tế và khả
năng dùng từ viết câu rất tốt của em.
Năm trước - điểm vài sợi bạc (rất ít)
Năm nay - chẳng còn mấy sợi đen (rất ít)
Hai cái rất ít để làm nổi lên cái nhiều: Tóc ông đã bạc.
Ví dụ 2:
Mái tóc đen ngày xưa của cô giáo Hoa, nay đã ngả sang màu muối tiêu,
mái tóc ấy có bao nhiêu sợi bạc là bấy nhiêu năm tận tụy với nghề, với bụi phấn,
với trang vở tuổi thơ em.
Câu văn đã vượt quá tầm tuổi thơ của em nhưng đó là câu văn hay. Với cụm từ bao
nhiêu, bấy nhiêu đã nói lên sự cống hiến không mệt mỏi của cô giáo.
Với cách viết chân thật, sự quan sát tinh tế, em đã tả sự vật như cái nó vốn có,
không cách điệu, sáo rỗng và biết liên tưởng.
màu tóc bạc đến bụi phấn - trang vở...
*Đọc bài có đoạn văn hay: Với bài này tôi thường chọn đoạn văn có cấu trúc ngữ
pháp chặt chẽ, có sự liên kết ý tốt và có cách viết giàu hình ảnh để đọc và phân tích
cho học sinh cảm nhận đoạn văn hay.
Ví dụ:
Cảnh rừng núi bây giờ đã thấy rõ hơn, em đã nhìn thấy những tán lá thông
xanh mướt, những chùm quả thông nâu, to nhỏ đẹp mắt.Dưới tán lá xanh dày đặc
ấy, thấp thoáng một mái chùa cổ kính. Rồi Thiền Viện Trúc Lâm hiện ra trước mắt
em với mái vòm cong cong, với sự tĩnh lặng giữa thiên nhiên. Em bỗng chùn bước
trước vẻ uy nghi của nó.


C. KẾT LUẬN.
Muốn có chất lượng giáo dục học sinh cao, người giáo viên tiểu học ngoài lòng
yêu nghề, mến trẻ tâm huyết với sự nghiệp trồng người thì người giáo viên phải
không ngừng tìm tòi, sáng tạo các phương pháp dạy học mới, nhẹ nhàng, phù hợp với
đối tượng học sinh.Luôn trau rồi kiến thức, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ.
Dạy học Tập làm văn ở Tiểu học là một vấn đề rất khó. Việc hướng dẫn cho
học sinh kiến thức, kĩ năng dùng từ, viết câu, viết đoạn vô cùng quan trọng. Để dạy
13


tốt phân môn Tập làm văn Giáo viên phải tổ chức các việc làm cụ thể để tác động tới
học sinh một cách tốt nhất để các em tiếp thu, lĩnh hội kiến thức nhanh và đúng. Vậy
nên tiết dạy Trả bài viết phải được xây dựng thành một hệ thống lô gic thì khi thực
hiện tiết dạy sẽ đạt kết quả cao.... Vì vậy trong quá trình dạy học giáo viên phải sử
dụng khéo léo các phương pháp và các hình thức dạy học khác nhau để có thể phát
huy được tính tích cực và tạo sự hứng thú, lôi cuốn các em vào quá trình học tập. Giáo
viên gần gũi học sinh, phối kết hợp tốt mối quan hệ giữa gia đình học sinh cùng uốn
nắn dạy bảo các em. Kiên trì, luôn sáng tạo tìm tòi những phương pháp dạy học mới,
phù hợp với trình độ và đối tượng học sinh ; phát hiện điểm mạnh, điểm yếu của mỗi
cá nhân học sinh để có biện pháp phù hợp. Với học sinh nên khen nhiều hơn chê, động
viên các em kịp thời để tạo sự phấn chấn, ham học cho các em từ đó nâng cao hiệu quả
dạy học.
Trên đây là một số biện pháp nhỏ mà bản thân tôi đã đúc rút trong quá trình
giảng dạy. Mong rằng nhận được sự góp ý, bổ sung của các đồng chí để giúp tôi hoàn
thiện hơn, tự tin hơn khi dạy tiết Trả bài viết của phân môn Tập làm văn.

Nghĩa Phú, ngày 10 tháng 5 năm 2011
Người viết

14


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status