Biện pháp chỉ đạo giáo viên nâng cao chất lượng dạy học giải toán có lời văn cho học sinh lớp 1 - Pdf 43

MỤC LỤC
Nội dung

Trang

PHẦN I: MỞ ĐẦU

1.Lí do chọn đề tài.
2.Mục đích nghiên cứu.
3. Đối tượng nghiên cứu.
4. Phương pháp nghiên cứu.

1
2
2
2

PHẦN II: NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN.
II. THỰC TRẠNG DẠY VÀ HỌC MÔN TOÁN Ở KHỐI LỚP 1
TRƯỜNG TIỂU HỌC THỌ NGUYÊN- THỌ XUÂN
1.Tình hình đội ngũ giáo viên dạy lớp 1 trường Tiểu học Thọ
Nguyên
2. Kết quả kiểm tra khảo sát giữa kỳ II năm học 2014-2015; 20152016.
III. BIỆN PHÁP CHỈ ĐẠO GIÁO VIÊN NÂNG CAO CHẤT
LƯỢNG DẠY HỌC GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN CHO HỌC SINH
LỚP 1.
+ Biện pháp 1: Giúp giáo viên nghiên cứu nắm vững nội dung
chương trình môn Toán lớp 1.
+ Biện pháp 2: Giúp giáo viên làm cho học sinh lớp 1 ham thích học
môn Toán

PHẦN I: MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài.
Giáo dục Tiểu học đã trải qua hơn 10 năm thực hiện chương trình và SGK
mới. Giáo viên Tiểu học đã làm quen với nội dung, phương pháp dạy học theo
tinh thần đổi mới, chất lượng dạy học ở Tiểu học đã từng bước phát triển và tích
cực, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông.
Tuy nhiên, để thực hiện tốt Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban chấp hành
Trung ương khoá XI ( Nghị quyết số 29 -NQ/TW) với nội dung “Đổi mới căn
bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá - hiện đại
hoá trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập
quốc tế” thì phương pháp dạy học và công tác chỉ đạo, quản lý giáo dục ở Tiểu
học còn là vấn đề cần được quan tâm ở các trường Tiểu học.
Xuất phát từ mục đích yêu cầu của sự nghiệp giáo dục đào tạo hiện nay đòi
hỏi phải đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ
động, sáng tạo của học sinh. Vì vậy người giáo viên phải gây được hứng thú học
tập cho các em,lôi cuốn các em tham gia vào các hoạt động học tập.Bồi dưỡng
phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn,tác
động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh.
Ở bậc Tiểu học lớp Một là lớp hết sức quan trọng. Nó là nền tảng vững
chắc trang bị cho các em những kiến thức, kỹ năng cần thiết giúp các em tiếp tục
học các lớp kế tiếp và là cầu nối tiếp tục học bậc trung học cơ sở. Bước đầu hình
thành cho các em kĩ năng tự phục vụ mọi hoạt động trong cuộc sống hàng ngày.
Trong các môn học ở tiểu học, môn Toán đóng vai trò quan trọng nó cung
cấp những kiến thực cơ bản về số, những phép tính đại lượng và khái niệm cơ
bản về hình học, bên cạnh đó môn Toán còn góp phần vào phát triển tư duy, khả
năng suy luận, phát triển ngôn ngữ, trau dồi trí nhớ, kích thích cho các em óc tò
mò ham tìm hiểu khám phá và hình thành nhân cách cho các em giúp các em
phát triển toàn diện.
Việc giải toán nhằm giúp học sinh: Luyện tập, củng cố, vận dụng các kiến
thức và thao tác thực hành đã học, rèn luyện kỹ năng tính toán bước tập dược

và giải toán còn khó hiểu .
- Về mặt nhận thức giáo viên còn coi việc dạy cho học sinh “Giải toán có lời
văn” cho học sinh lớp 1 là đơn giản, dễ dàng nên chưa tìm tòi nghiên cứu để có
phương pháp giảng dạy có hiệu quả.
- Vốn từ, vốn kiến thức, kinh nghiệm thực tế của học sinh lớp 1 còn rất hạn
chế nên khi giảng dạy cho học sinh lớp 1 giáo viên đã diễn đạt như với các lớp
trên làm học sinh lớp 1 khó hiểu và không thể tiếp thu được kiến thức và không
đạt kết quả tốt trong việc giải các bài toán có lời văn.
- Khả năng phối hợp, kết hợp với nhiều phương pháp để dạy mạch kiến thức:
“Giải toán có lời văn” ở lớp 1 còn thiếu linh hoạt. Giáo viên còn lúng túng khi
tạo các tình huống sư phạm để nêu vấn đề. Chưa khuyến khích động viên và
giúp đỡ một cách hợp lý các nhóm cũng như các đối tượng học sinh trong quá
trình học.
Bản thân là một người làm công tác quản lý ở nhà trường tôi nhận thấy:
Muốn dạy tốt chương trình mới nói chung và chương trình toán 1 nói riêng
không những người giáo viên phải nắm vững nội dung chương trình mà còn phải
năng động, sáng tạo để vận dụng linh hoạt những phương pháp, hình thức tổ
chức dạy học phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả dạy học.
Xuất phát từ những lí do trên tôi đã chọn đề tài: Biện pháp chỉ đạo giáo
viên nâng cao chất lượng dạy học giải toán có lời văn cho học sinh lớp 1.
2. Mục đích nghiên cứu.
Nâng cao nghiệp vụ sư phạm cho bản thân;đồng nghiệp cũng như nghiệp
vụ Quản lý giáo dục trong nhà trường.
Đề ra một số biện pháp chỉ đạo giáo viên áp dụng vào giảng dạy giải bài
toán có lời văn lớp Một, tạo hứng thú trong giờ học toán, nâng cao chất lượng
giảng dạy.Góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Toán nói chung và dạy
học giải toán có lời văn cho học sinh lớp 1 nói riêng.
3. Đối tượng nghiên cứu:
Giáo viên và học sinh khối 1 của nhà trường
Chương trình Toán 1 thuộc mạch kiến thức "Giải toán có lời văn"

vẫn còn đơn giản, chưa bền vững dễ thay đổi. Đặc biệt ở lứa tuổi này tư duy của
trẻ phát triển từ trực quan cụ thể đến trừu tượng hoá nên các em thường quan
tâm chú ý đến các môn học, giờ học có đồ dùng trực quan sinh động, nhiều tranh
ảnh với nhiều màu sắc hấp dẫn. Các em rất ham chơi, thích làm việc theo ý
mình, nhưng thích bắt chước người khác đặc biệt là giáo viên, các em coi thầy
cô giáo là thần tượng thích làm theo thầy cô giáo. Như vậy trong quá trình giảng
dạy chúng ta cần giúp học sinh phát triển tư duy và trí tưởng tượng bằng cách
biến các kiến thức khô khan thành những hình ảnh có cảm xúc, bằng những câu
hỏi mang tính gợi mở gần gũi với các em, thu hút các em tích cực hoạt động
trong giờ học tiếp thu bài tốt giúp các em phát triển toàn diện. Đây cũng là điều
mà đội ngũ giáo viên đặc biệt là đội ngũ quản lý chúng tôi luôn băn khoăn suy
nghĩ, tìm tòi, trau dồi học hỏi và sàng lọc lựa chọn những phương pháp, những
hình thức dạy học phù hợp, chỉ đạo giáo viên nhằm nâng cao chất lượng giảng
dạy.

4


II. THỰC TRẠNG DẠY VÀ HỌC MÔN TOÁN Ở KHỐI LỚP 1
TRƯỜNG TIỂU HỌC THỌ NGUYÊN- THỌ XUÂN
1.Tình hình đội ngũ giáo viên dạy lớp 1 trường Tiểu học Thọ Nguyên
Chức
Tuổi
Chủ
Danh hiệu thi
vụ
nghề nhiệm lớp
đua
Lê Thu Thuỷ
40

nhưng khi viết các em lại rất lúng túng, làm sai, một số em làm đúng nhưng khi
cô hỏi lại lại không biết để trả lời . Chứng tỏ các em chưa nắm được một cách
chắc chắn cách giải bài toán có lời văn. Giáo viên phải mất rất nhiều công sức
khi dạy đến phần này.
* Nguyên nhân từ phía giáo viên:
- Giáo viên chưa chuẩn bị tốt cho các em khi dạy những bài trước. Những bài
nhìn hình vẽ viết phép tính thích hợp, đối với những bài này hầu như học sinh
đều làm được nên giáo viên tỏ ra chủ quan, ít nhấn mạnh hoặc không chú ý lắm
mà chỉ tập trung vào dạy kĩ năng đặt tính, tính toán của học sinh mà quên mất
rằng đó là những bài toán làm bước đệm, bước khởi đầu của dạng toán có lời
văn sau này. Đối với giáo viên dạy lớp Một khi dạy dạng bài nhìn hình vẽ viết
phép tính thích hợp, cần cho học sinh quan sát tranh tập nêu bài toán và thường
xuyên rèn cho học sinh thói quen nhìn hình vẽ nêu bài toán. Có thể tập cho
những em học sinh giỏi tập nêu câu trả lời cứ như vậy trong một khoảng thời
gian chuẩn bị như thế thì đến lúc học đến phần bài toán có lời văn học sinh sẽ
không ngỡ ngàng và các em sẽ dễ dàng tiếp thu, hiểu và giải đúng .
*Nguyên nhân từ phía học sinh:
Do học sinh mới bắt đầu làm quen với dạng toán này lần đầu, tư duy của các
em còn mang tính trực quan là chủ yếu. Mặt khác ở giai đoạn này các em chưa
Họ và tên

Tuổi

Trình độ

5


đọc thông viết thạo, các em đọc còn đánh vần nên khi đọc xong bài toán rồi
nhưng các em không hiểu bài toán nói gì, thậm chí có những em đọc đi đọc lại

đúng cả 3
bước
SL
TL

2014- Một 52
32
61,5 43
82,7 45
86,5 33
63,5
2015
2015- Một 67
44
65,6 59
88,0 56
83,4 45
67,2
2016
* Nhận xét chung về kết quả kiểm tra tại khối 1 trường tiểu học Thọ NguyênThọ Xuân trong 2 năm học 2014-2015; 2015-2016 ( Qua bảng kết quả trên)
-Ưu điểm: Phần lớn học sinh biết làm bài toán có lời văn.Kết quả của bài toán
đúng. Học sinh ham học,có hứng thú học tập môn Toán nói chung và "Giải toán có
lời văn " nói riêng. Học sinh bước đầu biết vận dụng bài toán có lời văn vào thực
tế.
- Hạn chế: Trình bày bài làm còn chưa sạch đẹp. Một số học sinh chưa biết cách
đặt câu lời giải phù hợp.Một số ít học sinh không hiểu nội dung bài toán có lời
văn dẫn đến không làm được bài
Từ nhu cầu thực tế đặt ra tôi nhận thấy việc giúp giáo viên dạy lớp 1 nâng
cao chất lượng dạy học, môn toán nói chung và đặc biệt là nội dung dạy học
phần Giải toán có lời văn nói riêng là rất cần thiết.Qua ba năm chỉ đạo và thực

các số tự nhiên kết hợp nhận biết các yếu tố hình học, cần nắm bảng cộng, bảng
trừ, mà còn phải biết cách giải các bài toán có lời văn nhanh và chính xác.
Trong chương trình toán lớp Một,giai đoạn đầu của học sinh còn đang học
chữ nên chưa thể dạy ngay "Bài toán có lời văn".Mặc dù đến tận tuần 23,học
sinh mới được chính thức học cách giải " Bài toán có lời văn" song chúng ta đã
có ý ngầm chuẩn bị từ xa cho việc làm này ngay từ bài "Phép cộng trong phạm
vi 3 ( Luyện tập) ở tuần 7.
Bắt đầu từ tuần 7 cho đến các tuần 35 trong hầu hết các tiết dạy về phép
cộng, trừ trong phạm vi (không quá) 10 đều có các bài tập thuộc dạng "Nhìn
tranh nêu phép tính" ở đây học sinh được làm quen với việc:
- Xem tranh vẽ
- Nêu bài toán bằng lời.
- Nêu câu trả lời
- Điền phép tính thích hợp ( Với tình huống trong tranh)
Biện pháp 2: Giúp giáo viên làm cho học sinh lớp 1 ham thích học môn Toán
Chúng ta đều biết khi làm việc gì thì phải có hứng thú, có niềm đam mê
thì mới đạt kết quả khả quan. Căn cứ vào tình hình thực tế của lớp mình phụ
trách mà người giáo viên cần thể hiện cả 3 vai trò "thân thiện" đối với các em
như: “ Vừa là cô giáo, vừa là người mẹ hiền, vừa là người bạn thân của các em,
luôn gần gũi trò chuyện tâm sự với các em, giúp các em mạnh dạn và tự tin
trong học tập theo khẩu hiệu “Mỗi ngày đến trường là một ngày vui”, thực hiện
tốt cuộc vận động“Xây dựng trường học thân thiện - Học sinh tích cực học
tập”, kết hợp theo sát nắm vững hoàn cảnh và trình độ tiếp thu bài của từng em.
Từ việc sắp xếp vị trí chỗ ngồi cho các em theo hướng học sinh khá kèm học
sinh yếu phân: “Đôi bạn cùng tiến” để các em soát bài và tự kiểm tra chéo lẫn
nhau về việc học bài và chuẩn bị bài ở nhà. Đặc biệt trong mỗi tiết dạy người
giáo viên luôn chú ý đến việc cho các em nghỉ giải lao 5 phút giữa tiết và tổ
chức các trò chơi kết hợp vài động tác đơn giản, tạo không khí vui nhộn để giảm
sự căng thẳng mệt mỏi và gây hứng thú học tập cho các em. Song song với việc
đó giáo viên cần liên hệ với bậc phụ huynh để trao đổi cụ thể việc học tập của

thể đến trìu tượng hoá, “ Trăm nghe không bằng một thấy, trăm thấy không bằng
một sờ”. Đặc biệt là học sinh lớp Một các em rất thích được quan sát tranh các
đồ dùng minh hoạ cụ thể trong tiết dạy thì các em dễ tiếp thu bài, nhớ lâu mà
không nhàm chán tạo không khí lớp học thoải mái không mang tính áp đặt. Như
vậy người giáo viên phải luôn nghiên cứu bài đầu tư làm và sưu tầm đồ dùng
dạy học để phục vụ trong mỗi tiết dạy. Nhưng cũng đòi hỏi người giáo viên phải
có nghệ thuật làm và sử dụng đồ dùng dạy học và biết khai thác triệt để tác dụng
của đồ dùng và tiết dạy đạt hiệu quả cao.
Ví dụ 1: Dạy bài Phép trừ trong phạm vi 7
Bài tập 4: Viết phép tính thích hợp: (SGK Toán 1 - trang 69).
a)

8


Tranh minh hoạ (SGK)
Khi hướng dẫn các em quan tranh vẽ minh hoạ để tìm hiểu bài toán. Giáo viên
phải quan sát kĩ tranh vẽ, nhận ra dấu hiệu và hiểu ý đồ của tranh vẽ. Trong quá
trình đặt câu hỏi khai thác tranh - giáo viên phải kết hợp chỉ rõ ràng từng chi tiết
và dấu hiệu của tranh thì mới đạt hiệu quả cao thành công tiết dạy.
+ Có tất cả bao nhiêu quả cam? giáo viên phải vừa hỏi vừa kết hợp chỉ tất cả số
quả cam có trong tranh vẽ.
+ Bạn lấy đi mấy quả? giáo viên vừa hỏi kết hợp chỉ vào theo hướng mũi tên
và 2 quả trên tay bạn.
+ Còn lại mấy quả? Giáo viên vừa hỏi vừa kết hợp chỉ vào số cam còn lại.
Sau đó giáo viên cho một số em nhắc lại bài toán - cả lớp nhắc lại bài toán.
b)

Tranh minh hoạ (SGK)
+ Bạn có tất cả bao nhiêu bóng bay? giáo viên vừa hỏi vừa dùng thước chỉ vào

bảng, các em sẽ dễ dàng đếm được số gà cần tìm.
Hình ảnh 1 : Màn hình xuất hiện nội dung bài toán
t:
Bµi to¸ n: Nhµ An cã 5 con gµ, mÑmua thªm
4 con gµ. Hái nhµ An cã tÊt c¶ mÊy con gµ?

Hình ảnh 2: Màn hình xuất hiện thêm 5 con gà bên trái và 4 con gà bên phải

Hình ảnh 3 : Màn hình xuất hiện thêm phần tóm tắt của bài toán.
Bµi to¸ n: Nhµ An cã 5 con gµ, mÑmua thªm
4 con gµ. Hái nhµ An cã tÊt c¶ mÊy con gµ?
Tãm t¾
t:


:

5 con gµ

Thªm
: 4 con gµ
Cã tÊt c¶ : ... con gµ?

Hình ảnh 4: Màn hình xuất hiện thêm phần bài giải sau khi HS đã thực hiện
xong phép tính.

10


Giáo viên thể hiện trên màn hình cho học sinh đọc nội dung bài toán quan

đến,…để các em không nhầm lẫn khi viết phép tính)
Biện pháp 4: Giúp giáo viên nâng cao chất lượng dạy học giải toán có lời
văn cho học sinh lớp 1 thông qua cách dạy các dạng bài.
Trong nội dung môn Toán ở lớp Một, nội dung dạy "giải bài toán có lời
văn" là một dạng mới so với trước đây, dạng toán này các em được học ở tuần
23 trong học kì II. Khi dạy các em đặt lời giải trình bày bài toán còn vất vả hơn
dạy trẻ lựa chọn các phép tính và làm các phép tính ấy để tìm ra đáp số, bắt buộc
lời giải phải có quan hệ chặt chẽ lo gíc với phép tính thể hiện được điều cần tìm.
Đối với học sinh lớp Một đa số các em đọc rất chậm còn phải đánh vần nên khi
các em đọc bài toán không nhớ được nghĩa của cụm từ vừa đọc dẫn đến chưa
hiểu rõ ý đồ của bài toán nên không nhận biết những cái đã cho (dữ kiện) và cái
phải tìm (Câu hỏi) các em hay lầm tưởng lẫn lộn giữa cái đã cho và cái phải tìm
nên các em đặt lời giải chưa chính xác, viết phép tính cộng thành trừ, trừ thành
11


cộng dẫn đến kết quả sai và không biết trình bày bài toán. Do vậy giáo vên phải
nắm được cách dạy các dạng bài giải toán có lời văn.
a) Cách dạy các dạng bài giải toán có lời văn.
Dạng1: Các bài điền khuyết: Quan sát hình vẽ rồi viết phép tính thích hợp vào
ô trống.
Ví dụ: Dạy bài : Phép cộng trong phạm vi 4. Bài 4: SGK (trang 47 Toán 1)

Hình minh hoạ SGK
Sau khi quan sát tranh vẽ giáo viên hướng dẫn học sinh tập nêu bằng lời:
“ Có 3 con chim đậu trên cành cây, sau đó một con bay tới. Hỏi có tất cả mấy
con chim” , rồi tập cho các em nêu miệng câu trả lời: “Có tất cả 4 con chim”.
Như vậy các em đã được làm quen với bài toán ở dạng quan sát hình minh hoạ
rồi viết phép tính thích hợp vào ô trống. Dạng bài này là bước khởi đầu của dạng
bài toán có lời văn các em sẽ được học ở tuần 22 nên giáo viên cần hướng dẫn

a)

: 5 quả
b) Có
: 7 viên bi
Thêm
: 3 quả
Bớt
: 3 viên bi
12


Có tất cả
5

+

: … quả
3

=

Còn
7

8

: … viên bi
-


Bài toán 2: Có … con thỏ , có thêm … con thỏ đang chạy tới. Hỏi có tất cả
bao nhiêu con thỏ ?

Hình minh họa SGK
13


* Bài toán còn thiếu cả số cả câu hỏi ( cái đã cho và cái cần tìm)
Bài toán 3: Có … con chim đậu trên cành, có thêm….con chim bay đến.
Hỏi ………………………………………………….?

Hình minh họa SGK
* Bài toán còn thiếu câu hỏi ( cái cần tìm)
Bài 4 Viết tiếp câu hỏi để có bài toán.
Bài toán 4 : Có 1 gà mẹ và có 7 gà con.
Hỏi ………………………………………………….?

Hình minh họa SGK
* Bài toán còn thiếu cả số cả câu hỏi ( cái đã cho và cái cần tìm)
- Dạy dạng toán này giáo viên phải xác định làm thế nào giúp các em điền đủ
được các dữ kiện (cái đã cho và cái cần tìm) còn thiếu của bài toán và bước đầu
các em hiểu được bài toán có lời văn là phải đủ các dữ kiện; đâu là cái đã cho và
đâu là cái cần tìm.
Để đạt được yêu cầu này trước hết GV nêu yêu cầu bài toán, cho vài ba học
sinh nhắc lại yêu cầu bài toán. Sau đó giáo viên hướng dẫn các em quan sát hình
vẽ minh hoạ (SGK)
Bước 1: GV đặt câu hỏi - HS trả lời và điền số còn thiếu vào chỗ chấm để có
bài toán. Giáo viên kết hợp dùng phấn màu ghi số còn thiếu vào bài toán mẫu
trên bảng lớp.
+ Có mấy bạn mấy bạn ở bên trái ? (HS trả lời, nhận xét).

+ Bài toán còn cho biết gì nữa? (Mẹ mua thêm 4 con gà)
+ Bài toán yêu cầu tìm gì? (Nhà An có tất cả mấy con gà)
(Học sinh trả lời giáo viên dùng phấn màu gạch chân dữ kiện bài toán)
- Sau khi đã tìm được dữ kiện bài toán giáo viên có thể hướng dẫn các em viết
câu lời giải theo 5 cách sau:
Cách 1: Đưa từ “con gà” ở cuối câu hỏi lên đầu thay thế cho từ “Hỏi” và thêm
từ Số (ở đầu câu), là ở cuối câu để có “ Số con gà nhà An có tất cả là:”
Cách 2: Dựa vào dòng cuối cùng của câu tóm tắt coi đó là “từ khoá” của câu lời
giải rồi thêm thắt chút ít. Ví dụ: Từ dòng cuối của tóm tắt “Có tất cả…con gà?”.
Học sinh viết câu lời giải: “Nhà An có tất cả:”.
Cách 3: Dựa vào câu hỏi của bài toán rồi bỏ bớt từ đầu (Hỏi)và cuối (mấy con
gà?) để có câu lời giải: “Nhà An có tất cả:” hoặc thêm từ là để có câu lời giải: “
Nhà An có tất cả là:”
15


Cách 4: Giáo viên nêu miệng câu hỏi: “Hỏi nhà An có tất cả mấy con gà?” để
học sinh trả lời miệng: “Nhà An có tất cả 9 con gà” rồi chèn phép tính vào để có
cả bước giải (gồm câu lời giải và phép tính):
Nhà An có tất cả là:
5 + 4 = 9 (con gà)
Cách 5: Sau khi học sinh tính xong: 5 +4 = 9 (con gà). Giáo viên chỉ vào 9 rồi
hỏi: “ 9 con gà ở đây là của nhà ai? ” (là số gà nhà An có tất cả). Từ câu trả lời
của học sinh ta giúp các em chỉnh sửa thành câu lời giải: “Số gà nhà An có tất cả
là”
Qua ví dụ trên ta thấy có nhiều cách hướng dẫn giúp các em viết câu lời giải,
tuỳ vào trình độ tiếp thu bài của học sinh giáo viên lựa chọn cách hướng dẫn phù
hợp nhất không nên bắt buộc nhất thiết phải theo một kiểu. Sau khi học sinh đã
nêu được câu lời giải tiếp tục hướng dẫn các em viết phép tính như sau:
- Giáo viên nêu tiếp: “Muốn biết nhà An có tất cả mấy con gà ta làm tính gì?

16


- Hướng dẫn HS tóm tắt bài toán. Có 2 cách tóm tắt sau:
* Cách 1 (Tóm tắt bằng lời văn)
Lớp 1A : 35 cây
Lớp 2A : 50 cây
Cả hai lớp ….cây ?
* Cách 2 (Tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng)
35 cây
Lớp 1A
Lớp 2A:
50 cây
Hoặc
35 cây

? cây
50 cây

? cây
Sau khi các em đã tóm tắt xong, giáo viên đặt câu hỏi gợi ý để các em đặt lời
giải và giải theo hướng sau:
Bài giải
Cả hai lớp trồng:
35 + 50 = 85 ( cây)
Đáp số : 85 cây
Hoặc gợi ý để các em có thể đặt lời giải nhiều kiểu như sau:
- Hai lớp trồng được số cây là :
35 + 50 = 85 ( cây)
- Hai lớp trồng được tất cả số cây là:


Tóm tắt bài toán

Dùng sơ đồ

Dùng lời văn

Căn cứ vào tóm tắt suy luận tìm cách giải bài toán
*Lưu ý các từ quan trọng trong bài toán để giải bài toán chính xác:
+ Dạng bài làm phép tính cộng: mua thêm, lấy thêm, hái thêm, cả hai, tất cả,
dài hơn, nhiều hơn, cao hơn,…
+ Dạng bài toán làm phép trừ: cho đi, bớt đi, đã ăn, đã dùng, dùng hết, ăn hết,
biếu, tặng, cắt đi, ngắn hơn, ít hơn, thấp hơn,…
Tóm lại: Tuỳ từng dạng bài mà giáo viên nghiên cứu để lựa chọn cách thiết
kế bài giảng sao cho phù hợp với đối tượng học sinh của lớp mình để giúp các
em hiểu được đề bài toán và biết cách giải bài toán dẫn đến kết quả chính xác.
Tùy theo từng loại bài mà giáo viên sẽ củng cố cho các em những kiến thức đã
học một cách có hệ thống khoa học và logic. Từ đó các em sẽ nắm vững các
kiến thức hơn và biết áp dụng làm các bài tập thực hành một cách thành thạo kết
quả chính xác góp phần nâng cao hiệu quả tiết dạy. Do đặc điểm học sinh tiểu
học đặc biệt là học sinh lớp 1 các em còn “ Học mà chơi, chơi mà học” là chủ
yếu nên trong các bài dạy môn Toán cuối giờ học giáo viên cần tổ chức cho các
em chơi trò chơi để nhằm củng cố nội dung bài học:
Ví dụ: Khi dạy tiết : Luyện tập ( Tiết 107). Giáo viên cần tổ chức cho các em
chơi trò chơi có tên gọi: "Tìm đội vô địch" với mục đích củng cố nội dung bài
học giải toán có lời văn. Thời gian chơi 5 phút.
Cách chơi: - Giáo viên chọn 2 tổ, mỗi tổ cử ra 3 học sinh lên tham gia chơi, học
sinh còn lại là cổ động viên.
- Giáo viên viết sẵn tóm tắt lên tờ giấy kẻ ô li 3 bài toán có lời văn, phô tô làm 2
bản cho 2 đội, đặt úp xuống theo hàng ngang ( để học sinh không nhìn thấy được

Kết quả làm bài kiểm tra
Sĩ số
Năm
Học sinh
Học sinh
Học sinh
học sinh
Khối học
học
viết đúng
viết đúng
viết đúng giải đúng cả
lớp sinh câu lời giải
phép tính
đáp số
3 bước
SL
TL
SL
TL
SL
TL
SL
TL
2014- Một 52
48
92,3 49
94,2 49
94,2 49
94,2

50
100
0
0
2015-2016
67
67
100
0
0
Bảng 3* Chất lượng học tập môn toán thời điểm Cuối học kỳ I năm học
2016- 2017(Thực hiện đánh giá học sinh tiểu học theo thông tư 22 –BGD & ĐT)
Hoàn thành tốt
Hoàn thành
Chưa hoàn thành
Năm
số học
học
sinh
SL
Tỉ lệ %
SL
Tỉ lệ %
SL
Tỉ lệ %
19


2016-2017


lượng môn toán nói chung và nội dung Giải toán có lời văn cho học sinh lớp
Một nói riêng. Bản thân tôi nhận thấy việc đổi mới phương pháp dạy học và đưa
hình thức dạy học tích cực vào dạy học toán ở Tiểu học nói chung và dạy học
toán lớp 1 nói riêng là rất cần thiết.Bởi vì việc đổi mới phương pháp và sử dụng
hợp lý các hình thức dạy học không chỉ giúp học sinh nắm được, củng cố được
nội dung kiến thức toán một cách nhẹ nhàng mà còn giúp học sinh phát triển
năng lực, tư duy, phát triển trí tưởng tượng, khả năng diễn đạt mạch lạc và nhất
là tạo hứng thú học tập, tạo niềm vui, lòng say mê học tập. Từ đó rèn luyện đức
tính chăm chỉ, tự tin, năng động, sáng tạo góp phần rèn luyện cho học sinh có
những đức tính, phẩm chất và phong cách làm việc của người lao động mới..
Mặc dù đã rất cố gắng nhưng thời gian nghiên cứu chưa nhiều, kinh
nghiệm và trình độ của bản thân còn hạn chế nên trong phạm vi nghiên cứu này
tôi mới chỉ tìm tòi và chỉ đạo giáo viên lớp 1 áp dụng một số biện pháp nhằm
góp phần đổi mới phương pháp, nâng cao hiệu quả dạy học dựa trên đặc điểm
tâm lý lứa tuổi của học sinh lớp 1, dựa vào nội dung chương trình cũng như điều
kiện thực tế ở địa phương tôi công tác. Song đây đã là việc làm thiết thực, giúp
đồng nghiệp nâng cao nghiệp vụ sư phạm cho bản thân, tham gia công tác tốt
hơn và giúp tôi có một số kinh nghiệm trong việc chỉ đạo đổi mới phương pháp
dạy học ở lớp 1 nói riêng và chương trình Tiểu học nói chung.
II. KIẾN NGHỊ:
Nâng cao chất lượng dạy học thông qua việc đổi mới phương pháp, hình
thức tổ chức dạy học là một trong các giải pháp quan trọng nhằm nâng cao chất
lượng giáo dục.Từ việc làm cụ thể đã giúp giáo viên áp dụng các biện pháp nâng
cao chất lượng dạy học toán nói chung và nội dung "Giải toán cho học sinh lớp
20


1 nói riêng" cho đến nay đã mang lại hiệu quả thiết thực. Qua đó bản thân tôi xin
có một số ý kiến đề xuất như sau:
a . Đối với giáo viên:

Tôi xin cam đoan trên đây là SKKN của
Xác nhận của nhà trường
mình viết, không sao chép của người khác.
PHT
Người viết:

Lê Năng Huy

Vũ Thị Lài

21


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.Sách giáo khoa Toán 1.
2.Sách giáo viên Toán 1
3. Bài tập trắc nghiệm và tự luận Toán 1( Tập 1,Tập 2) - NXB Đại học sư phạm.
4.Vở bài tập Toán 1( Tập 1,Tập 2)
5.Các phương pháp dạy Toán Tiểu học.
6. Thông tư số 22/2016/TT-BGDĐT ngày 22/9/2016.

22




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status