SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GD&ĐT THỌ XUÂN
–––––––––––––––––––––
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 4
RÈN KĨ NĂNG THỰC HIỆN PHÉP CHIA CHO SỐ
CÓ HAI CHỮ SỐ
Người thực hiện: Đỗ Thị Xuân
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị: Trường Tiểu học TT Lam Sơn-Thọ Xuân
SKKN thuộc lĩnh vực môn: Toán
1
THANH HÓA NĂM 2017
MỤC LỤC
1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài.
1.2. Mục đích nghiên cứu.
1.3. Đối tượng nghiên cứu.
1.4. Phương pháp nghiên cứu.
2. NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu.
2.2. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu.
2.3. Các giải pháp thực hiện.
Giải pháp 1: Giúp học sinh thành thạo nhân chia trong bảng
và nhân chia với (cho) số có một chữ số.
1. MỞ ĐẦU
1.1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
Trong các môn học ở Tiểu học, môn toán có vị trí rất quan trọng trong
việc góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục của bậc Tiểu học. Toán học là môn
khoa học nghiên cứu một số mặt của thế giới thực với một hệ thống kiến thức và
phương pháp nhận thức cơ bản, rất cần thiết cho đời sống, sinh hoạt và lao động.
2
Đồng thời nó còn là những công cụ, những phương tiện rất cần thiết để học
những môn khác và nhận thức thế giới xung quanh.
Mặt khác, môn toán có vai trò to lớn trong việc giáo dục nhiều mặt cho
học sinh như rèn luyện các phương pháp suy luận, giải quyết vấn đề và góp phần
phát triển trí thông minh, cách suy nghĩ độc lập, sáng tạo, rèn tính cẩn thận cho
mỗi học sinh. Đó là phẩm chất cần thiết cho mỗi con người lao động. Môn toán
là một trong các môn học được đông đảo học sinh yêu thích.
Trong môn toán ở Tiểu học, giai đoạn các lớp 4, 5 là giai đoạn hai của quá
trình học tập, có thể coi là giai đoạn học tập sâu so với giai đoạn trước. Ở các
lớp 1,2,3 học sinh chủ yếu chỉ nhận biết các khái niệm ban đầu, đơn giản qua
các ví dụ cụ thể với sự hỗ trợ của các vật thực hoặc mô hình, tranh ảnh, ... do đó
chủ yếu nhận biết “ cái toàn thể ”, “ cái riêng lẻ ”, chưa làm rõ các mối quan hệ,
các tính chất của sự vật, hiện tượng. Giai đoạn các lớp 4, 5 học sinh vẫn học tập
các kiến thức và kĩ năng cơ bản của môn Toán nhưng ở mức độ sâu hơn, khái
quát hơn, tường minh hơn. Học sinh có thể nhận biết và vận dụng một số tính
chất của số, của phép tính, hình học ở dạng khái quát hơn. Chính vì lẽ đó nên
khi lên lớp 4 nhiều học sinh gặp khó khăn trong quá trình tiếp thu bài. Trong
toàn bộ học kì I của Toán 4 dành thời gian cho việc hoàn thiện về dãy số tự
nhiên ( về các phép tính, dấu hiệu chia hết…), cơ bản học sinh tiếp cận được với
các phép tính cộng, trừ, nhân- riêng phần phép chia nhiều học sinh vẫn còn lúng
2. NỘI DUNG
2.1. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU.
Như chúng ta đã biết tư duy của học sinh Tiểu học đang trong quá trình
hình thành phát triển và còn ở trong giai đoạn “ tư duy cụ thể ” do đó việc nhận
thức các kiến thức toán học trừu tượng là vấn đề khó đối với học sinh. Chính vì
4
vậy chúng ta cần nhận thức rõ bản chất của các đối tượng để từ đó đặt ra các
phương pháp truyền đạt nhẹ nhàng dễ hiểu đối với học sinh.
Qua nghiên cứu chương trình tôi nhận thấy rằng học các kiến thức số học
chiếm thời gian khá dài, chúng được phân bố ở các lớp với mức độ khác nhau.
Việc dạy cho học sinh thực hiện tốt các phép tính cộng, trừ, nhân, chia với số tự
nhiên là hết sức cần thiết. Vì các em có làm tốt các phép tính cộng, trừ, nhân,
chia thì việc tính toán, giải toán trong luyện tập thực hành và học các nội dung
khác mới mang lại hiệu quả thiết thực. Một điều mà trong chúng ta ai cũng nhận
thấy đặc điểm tâm lý, sự phát triển tâm lý ở độ tuổi Tiểu học ảnh hưởng không
nhỏ đến quá trình nhận thức, chiếm lĩnh tri thức khi học môn Toán của học sinh
Tiểu học. Do trí nhớ của các em chưa bền vững nên khi nêu ra mọi khái niệm,
mọi định nghĩa, mọi phương pháp giải toán...có những em giải rất nhanh, chính
xác song nếu chuyển sang chương mới, dạng toán mới là các em gặp khó khăn.
Có chăng là những em có trí nhớ tốt hoặc có điều kiện tốt để kiểm tra lại. Bên
cạnh đó đặc điểm chú ý của học sinh Tiểu học cũng không bền vững. Khi học
bài dưới sự dẫn dắt của thầy cô giáo các em rất chú ý nghe giảng song do tính
hiếu động ham chơi, tìm hiểu cái mới, cái lạ lại quên ngay nội dung bài học.
Hình thành kĩ năng là hình thành cho học sinh nắm vững một hệ thống
các thao tác để có khả năng giải quyết bài toán, tổ chức cho học sinh vận dụng
giải quyết các bài tập cùng loại. Trong các phép tính với số tự nhiên, ta có thể
tìm ra kết quả của phép chia tuỳ ý dựa vào các phép chia trong bảng và một cách
a. 4657 + 3444 : 28
b. 601759 – 1988 : 14
Bài 3: Người ta xếp đều 2400 bộ bàn ghế vào 15 phòng học. Hỏi 2 phòng học
như thế xếp được bao nhiêu bộ bàn ghế?
Sau đây là kết quả khảo sát.
Tổng số
HS
Bài
Làm đúng
Làm sai
Số lượng
Tỉ lệ %
Số lượng
Tỉ lệ %
Bài 1
20
71,4
8
28,6
28
Bài 2
21
75
7
25
Bài 3
Để có cơ sở học sinh thực hiện tốt phép chia cho số có hai chữ số thì học
sinh phải thành thạo phép chia cho số có một chữ số.
Trong những tháng học đầu tiên, vào những buổi sinh hoạt 15 phút đầu
giờ, tôi đã chú ý tới việc ôn tập để các em nắm vững lại các kiến thức cơ bản của
lớp 3 và nắm chắc lại nhân chia trong bảng, nhân chia với số có một chữ số, vì
trong thời gian nghỉ hè các em không được ôn tập lại nên đã quên rất nhiều.
Tôi đã tiến hành ôn tập dưới nhiều hình thức như tổ chức các trò chơi đơn giản:
“Truyền điện”, “ Nhận quà”, “ Ai nhanh , Ai đúng”…
VD1: Trò chơi: Truyền điện “ Ôn lại các bản nhân, chia đã học”.
* Cách chơi:
7
Một học sinh là quản trò đóng vai là nguồn điện, bạn đó được nêu một phép tính
trong các bảng nhân hoặc bảng chia từ 2 đến 9 truyền đến một bạn khác, ngay
lập tức bạn ấy phải nêu được kết quả của phép tính đó. Nếu đúng bạn ấy được
quyền đố bạn tiếp theo, nếu sai bị phạm luật, quyền nêu phép tính quay về bạn
quản trò. Trò chơi cứ tiếp tục như thế truyền đến hết lượt các bạn học sinh trong
lớp( vì đây là trò chơi tự ôn tập kiến thức nên không giới hạn về thời gian) .
Ví dụ: Bạn A: Tớ đố bạn 12 : 6 bằng mấy?
Bạn B: Thưa bạn:
12 : 6 = 2 ;
Tớ đố bạn 48 : 8 bằng mấy?
Bạn C: ...
VD2: Trò chơi: Nhận quà
*. Cách chơi:
8
Ví dụ: Bạn nhóm trưởng quay vào số 5, các bạn trong nhóm cùng thực hiện
phép tính: 1440 : 5 = ? vào vở nháp, sau đó báo cáo kết quả. Các bạn trong
nhóm cùng kiểm tra xem ai nhanh, ai đúng?
Với cách làm như trên, sau nhiều lần như vậy tôi thấy các em nắm bài rất
tốt và qua đó giúp các em thuộc được bảng cửu chương, hiểu được mối quan hệ
giữa phép nhân và phép chia, nắm chắc nhân chia trong bảng và nhân chia với
số có một chữ số. Ngoài ra còn còn tạo cho các em sự thoải mái, phấn khởi, tự
tin trong khi học.
Trong quá trình ôn luyện, thực hành vào buổi học thứ hai của ngày tôi
không quên củng cố lại cho các em về các bảng nhân và bảng chia đã học để
giúp các em vận dụng thành thạo thực hành tính toán.
Ngoài ra khi dạy các giờ học toán về chia cho số có hai chữ số tôi thường
tổ chức cho học sinh khởi động bằng trò chơi: Ai nhanh, ai đúng? hoặc trò chơi:
Ghép thẻ ( ghép phép tính với kết quả đúng).
Giải pháp 2: Hướng dẫn học sinh biết cách ước lượng thương và nắm chắc
kĩ thuật chia.
Để các em nắm được cách chia và có kĩ năng chia ngay trong tiết dạy đầu
tiên về chia cho số có hai chữ số và các bài luyện tập tôi đã chú ý đến việc gợi
mở để các em nắm được cách chia , cách ước lượng thương.
Ví dụ: Bài 47: Chia cho số có hai chữ số ( trang 57- tài liệu hướng dẫn
học toán 4, tập 1B )
Sau khi học sinh chơi trò chơi “ Ai nhanh, ai đúng” trong nhóm ở hoạt động 1.
(Một học sinh viết một phép tính chia, chẳng hạn: 3200 : 400 = ?, đố bạn nhẩm
nhanh, nêu kết quả và giải thích cách làm. Các bạn khác trong nhóm làm trọng
tài.Đặt
Học
357 : 17 = 21
1 nhân 1 bằng 1, viết 1;
* 17 trừ 17 bằng 0, viết 0.
9
- Trước tiên học sinh làm việc trong nhóm: Đọc và thực hiện theo từng bước
(như trong khung của tài liệu ). Các em có thể chỉ nắm được sơ bộ việc thực
hiện phép chia cho số có hai chữ số theo hai bước: Đặt tính, tính, còn việc ước
lượng thương thì rất mơ màng.
- Sau đó giáo viên chốt lại cách thực hiện:
Để học sinh nắm được cách chia, tôi hướng dẫn học sinh đặt tính và thực
hiện tính, chia theo thứ tự từ trái sang phải: Số chia là số có hai chữ số ( khác
với chia cho số có một chữ số ).Ở lần chia đầu tiên số bị chia phải bắt hai chữ
số, nếu hai chữ số vẫn bé hơn số chia thì ta phải bắt lên ba chữ số để chia…Khi
đã ước lượng được chữ số ở thương khi nhân lên trừ để tìm số dư cần chú ý bắt
dưới số nào chia thì nhân lên đặt tích ngay dưới số đó để trừ tìm số dư (số dư
phải bé hơn số chia).
Đối với bài này để ước lượng thương của phép chia được nhanh trong mỗi
lần chia ta lấy số hàng chục chia cho hàng chục. Cụ thể hướng dẫn học sinh chia
như sau :
357
17
34
21
ta phải ước lượng giảm dần thương xuống còn 5, 4, 3 rồi tiến hành nhân trừ
nhẩm và tìm ra 3 nhân 19 bằng 57. Vậy 64 trừ 57 bằng 7. Vậy thương bằng 3 là
thích hợp. Để tránh phải thử nhiều lần, chúng ta có thể làm tròn các số trong
phép chia 64 chia cho 19 như sau:
64 làm tròn đến số tròn chục gần nhất là 60.
19 làm tròn đến số tròn chục gần nhất là 20.
Sau đó ước lượng thương: Lấy 6 chia 2 bằng 3, ta tìm được thương là 3,
nhân lên rồi trừ đi để tìm số dư ở lần chia đó. (với cách ước lượng này sẽ nhanh
hơn)
Vì vậy ở bài tập: 357 : 17 = ? vừa hướng dẫn học sinh ở trên ta có thể
hướng dẫn học sinh một cách ước lượng thương khác. Cụ thể là:
*. Ở lần chia đầu tiên bắt 35 chia cho 17. Ta có thể làm tròn số trong phép chia
35 chia 17 như sau:
35 làm tròn đến số tròn chục là 40.
17 làm tròn đến số tròn chục gần nhất là 20.
Sau đó ước lượng thương: Lấy 4 chia 2 bằng 2, tìm được thương là 2; 2
nhân 17 bằng 34; 35 trừ 34 bằng 1, viết 1 .
*. Hạ 7, được 17; 17 chia 17 ước lượng thương (lấy 1 : 1 = 1), vậy 17 chia 17
được 1, viết 1; 1 nhân 17 bằng 17; 17 trừ 17 bằng 0. Vậy 357 : 17 = 21
11
Qua bài tập này tôi lưu ý học sinh cách ước lượng thương bằng cách
làm tròn số bị chia và số chia, khi ước lượng được thương phù hợp rồi thì
nhân lên rồi trừ đi để tìm số dư ở lần chia đó (số dư phải bé hơn số chia).
Nhưng để học sinh phát hiện phép tính nào thì làm tròn số bị chia và số
chia để ước lượng thương và phép tính nào thì không làm tròn mà lấy số chục
của số bị chia, chia cho số chục của số chia luôn để ước lượng thương, học sinh
sẽ quan sát phép tính để linh động thực hiện nếu ước lượng thương phải thử
chọn nhiều lần thì chọn cách làm tròn số bị chia và số chia để ước lượng.
672 : 21
779 : 18
- Học sinh sẽ thực hiện nhẩm như sau: (chia theo thứ tự từ trái sang phải)
672
21
63
32
*. Ở lần chia đầu tiên bắt 67 chia cho 21. Nhẩm 6 chia 2
được 3. Vậy 67 chia cho 21 được 3 viết 3; 3 nhân 21 bằng 63,
42
67 trừ 63 bằng 4 viết 4.
42
* Hạ 2 được 42; 42 chia 21 ước lượng thương lấy 4 chia 2
0
được 2. Vậy 42 chia 21 được 2 viết 2; 2 nhân 21 bằng 42,
42 trừ 42 bằng 0. Vậy 672 chia 21 bằng 32
- Đối với phép chia: 779 : 18 , học sinh sẽ làm tròn số bị chia và số chia để ước
Khi hướng dẫn các em nắm được cách chia cần hướng dẫn chậm hơn, chia
thành nhiều bước nhỏ, dẫn dắt từ từ, rõ ràng ở trong từng lần chia. Bởi vì khi
thực hiện phép chia cho số có hai chữ số các em còn gặp khó khăn trong thao tác
nhân và trừ nhẩm. Nên trong những tiết đầu tôi hướng dẫn học sinh thực hiện
chia và viết đầy đủ để giảm bớt thao tác nhẩm, sau đó dần dần mới cho học sinh
nhân và trừ nhẩm (tuy nhiên với học sinh hoàn thành tốt tôi vẫn khuyến khích
các em trừ nhẩm).
Ví dụ: hướng dẫn thực hiện phép chia 289 : 24
13
289
24
49
12
1
* 28 chia cho 24 được 1 viết 1.
1 nhân 4 bằng 4; 8 trừ 4 bằng 4, viết 4
1 nhân 2 bằng 2; 2 trừ 2 bằng 0.
* Hạ 9.
49 chia cho 24 (4 chia cho 2 được 2).
49 chia cho 24 được 2.
2 nhân 4 bằng 8; 9 trừ 8 bằng 1, viết 1
2 nhân 2 bằng 4; 4 trừ 4 bằng 0
Vậy 289 : 24 = 12 (dư 1)
Vậy 289 : 24 = 12 (dư 1)
* Sau khi hướng dẫn thực hiện các phép chia trên tôi hướng dẫn học sinh rút ra
các bước chia để các em ghi nhớ:
Bước 1: Đặt tính.
Bước 2: Ước lượng thương (Lấy số chục của số bị chia chia cho số chục
của số chia).
14
Bước 3: Lấy thương vừa tìm được nhân ngược để tìm số dư trong mỗi lần
chia và tiếp tục chia tiếp ( nếu có thể ).
Giải pháp 3: Thường xuyên ôn tập luyện tập cho học sinh.
Căn cứ vào cấu trúc chương trình của chương trình Toán 4; Các em học
hết các phép tính cộng, trừ, nhân, chia với số tự nhiên sau đó chuyển sang dấu
hiệu chia hết, chuyển sang phần phân số…ít có thời gian để các em ôn luyện lại.
Chính vì vậy, trong các buổi học thứ hai của ngày tôi thường xuyên lồng ra đề
có bài tính chia để các em được ôn luyện lại giúp các em nắm chắc cách chia
hơn, tạo đà để các em tiếp thu tốt kiến thức phần phân số và làm tốt việc chia
với số thập phân ở lớp 5…
Khi giảng dạy cần theo dõi chú ý đối tượng học sinh tiếp thu bài còn hạn
chế, kiểm tra kịp thời sự tiếp thu bài giảng, hiểu các thuật ngữ, cách suy luận.
Phần hướng dẫn bài tập cần làm cụ thể hơn đối với học sinh này. Mọi nhiệm vụ
được giao cần được kiểm tra cụ thể, các sai lầm mắc phải cần được phân tích và
sửa chữa, nếu cần (làm việc riêng với học sinh). Khuyến khích động viên đúng
lúc khi các em có tiến bộ hay đạt được một số kết quả ( dù kết quả đó là khiêm
tốn ), đồng thời phân tích, phê bình đúng lúc thái độ lơ là trong nhiệm vụ học
tập. Nhưng tránh thái độ lời nói chạm tới lòng tự ái hoặc mặc cảm của học sinh.
Giải pháp 4: Khuyến khích học sinh hoàn thành tốt hỗ trợ, giúp đỡ học sinh
tiếp thu bài còn non và chậm hơn.
b. 4416 : 16
c. 8976 : 24
Bài 2: Tìm x
a. 14 × x = 3967
b. x × 21 = 5502
Bài 3: Có 5 thùng sách, mỗi thùng đựng 306 quyển sách. Số sách đó chia đều
cho 15 thư viện trường học. Hỏi mỗi thư viện được chia bao nhiêu quyển sách?
Kết quả như sau:
Tổng số
HS
28
Bài
Bài 1
Bài 2
Bài 3
Làm đúng
Làm sai
Số lượng
Tỉ lệ %
Số lượng
28
chia số có một chữ số.
- Cần hướng dẫn các em biết cách ước lượng thương. Hướng dẫn gợi mở ở từng
bước chia một cách từ từ rõ ràng.
- Là người kiên trì sửa chữa cho học sinh, không nóng vội.
- Thường xuyên chấm chữa bài để khắc phục điểm yếu cho học sinh.
- Ân cần, nhẹ nhàng chỉ bảo, không làm tổn thương đến nhân cách học sinh. Rèn
luyện cho học sinh thường xuyên, tránh gián đoạn trong mạch kiến thức của các
em.
- Phải có lòng yêu nghề, mến trẻ, để dẫn dắt các em lĩnh hội kiến thức.
2. Nắm được đặc điểm tâm lý của học sinh Tiểu học : Tư duy cụ thể chiếm ưu
thế, các em thích tò mò, ham hiểu biết, từ đó lựa chọn những nội dung, phương
pháp phù hợp, khơi dậy tính tò mò ham hiểu biết của học sinh cũng như tạo
hứng thú cho các em học tập.
3. Nắm vững nội dung chương trình, bản chất của vấn đề mình truyền tải đến
học sinh, huy động được những hiểu biết, tri thức vốn có của học sinh để học
sinh có thể tự mình chiếm lĩnh được kiến thức của bài dạy một cách độc lập,
sáng tạo, lấy học sinh làm nhân vật trung tâm của giờ dạy.
4. Cần lựa chọn bài tập phù hợp với đối tượng học sinh của lớp. Đối với học
sinh tiếp thu bài còn hạn chế cần có sự giúp đỡ riêng để đạt yêu cầu. Đối với học
17
sinh hoàn thành tốt cần phải rèn luyện kỹ năng làm tính nhanh hơn, có cách làm
ngắn gọn nhất, đồng thời để các em bộc lộ hết năng lực của mình.
5. Giáo viên cần tổ chức giờ học sao cho mọi học sinh đều được hoạt động một
cách tích cực để đạt hiệu quả cao nhất.
6. Việc dạy học môn Toán nhằm đảm bảo tính khoa học, tính chính xác, tính Sư
phạm, người giáo viên cần phát huy tính chủ động, sáng tạo, tư duy lôgíc của
học sinh và không ngừng nâng cao trình độ về toán học và phương pháp dạy
học qua nghiên cứu dạy học, học tập các tài liệu có liên quan đến chương trình,
Người viết SKKN
Lê Thị Hưng
Đỗ Thị Xuân
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Tài liệu hướng dẫn giáo viên môn toán lớp 4
19
Chịu trách nhiệm xuất bản: Chủ tịch Hội đồng MẠC VĂN THIỆN
Tổng giám đốc GS.TS. VŨ VĂN HÙNG
Phó tổng GĐ, Tổng biên tập TS. PHAN XUÂN THÀNH
Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam – năm 2016
2. Tài liệu hướng dẫn học toán 4 (tập 1B)
Chịu trách nhiệm xuất bản:
Chủ tịch Hội đồng kiêm Tổng GĐ: NGÔ TRẦN ÁI
Tổng biên tập kiêm phó Tổng GĐ: VŨ VĂN HÙNG
Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam – năm 2016
3. Toán 4
Chủ biên : ĐỖ ĐÌNH HOAN
Nhà xuất bản giáo dục – năm 2007
4. Toán 4 (SGV)
Chủ biên : ĐỖ ĐÌNH HOAN
Nhà xuất bản giáo dục – năm 2005
DANH MỤC
20
(A, B,
Tỉnh...)
hoặc C)
Phòng GD
Năm học
Loại C
Thọ Xuân
2004-2005
Phòng GD
Thọ Xuân
Loại C
Năm học
2006-2007
Phòng GD
Thọ Xuân
Loại B
Năm học
2014-2015
Sở GD&ĐT
Loại B
Thanh hóa
Năm học
2014-2015