SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
PHÒNG GD&ĐT THỌ XUÂN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
TÊN ĐỀ TÀI
MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 3
RÈN KĨ NĂNG TÍNH GIÁ TRỊ BIỂU THỨC.
MỤC LỤC
Người thực hiện: Lê Thị Khuyên
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Xuân Phú- Thọ
Xuân
SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Toán
THANH HOÁ NĂM 2018
1
MỤC LỤC
STT
NỘI DUNG
Trang
1
MỞ ĐẦU
2
2.1
Cơ sở lí luận.
2
2.2
Thực trạng vấn đề.
3
2.3
Các giải pháp tổ chức thực hiện.
5
2.3.1 Giải pháp 1: Tự học, tự bồi dưỡng của giáo viên.
5
2.3.2 Giải pháp 2: Phân loại đối tượng học sinh.
6
2.3.3 Giải pháp 3: Ôn tập, củng cố kiến thức cơ bản có liên quan đến
3.2
Kiến nghị:
20
1. MỞ ĐẦU
2
1.1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Môn Toán là một môn học chiếm một vị trí rất quan trọng và then chốt trong
nội dung chương trình các môn học bậc tiểu học. Nó không chỉ truyền thụ và rèn
luyện kỹ năng tính toán để giúp các em học tốt các môn học khác mà còn giúp các em
rèn luyện trí thông minh, óc tư duy sáng tạo, khả năng tư duy lôgic, làm việc khoa học.
Đồng thời qua đó rèn luyện kĩ năng tính toán cho học sinh. Việc tính đúng và tính cẩn
thận, đó là một việc làm hết sức quan trọng giúp các em có tính cẩn thận, chu đáo
trong cuộc sống. Vì vậy chúng ta cần phải quan tâm tới việc dạy toán ở Tiểu học.
“Tính giá trị biểu thức”ở Tiểu học thuộc phần kiến thức số học. Biểu thức không
được định nghĩa bằng khái niệm cụ thể mà chỉ giới thiệu “hình thức thể hiện” là các
số, các chữ liên kết bởi các dấu của phép tính. Biểu thức đã được giới thiệu ngay từ
lớp 1 thông qua các phép cộng, trừ. Ở lớp 2, dạy học về phép nhân, phép chia. Tuy
nhiên, đến lớp 3 mới hình thành biểu tượng về biểu thức. Chương trình sách giáo
khoa ở lớp 3 xây dựng ba dạng bài tính giá trị biểu thức cơ bản, rõ ràng và có cách
tính cho từng dạng bài: Biểu thức chỉ có dấu cộng, trừ hoặc nhân, chia; biểu thức có
dấu cộng, trừ, nhân, chia; biểu thức có dấu ngoặc đơn. Ngoài ra, còn nhiều dạng bài
mới về tính giá trị biểu thức đòi hỏi học sinh phải tư duy cao hơn, phải có kĩ năng vận
dụng thành thạo các dạng cơ bản đã học để thực hiện yêu cầu như: Biểu thức chỉ có
một dấu phép tính nhưng nhiều số, viết thành biểu thức rồi tính, tìm số, .... đều là
Để thực hiện đề tài này tôi đã vận dụng những phương pháp để nghiên cứu như sau:
+ Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết.
+ Phương pháp điều tra khảo sát thực tế.
+ Phương pháp điều tra.
+ Phương pháp luyện tập - thực hành.
+ Phương pháp hỏi - đáp.
2. NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lí luận.
Trong toán học Biểu thức là một dãy các số, dấu phép tính viết xen kẽ với nhau.
Còn giá trị của biểu thức chính là kết quả của biểu thức.
Chương trình toán Tiểu học, học sinh từ lớp 1 đến lớp 3 được học các kiến thức
liên quan đến biểu thức và được phát triển dần theo vòng số như sau:
Lớp 1: Học về các số đến 10; đọc, đếm, viết các số đến 10; Bảng cộng, trừ các
số trong phạm vi 10. Đọc, viết, đếm các số đến phạm vi 100. Phép cộng, trừ (không
nhớ) trong phạm vi 100. Thực hiện dãy tính có đến hai dấu phép tính cộng, trừ (trường
hợp đơn giản). Giải toán có lời văn, ...
Lớp 2: Học về phép cộng, trừ các số trong phạm vi 100; phép cộng, trừ các số trong
phạm vi 1000. Các bảng nhân, chia từ 2 đến 5. Thực hiện dãy tính có đến 2 dấu phép tính
cộng, trừ hoặc nhân, chia xong chưa hình thành quy tắc tính. Tìm thành phần chưa biết.
Giới thiệu các phần bằng nhau của đơn vị. Giải toán có lời văn, ...
Lớp 3: Củng cố bảng nhân, chia từ 2 đến 5. Bổ sung cộng, trừ các số có ba chữ số
(có nhớ 1 lần). Lập bảng nhân (chia) 6, 7, 8, 9. Nhân, chia ngoài bảng trong phạm vi
1000. Tìm thành phần chưa biết của phép tính. Tính chu vi một số hình. Đặc biệt, ở lớp 3
học sinh được làm quen với biểu thức số và giá trị biểu thức, giới thiệu thứ tự thực hiện
các phép tính trong biểu thức số có đến hai dấu phép tính, có dấu ngoặc. Học sinh được
làm quen với vòng số lớn hơn: phép cộng, trừ có nhớ. Phép nhân, chia các số trong phạm
vi 10 000; Nhận biết các số trong phạm vi 100 000, phép cộng, trừ có nhớ các số có 5 chữ
số. Nhân, chia các số có 5 chữ số với các số có 1 chữ số. Tính diện tích một số hình.
Tiếp tục tính giá trị của biểu thức có đến 2 dấu phép tính; Gấp một số lên nhiều lần,
Bài 1: Tính giá trị của biểu thức:
a) 156 - 87 + 25
b) 213 x 8 : 2
c) 66 : 3 + 216
d) 97 - 12 x 3
Bài 2: Tính giá trị của biểu thức.
a) 360 : (3 + 2)
b) (88 : 4) x 2
Bài 3: Tính giá trị biểu thức sau bằng cách hợp lý:
125 + 363 + 75 + 37
54 + 63 + 37 + 46
SAU ĐÂY LÀ KẾT QUẢ KHẢO SÁT:
1. Năm học 2016 - 2017:
Tổng số
HS
33 em
Điểm 9 - 10
Bài 1 6 em = 18,2%
Bài 2 7 em = 21,2%
Bài 3 4 em = 12,1%
Điểm 7 - 8
Điểm 5 - 6
10 em = 30,3% 9 em = 27,3%
11 em = 33,4% 8 em = 24,2%
9 em = 27,3 % 10 em= 30,3%
nguyên nhân của những tồn tại đó để từ đó có những giải pháp kịp thời, phù hợp, giúp các
em nắm vững các dạng bài về tính giá trị biểu thức.
a. Những tồn tại của học sinh trong từng dạng bài tính giá trị biểu thức.
* Trường hợp 1: Đối với các biểu thức đơn: (Biểu thức chỉ có 2 số và 1 dấu phép tính)
+ Đối với biểu thức đơn có 1 phép tính: cộng, trừ, nhân, chia có nhớ, đa số học
sinh sai do quên không nhớ khi thực hiện tính hoặc do không thuộc các bảng cộng, trừ,
nhân, chia đã học nên tính sai kết quả.
* Trường hợp 2: Đối với các biểu thức có 2 dấu phép tính.
+ Biểu thức chỉ có dấu cộng, trừ hoặc nhân, chia.
Ví dụ: Tính giá trị biểu thức sau:
a) 163 + 50 + 6
b) 329 – 20 + 5
c) 84 : 3 x 2
- Một số học sinh đã làm bài như sau:
a) 163 + 50 + 6 = 163 + 56
b) 329 – 20 + 5 = 329 – 25 c) 84 : 3 x 2 = 84 : 6
=
219
= 304
= 14
+ Câu a: Học sinh sai không nắm được cách tính giá trị biểu thức ở dạng 1. Thø
tù c¸ch tính biểu thức từ phải sang trái.
+ Câu b, c: Học sinh sai vì nhầm lẫn với cách tính ở dạng 2. Do đó, khi gặp các
dạng biểu thức có 2 phép tính: nhân và chia; cộng và trừ các em không thực hiện tính
theo thứ tự từ trái sang phải mà thực hiện tính phép nhân trước rồi đến phép chia, phép
cộng trước rồi đến phép trừ.
+ Biểu thức chỉ có dấu cộng, trừ hoặc nhân, chia.
Với dạng bài này, tôi nhận thấy ngoài việc học sinh nhân, chia, cộng, trừ sai, thì
học sinh thường mắc lỗi sai khi viết kết quả biểu thức sau dấu bằng thứ nhất.
Ví dụ: Tính giá trị của biểu thức:
+ Câu c: Học sinh làm sai vì cho rằng tính phép tính trong ngoặc trước thì viết kết
quả trước.
b. Nguyên nhân của những tồn tại.
Từ những tồn tại của các em khi thực hành các dạng bài tính giá trị biểu thức
tôi đã tìm ra một số nguyên nhân cơ bản như sau:
+ Giáo viên đôi lúc chưa linh hoạt trong giảng dạy, chưa đầu tư nghiên cứu tìm
ra phương pháp giảng dạy hợp lý đối với từng dạng bài. Chưa khắc sâu cách làm từng
dạng bài cho học sinh.
+ Một số em có lực học không ổn định và nhanh quên kiến thức; kĩ năng tính
toán của một số em còn sai; học sinh chưa thuộc bảng cộng, trừ, nhân, chia.
+ Lên đến lớp 3, các em được thực hiện các phép tính cộng, trừ, nhân có nhớ
nhưng khi thực hiện các em thường quên không nhớ hoặc cộng, trừ, nhân, chia sai.
Học sinh chưa hiểu bản chất của từng quy tắc, chưa nắm vững cách tính của từng dạng
tính giá trị biểu thức.
+ Học sinh chưa được làm quen với các dạng bài tập mở rộng về tính nhanh giá
trị biểu thức nên hầu hết các em tính sai hoặc đưa ra cách tính chưa hợp lý khi thực
hiện yêu cầu bài tập.
+ Do hoàn cảnh gia đình các em hầu hết là gia đình nông nghiệp, nhiều em có hoàn
cảnh khó khăn, đi học thiếu đồ dùng học tập, sức khỏe không tốt nên khả năng tiếp thu bài
học của các em trên lớp không tốt.
Từ thực trạng như trên, để học sinh có được các kĩ năng tính giá trị biểu thức
một cách chắc chắn, bền vững. Tôi đã tích cực học tập, tham khảo các tài liệu môn
Toán và đã tìm ra phương pháp dạy kĩ năng tính giá trị biểu thức cho học sinh lớp 3.
Sau đây tôi xin trình bày các giải pháp mà tôi đã thực hiện như sau.
2. 3. Các giải pháp tổ chức thực hiện.
Giải pháp 1: Tự học và tự bồi dưỡng của giáo viên.
Tự học, tự bồi dưỡng là phương thức tốt nhất giúp người giáo viên tiến bộ,
trưởng thành, có đủ phẩm chất năng lực chuyên môn nghiệp vụ để hoàn thành nhiệm
vụ giáo dục đào tạo được giao. Tự học, tự bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho mình,
tôi nghĩ không phải là trong một, hai ngày mà là cả một quá trình làm nghề dạy học. Ý
Giải pháp 2: Phân loại đối tượng học sinh để nâng cao chất lượng dạy học.
Trong một lớp học thì lực học của học sinh thường không đồng đều nên việc
giáo viên nắm bắt được lực học của từng học sinh trong lớp là nhiệm vụ đầu tiên và
cũng hết sức quan trọng. Từ đó, giáo viên có những giải pháp giúp các em đạt được
chuẩn kiến thức kĩ năng của môn học. Chính vì vậy, qua theo dõi thực tế lực học của
lớp, tôi chia học sinh thành các nhóm sau:
+ Nhóm 1: Học sinh bị rỗng kiến thức ở lớp dưới: 11/33 em
+ Nhóm 2: Học sinh thiếu điều kiện học tập do hoàn cảnh gia đình khó khăn, bố mẹ
không quan tâm: 4/33 em.
+ Nhóm 3: Học sinh không chú ý học, nghịch ngợm: 4/33 em
+ Nhóm 4: Học sinh tiếp thu bài tốt, tích cực học bài: 14/33 em.
Sau khi phân loại được đối tượng học sinh, tôi giải thích để các em hiểu và biết
các em còn chưa đạt chuẩn phần kiến thức nào. Sau đó, tôi cho các em tự đăng kí thi
đua theo mẫu in sẵn. Tất cả 33/33 em đều đăng kí đạt chuẩn kiến thức kĩ năng của tất
cả các môn học. Đặc biệt, có nhiều em mạnh dạn đăng kí các danh hiệu thi đua cuối
năm. Sau đó, tôi lập ngay kế hoạch kèm cặp giúp đỡ và bồi dưỡng học sinh theo từng nhóm.
+ Nhóm 1: Đây là nhóm học sinh tôi quan tâm nhiều nhất. Tôi vừa phải giúp các em
nhớ lại kiến thức cũ, vừa phải đạt được chuẩn kiến thức kĩ năng trong từng tiết học.
Nên tôi liên tục kiểm tra các phép tính cộng, trừ, nhân, chia bằng nhiều hình thức khác
nhau: đọc thuộc lòng, phiếu bài tập, chấm bài thường xuyên,…
+ Nhóm 2: Với đối tượng học sinh này, tôi đến nhà để tìm hiểu điều kiện hoàn cảnh
của học sinh đó; vận động phụ huynh và học sinh trong lớp giúp đỡ về: sách vở, đồ
dùng…. Ngoài ra, tôi luôn lắng nghe tâm sự để chia sẻ động viên các em kịp thời.
+ Nhóm 3: Trường hợp học sinh nghịch ngợm, không chú ý trong giờ học, tôi xếp cho
các học sinh đó ngồi ngay bàn đầu và xếp em học sinh ngoan, học giỏi bên cạnh để
giúp đỡ, kèm cặp. Trong giờ học, tôi thường xuyên quan tâm đến học sinh đó bằng cách
gọi trả lời các câu hỏi, khen ngợi và động viên khích lệ các em khi có sự tiến bộ…
+ Nhóm 4: Là nhóm học sinh ngoan, tiếp thu bài tốt, ngoài những bài tập yêu cầu cần
đạt chuẩn, tôi luôn chuẩn bị thêm một số bài tập nâng cao hơn để giúp các em phát huy
khả năng của mình.
Với phép cộng, trừ các số có 2, 3 chữ số.
Đối với các biểu thức cộng, trừ các số có 2, 3 chữ số. Trước hết tôi giúp học sinh
nắm vững kiến thức theo chương trình sách giáo khoa đã cung cấp. Thường xuyên ôn
tập dưới hình thức phiếu bài tập ở buổi 2. Tiến hành kiểm tra nhanh bằng bảng con,
kiểm tra 15 phút bằng giấy thi. Từ đó tôi phát hiện học sinh có kĩ năng chưa tốt để có
phương pháp bồi dưỡng kịp thời. Tiến hành tương tự với phép cộng, trừ các số trong
phạm vi 10 000; 100 000 các em học sau này. Kết hợp giúp học sinh hiểu tính chất
giao hoán, kết hợp của phép cộng, vận dụng vào tính nhanh biểu thức ở mức độ cao
hơn. Sau dạng biểu thức này tôi thường chốt kiến thức cho học sinh, đặc biệt lưu ý
những kiến thức chưa nêu ở sách giáo khoa như: Với phép cộng: Khi cộng, ở lần cộng
nào có kết quả lớn hơn hoặc bằng 10, ta phải nhớ và cộng vào lần cộng tiếp theo. Với
phép trừ có nhớ thì mượn ở hàng nào bao nhiêu thì khi trừ đến hàng đó ta phải trừ đi
phần có nhớ.
Với các phép nhân, chia các số có 2, 3 chữ số với số có 1 chữ số.
Với các biểu thức là phép nhân, chia các số có 2, 3chữ số cho số có 1 chữ số,
sau khi cung cấp đầy đủ kiến thức theo chương trình sách giáo khoa, tôi cũng tiến hành
cho học sinh ôn tập vào buổi 2 dưới dạng phiếu bài tập, kiểm tra kĩ năng tính của học
sinh thường xuyên bằng bảng con, giấy kiểm tra 15 phút. Tiến hành ôn tập tương tự
với phép nhân, chia các số có 4, 5 chữ số cho số có 1 chữ số các em được học sau này.
Đặc biệt với phép chia hết và phép chia có dư trong bảng, tôi rèn cho học sinh kĩ năng
nói nhanh kết quả tính bằng cách hỏi đáp nhanh. Với phép chia tôi lưu ý cho học sinh
9
như sau:
+ Chia từ trái sang phải: lần lượt lấy chữ số từ hàng cao nhất đến chữ số hàng thấp
nhất của số bị chia để chia cho số chia. Mỗi lượt chia, được mấy thì viết chữ số đó vào
thương. Mỗi lượt chia còn dư bao nhiêu thì gộp với một chữ số ở hàng liền sau ở số bị chia
để chia lượt sau.
+ Khi ở lượt chia trước không còn số dư, kể từ lượt chia thứ 2 trở đi, mỗi lần hạ
x
416
2
9 x 6=
…. : 9 = 8; …
257 : 6
486 2
Bài 5: Cả hộp sữa cân nặng 456g, vỏ hộp sữa cân nặng 67g. Hỏi trong hộp sữa có bao
nhiêu gam sữa?
Với việc hệ thống ôn tập lại các kiến thức liên quan đến tính giá trị biểu thức đã
học ở lớp 2; cộng, trừ, nhân, chia các số có 2, 3 chữ số ở lớp 3 là cơ sở giúp các em có
nền tảng cơ bản vững chắc nhất để các em tự tin, vận dụng và làm tốt được các dạng
bài tính giá trị biểu thức nhiều phép tính và nhiều số ở lớp 3.
Qua việc thực hiện biện pháp trên, tôi thấy hầu hết các em học sinh trong lớp đã
thuộc và hiểu được bản chất, ý nghĩa của các bảng cộng, trừ, nhân, chia. Đặc biệt, kĩ
năng tính giá trị biểu thức đơn của các em nhanh và thành thạo.
Giải pháp 4: Giúp học sinh có kĩ năng “Tính giá trị biểu thức” trong các bài học
chính khóa.
Sau khi giúp học sinh ôn tập, củng cố lại các kiến thức có liên quan đến dạng “Tính
giá trị biểu thức”, tôi đã nghiên cứu để tìm cách dạy dạng toán về tính giá trị biểu thức
cho học sinh một cách dễ hiểu nhất. Cũng như các mạch kiến thức, khi dạy đến dạng toán
“Tính giá trị biểu thức”, tôi luôn yêu cầu học sinh nắm chắc các kiến thức cơ bản mà sách
giáo khoa cung cấp.
a, Cho học sinh làm quen với biểu thức. (Tiết 77 - SGK – Trang 78 )
10
được kết quả bao nhiêu rồi thực hiện tiếp phép trừ.
Bước 3: Hướng dẫn học sinh cách trình bày như sau:
60 + 20 – 5 = 80 – 5
= 75
* Tôi lưu ý học sinh: + Sau khi tìm được kết quả của phép tính cộng các em viết
kết quả tìm được sau dấu bằng rồi viết trừ 5 sang phải.
+ Thực hiện phép tính trừ được kết quả bao nhiêu viết dấu bằng xuống dòng dưới
thẳng với dấu bằng ở trên và viết kết quả của phép tính trừ vừa tìm được.
Bước 4: Củng cố cách làm cho học sinh.
+ Muốn tính giá trị biểu thức khi có nhiều dấu cộng, trừ ta làm thế nào?
(Thực hiện tính từ trái sang phải).
VD2: 49 : 7 x 5 (SGK – Trang 79)
Bước 1: Hướng dẫn học sinh nhận xét biểu thức:
- Biểu thức này có phép tính chia và nhân.
Bước 2: Hướng dẫn học sinh cách làm:
- Biểu thức trên ta tính như sau: Lấy 49 chia cho 7 được 7, 7 nhân 5 bằng 35.
Các em thực hiện từ trái sang phải, thực hiện phép tính chia trước được kết quả bao
nhiêu rồi thực hiện tiếp phép nhân.
11
Bước 3: Hướng dẫn học sinh cách trình bày:
49 : 7 x 5 = 7 x 5
= 35
* Tôi lưu ý học sinh như sau:
+ Sau khi tìm được kết quả của phép tính chia các em viết kết quả tìm được sau dấu
bằng rồi viết nhân 5 sang phải.
+ Thực hiện phép tính nhân được kết quả bao nhiêu viết dấu bằng xuống dòng dưới
thẳng với dấu bằng ở trên và viết kết quả của phép tính nhân vừa tìm được.
+ HD học sinh cách trình bày khác:
+ Muốn tính giá trị biểu thức khi có dấu cộng và chia ta làm thế nào?
(Thực hiện phép tính chia trước, phép tính cộng sau).
VD2: 86 - 10 x 4
(SGK – Trang 80)
Bước 1: Hướng dẫn học sinh nhận xét biểu thức:
- Biểu thức này có phép tính trừ và nhân.
Bước 2: Hướng dẫn học sinh cách làm:
12
- Biểu thức trên ta tính như sau: Ta thực hiện phép nhân trước lấy 10 nhân 4
được 40; Lấy 86 trừ 40 bằng 46. Các em thực hiện phép tính nhân trước, phép tính trừ sau.
Bước 3: Hướng dẫn học sinh cách trình bày:
- Tôi hướng dẫn học sinh cách trình bày như sau:
86 – 10 x 4 = 86 - 40
= 46
* Tôi lưu ý học sinh:
+ Số 86 đứng ở vị trí đầu nên các em phải giữ nguyên vị trí của số 86 sau dấu bằng
không được đổi vị trí giữ nguyên giống biểu thức ban đầu.
+ Thực hiện phép nhân được kết quả bao nhiêu viết sang bên phải dấu trừ.
+ Thực hiện phép tính trừđược kết quả bao nhiêu viết dấu bằng xuống dòng dưới
thẳng với dấu bằng ở trên rồi viết kết quả của phép tính trừ vừa tìm được.
Bước 4: Củng cố cách làm cho học sinh.
+ Muốn tính giá trị biểu thức khi có dấu trừ và nhân ta làm thế nào?
(Thực hiện phép tính nhân trước, phép tính trừ sau).
Qua 2 ví dụ nêu trên tôi khẳng định cho học sinh: Đây là dạng “Tính giá trị
biểu thức” có dấu cộng, trừ, nhân, chia. ( Dạng 2)
Tôi rút ra cách làm cho học sinh như sau: Khi tính giá trị của các biểu thức có
các phép tính cộng, trừ, nhân, chia thì ta thực hiện các phép tính nhân, chia trước; rồi
thực hiện các phép tính cộng, trừ sau.
dạng bài với nhau. Đồng thời nắm rõ cách trình bày từng dạng bài qua từng ví dụ để
các em thấy được từng dạng tính giá trị biểu thức phải trình bày như thế nào mới đúng.
VD: a- 30 + 5 : 5 = 30 + 1
b- ( 30 + 5 ) : 5 = 35 : 5
= 31
=
7
Qua 2 ví dụ nêu trên ta thấy 2 ví dụ này khác nhau: Biểu thức ở câu a không có
dấu ngoặc, biểu thức ở câu b có dấu ngoặc. Chính điểm khác nhau này dẫn đến cách
tính giá trị của hai biểu thức khác nhau và cho kết quả khác nhau.
* Tôi lưu ý lại cho học sinh rõ hơn: Khi tính giá trị biểu thức, chúng ta cần xác
định đúng dạng của biểu thức đó, sau đó thực hiện các phép tính đúng thứ tự.
Như vậy, với cách dạy 3 dạng toán về “Tính giá trị biểu thức” ở mỗi một dạng,
tôi đều hướng dẫn các em thực hiện qua các bước: Nhận xét biểu thức; hướng dẫn cách
làm; cách trình bày bài; củng cố cách làm. Tôi tin tưởng khi học sinh nắm vững cách
làm từng dạng, phân biệt được 3 dạng và qua các tiết luyện tập thực hành, các em sẽ
làm thành thạo dạng “Tính giá trị biểu thức”.
Giải pháp 5: Ôn tập, củng cố các dạng bài “Tính giá trị biểu thức”.
Từ các tiết dạy chính khóa trong chương trình sách giáo khoa tôi đã phân dạng
cho từng loại bài “Tính giá trị biểu thức” đồng thời tiến hành ôn tập củng cố lại kiến
thức cho học sinh. Tôi thường xuyên lưu ý những lỗi sai trong quá trình làm bài mà các
em thường mắc và ra hệ thống bài tập, củng cố giúp các em nắm vững kiến thức từng
dạng bài để rèn cho các em có kĩ năng về tính giá trị biểu thức.
Dạng 1: Biểu thức chỉ có dấu cộng, trừ hoặc nhân, chia.
Đây là dạng bài tính giá trị biểu thức có 2 phép tính và có quy tắc đầu tiên trong
chương trình Toán lớp 3. Do đó, căn cứ vào những tồn tại của các em khi làm dạng bài
này, tôi đưa ra ví dụ, tổ chức cho học sinh làm bài, chốt kiến thức cho học sinh một
cách chắc chắn như sau:
Ví dụ: Tính giá trị biểu thức sau:
a) 205 + 60 + 3
b) 342 – 30 + 25
c) 45 x 3 x 2
d) 66 : 6 x 7
Bài 2: Viết thành các biểu thức rồi tính.
a) 124 cộng với 145 trừ đi 98
b) 46 nhân với 5 chia cho 2
c) 587 trừ đi 99 cộng với 205
d) 648 chia cho 6 chia cho 3
Bài 3: Nối giá trị biểu thức với phép tính.
45 x 2 x
3
201 + 39 +
56
564 : 4 x
3
324 - 20 +
61
29
36
42
27
6
5
3
0
Bài 4: Điền Đ/ S vào mỗi cách tính sau.
nhân, chia trước nhưng vẫn viết kết quả đứng sau số thứ nhất (số hạng hoặc số bị trừ,
…) như biểu thức ban đầu.
* Vận dụng vào giải toán.
Ví dụ: Một cửa hàng buổi sáng bán được 432 l dầu, buổi chiều bán được gấp đôi buổi
sáng. Hỏi cả hai buổi cửa hàng bán được bao nhiêu lít dầu?
- Thông thường học sinh giải bằng 2 phép - Đối với HS tiếp thu tốt các em có thể
15
tính như sau:
làm gộp 2 bước tính thành 1 bước như
Bài giải
sau:
Buổi chiều cửa hàng bán được số lít dầu là:
Bài giải
x
432 2 = 864 (l)
Cả hai buổi cửa hàng đó bán được số lít
Cả hai buổi cửa hàng bán được số lít dầu là:
dầu là:
432 + 864 = 1296 (l)
432 + (432 x 2 ) = 1296 (l)
Đáp số: 1296 l dầu
Đáp số: 1296 l dầu
Phiếu bài tập minh họa.
Bài 1: Tính giá trị biểu thức.
a) 205 + 50 x 2
b) 42 : 7 + 427
c) 687 - 6 x 9
a) 49 x 9 - 7 = 441 - 7
49 x 9 - 7 = 49 x 2
= 434
= 98
b) 24 : 6 - 2 = 4 - 2
24 : 6 - 2 = 24 : 4
= 2
= 6
Bài 5: Mẹ Hà mua 4 gói kẹo và 1 gói bánh, mỗi gói kẹo cân nặng 130g và gói bánh
cân nặng 175g. Hỏi mẹ Hà mua tất cả bao nhiêu gam kẹo và bánh?
Bài 6: Điền dấu phép tính thích hợp vào ô trống cho phù hợp.
24
4 x 45 = 204;
675 : 5
407 = 542
254 x 4
213 = 803
Bài 7: Đúng ghi Đ, sai ghi S: 142 + x = 174
x = 32
x = 92
x = 316
Với dạng bài này, sau khi ôn tập và củng cố kiến thức đã học. Học sinh đã vận
dụng tốt làm các bài tập trên phiếu. Đa số các em đã khắc phục được vướng mắc và
viết đúng thứ tự giá trị biểu thức đơn trong khi thực hiện tính.
Dạng 3: Biểu thức có dấu ngoặc đơn.
Ví dụ: Tính giá trị của biểu thức: (SGK - trang 82)
a) (421 – 200) x 2
b) 48 x (4 : 2)
+ Cách tiến hành:
- Bước 1: Yêu cầu học sinh làm bài.
d. 64 : (8 : 4)
b) 46 cộng với 536 rồi chia cho 2.
d) 432 nhân với 2 rồi chia cho 3.
(142 50
11+ (55 28
0
Bài 4: Điền Đ/ S vào mỗi cách tính sau.
a) 49 x (9 - 7) = 49 x 2
49 x (9 - 7) = 441 - 7
= 98
= 434
b) (24 - 6) : 2 = 18 : 2
(24 – 6) : 2 = 24 - 3
= 9
= 21
Bài 5: Có 240 quyển sách, xếp đều vào 2 tủ, mỗi tủ có 4 ngăn. Hỏi mỗi ngăn có bao nhiêu
quyển sách, biết rằng mỗi ngăn có số sách như nhau. (giải bằng 2 cách khác nhau)
Bài 6: Điền dấu ngoặc đơn thích hợp để có biểu thức đúng.
30 : 2 x 3 = 5
63 : 9 : 3 = 21
25 x 11 - 2 = 225
63 : 6 + 3 = 7
Sau khi tiến hành ôn tập, củng cố lại 3 dạng biểu thức cơ bản trong chương trình sách giáo
khoa Toán 3, tôi nhận thấy, học sinh đã nắm vững và hiểu được quy tắc tính của từng dạng
bài cơ bản về “Tính giá trị biểu thức”. Các em nhận diện các dạng bài nhanh và đưa ra cách
làm đúng. Việc vận dụng tính giá trị biểu thức vào học các mạch kiến thức khác của các em
Bài 1: Tính nhanh:
a) 1 + 2 + 3 + 4 + 5 + 6 + 7 + ……. + 16
b) 3 + 5 + 7 + ……+ 15 + 17
c) 2 + 4 + 6 + 8 + ……+ 18
+ Cách tiến hành:
- Bước 1: Nhận xét biểu thức:
+ Các biểu thức trên là tổng các số tự nhiên cách đều nhau.
- Bước 2: Hướng dẫn cách làm.
* Cách 1: - Nhận xét dãy số là tổng các số cách đều nhau mấy đơn vị?
1. Tìm số số hạng của dãy = (Số hạng cuối – số hạng đầu) : khoảng cách giữa 2
số hạng + 1.
2. Tìm số số cặp = Lấy số số hạng : 2
3. Tính tổng của dãy số = (Số hạng cuối + số hạng đầu) x số cặp.
a) 1 + 2 + 3 + 4 + 5 + 6 + 7 + ……. + 16
Số số hạng của dãy là: (17 – 1) : 1 + 1 = 16 ( số hạng )
Dãy số có số số cặp là: 16 : 2 = 8 cặp
Tổng của dãy số là: ( 17 + 1 ) x 8 = 144
b) 3 + 5 + 7 + ……+ 15 + 17
Số số hạng của dãy là: (17 – 3) : 2 + 1 = 8 ( số hạng )
Dãy số có số số cặp là: 8 : 2 = 4 cặp
Tổng của dãy số là: ( 17 + 3 ) x 4 = 80
c) 2 + 4 + 6 + 8 + ……+ 18
Số số hạng của dãy là: (18 – 2) : 2 + 1 = 9 ( số hạng )
Dãy số có số số cặp là: 9 : 2 = 4 cặp ( dư 1 số hạng ) thừa ra 1 số hạng đầu hoặc cuối.
- Ta trừ lại số hạng đầu.
Tổng của dãy số là: ( 18 + 4 ) x 4 + 2 = 90
* Cách 2: Hướng dẫn cách làm khác:
18
80
+ 10
=
90
* Lưu ý học sinh: Trường hợp: Số số hạng là lẻ ta hướng dẫn học sinh như sau:
+ Tìm tổng của dãy: (Lấy số cuối + số đầu) x số số hạng + số còn lại.
6.2. Trường hợp biểu thức có giá trị bằng 0 hoặc bằng 1.
Ví dụ: Tính nhanh giá trị biểu thức sau:
a) 125 x (465 – 93 x 5)
b) (1 + 2 + 3 + 4 + 5 + 6 + …..+ 9 – 44) x 9
c) (456 + 32) x ( x – x )
d) (126 + 32) x (19 – 16 – 2)
+ Cách tiến hành:
- Bước 1: Nhận xét biểu thức.
+ Nhận xét biểu thức: Biểu thức là tích của biểu thức trong ngoặc (nhiều phép
tính) với 1 số hoặc là tích của 2 biểu thức.
- Bước 2: Cách trình bày:
a) 125 x (465 – 93 x 5)
b) (456 + 32) x (x – x)
= 125 x (465 – 465)
= (456 + 32) x 0
= 125 x 0
= 488 x 0
= 0
=
0
x
c) (1 + 2 + 3 + 4 + 5 + 6 + …..+ 9 – 44) 9
d) (126 + 32) x (19 – 16 – 2)
= (45 – 44) x 9
=
400
- Bước 3: Cách làm:
+ Quan sát, xem tổng hoặc hiệu từng cặp số nào trong biểu thức cho ta kết quả là
số tròn trăm, tròn nghìn.
+ Nhóm các cặp số trên vào ngoặc đơn rồi tính giá trị từng cặp.
+ Tính tổng, hiệu các cặp để được giá trị của biểu thức.
Với việc cung cấp cho học sinh thêm một số các dạng bài tập tính giá trị biểu
thức như trên, giúp học sinh được tiếp cận, mở rộng và làm quen với các dạng biểu
thức mới. Rèn kĩ năng vận dụng các dạng biểu thức cơ bản đã học vào tính toán các
biểu thức ở mức độ cao hơn. Qua đó, rèn cho học sinh tính tư duy, tính kiên trì ở người học.
Qua việc làm quen với các dạng biểu thức mới, học sinh của tôi đã được biết
thêm những biểu thức ngoài chương trình. Kĩ năng tính biểu thức của các em thành
thạo và nhanh hơn. Tinh thần học tập môn Toán của các em cũng tốt hơn và các em
cũng tự tin vận dụng biểu thức vào làm các dạng bài tập khác trong môn Toán.
Trong thực tế, còn rất nhiều kiểu bài tập cho dạng bài Tính giá trị biểu thức mở
rộng, xong do đề tài có hạn, tôi chỉ lựa chọn và đưa ra một số dạng bài có tính vừa sức
với học sinh để học sinh thực hiện.
Giải pháp 7: Tuyên dương khen thưởng học sinh.
Như chúng ta đã biết, tâm lí học sinh Tiểu học rất thích được khen ngợi, động
viên, khích lệ. Do đó trong quá trình dạy học tôi luôn tránh chê bai học sinh chỉ nhắc
nhở nhẹ nhàng khi các em làm bài chưa đúng, tạo cho các em sự gần gũi, tinh thần tự
tin trong học tập và không khí học tập thoải mái. Thường xuyên động viên khuyến
khích các em đặc biệt là những học sinh còn nhút nhát, học sinh chưa đạt chuẩn để các
em mạnh dạn hơn trong học tập bằng những lời nói nhẹ nhàng như “Bạn nào xung
phong lên bảng làm bài? Nếu sai cả lớp chúng ta cùng sửa và rút kinh nghiệm”. …Vì
vậy mà học sinh lớp tôi đã mạnh dạn xung phong làm bài. Các em còn mạnh dạn hỏi
cô giáo những bài chưa hiểu ở trên lớp qua điện thoại khi học ở nhà. Ngoài ra, tôi
thường tổ chức cho các em các trò chơi “Ai nhanh ai đúng”, Thi tiếp sức … giúp học
sinh ôn tập lại kiến thức sau từng bài học bằng cách hỏi đáp. Vào các tiết hoạt động tập
c) 87 + 256 : 4
d) 193 + 56 x 4
Bi 3: Tớnh nhanh.
a) 65 + 76 + 24 + 35
b) (149 + 26) x (34 26 8)
Bi 4: Mt kho mui cú 4720kg mui, ln u chuyn i 2000kg mui, ln sau chuyn
i 1700kg mui. Hi trong kho cũn li bao nhiờu ki-lụ-gam mui? (gii 2 cỏch)
Kt qu kho sỏt hc sinh nh sau:
1. Nm hc 2016 - 2017:
Tng
im 9 - 10
im 7 - 8
im 5 - 6
s HS
Bi 1
Bi 2
33 em
Bi 3
Bi 4
22 em = 66,6%
21 em = 63,6%
20 em = 60,6%
20 em = 60,6%
2 em = 6,1%
4 em = 12,2 %
5 em= 15,2%
3 em = 9,1%
24 em = 72,7%
20 em = 60,6%
21em = 63,6%
20 em = 60,6%
9 em = 27,3%
8 em = 24,2%
8 em = 24,2%
10 em = 30,3%
im di 5
7 em = 21,2 %
10 em = 30,3%
10 em = 30,3%
10 em = 30,3%
21
Qua thời gian học tập và rèn luyện, chất lượng học tập của học sinh lớp tôi dạy
đã được nâng cao rõ rệt. Hầu hết các em làm được bài, hiểu yêu cầu của bài và làm
đúng được các phép tính. Vận dụng tính giá trị biểu thức vào giải bài toán kép nhanh
và đúng. Học sinh đã nhận đề toán và làm bài một cách tự tin. Chất lượng học sinh
tăng lên rõ rệt, học sinh chưa đạt chuẩn giảm hẳn.
3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận.
Để nâng cao chất lượng dạy học về Tính giá trị biểu thức và học Toán ở lớp 3,
góp phần nâng cao chất lượng toàn diện ở trường Tiểu học và đáp ứng yêu cầu mới của
cố gắng nhiều song vẫn còn nhiều hạn chế. Tôi rất mong được sự góp ý của các đồng
chí chỉ đạo chuyên môn và của các bạn đồng nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Thọ Xuân, ngày 25 tháng 5 năm 2018
22
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình
viết, không sao chép nội dung của người khác.
(Ký và ghi rõ họ tên)
Lê Thị Khuyên
TÀI LIỆU THAM KHẢO
TT
Tên tài liệu
1.
Sách giáo khoa Toán 1, Toán 2, Toán 3.
2.
Sách giáo viên Toán 1, Toán 2, Toán 3.
3.
4.