Một số kinh nghiệm giúp học sinh nắm vững cách giải toán có lời văn lớp 2 - Pdf 43

1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài:
Đất nước nước ta đã và đang thực hiện công cuộc công nghiệp hoá - hiện
đại hoá, muốn thực hiện công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá vững chắc
cần phải có lực lượng lao động đủ trình độ, năng động và sáng tạo. Chính vì vậy
mục tiêu đào tạo cũng được thay đổi để đáp ứng với tình hình hiện nay. Thực
trạng dạy và học ở nước ta hiện nay còn nhiều hạn chế. So với các nước trên thế
giới, chúng ta còn có nhiều điểm cần khắc phục về nội dung và phương pháp
dạy học. Từ những lý do trên việc thay đổi nội dung chương trình cũng như
phương pháp dạy học là điều cần thiết.
Trong những năm gần đây, xu thế chung của ngành giáo dục đang đổi mới
về phương pháp dạy học, về cách đánh giá nhằm phát huy tính tích cực, tự giác,
chủ động sáng tạo của học sinh trong quá trình dạy học. Đối với bậc tiểu học, từ
năm học 2003 - 2004 dạy lớp 2 theo chương trình mới. Môn Toán ở tiểu học
bước đầu hình thành và phát triển năng lực trừu tượng hóa, khái quát hóa, gây
hứng thú học tập cho học sinh. Là giáo viên tiểu học trực tiếp đứng lớp 2 một số
năm bản thân tôi thấy cần thiết phải nắm vững những phương pháp giảng dạy
nói chung, phương pháp giảng dạy môn Toán nói riêng đặc biệt là phần giải toán
có lời văn.
Với bài toán có lời văn học sinh đã được làm quen ở lớp 1 tuy nhiên khi
học lên lớp 2 nhiều học sinh vẫn còn gặp khó khăn trong việc thực hiện bài giải
toán. Để giải được bài toán có lời văn ngoài việc sử dụng kỹ năng tính toán học
sinh còn phải có năng lực tư duy logic, “cái này lớn hơn cái kia”, tương đương,
“cái kia bé hơn cái này”… Giải toán có lời văn có vị trí rất quan trọng trong
chương trình Toán ở cấp tiểu học. Ở lớp 2 nếu học sinh nắm vững phương pháp
giải toán có lời văn sẽ giúp các em học tốt bộ môn Toán và các bộ môn khác vì
tư duy logic của trẻ được phát triển. Từ những lí do nêu trên cùng với thực tế
một số năm giảng dạy ở lớp 2 bản thân tôi đã rút ra “Một số kinh nghiệm giúp
học sinh nắm vững cách giải toán có lời văn lớp 2”. Đây cũng là một nội dung
quan trọng trong dạy học toán nói chung và dạy toán phần giải toán có lời văn.
Xin được phép trao đổi với đồng chí và đồng nghiệp.

nghĩa to lớn nhằm giúp HS củng cố lý thuyết vận dụng vào giải bài tập, vận
dụng vào đời sống; Rèn các kĩ năng; Phát triển tư duy như tư duy độc lập, sáng
tạo, lôgic, suy luận, phán đoán; Rèn cho HS thái độ học tập như tính đam mê,
cẩn thận, chính xác, tự giác, tích cực, sáng tạo, tự tin, trong học tập.
Từ việc nhận thức về vấn đề đổi mới phương pháp dạy học trang bị đầy
đủ thời khoá biểu, sách giáo khoa, sách bồi dưỡng và đồ dùng học tập. Tôi thấy
cần phải có phương pháp dạy học toán có lời văn cho học sinh.
Giải toán có lời văn thực chất là những bài toán thực tế, nội dung bài toán
được thông qua những câu văn nói về những quan hệ, tương quan và phụ thuộc,
có liên quan tới cuộc sống thường xảy ra hàng ngày. Cái khó của bài toán có lời
văn chính là ở chỗ làm thế nào để lược bỏ được những yếu tố về lời văn đã che
đậy bản chất toán học của bài toán. Hay nói một cách khác là làm sao phải chỉ ra
được các mối quan hệ giữa các yếu tố toán học chứa đựng trong bài toán và tìm
được những câu lời giải phép tính thích hợp để từ đó tìm được đáp số của bài
toán.
Câu hỏi đặt ra là làm thế nào để học sinh hiểu và giải toán theo yêu cầu
của chương trình mới. Hiện nay theo chương trình mới thì ngay từ lớp 1 học
sinh đã được yêu cầu viết câu lời giải, đây là một bước nhảy vọt lớn trong
chương trình toán vì trước cải cách giáo dục thì đến lớp 4, các em mới phải viết
câu lời giải, còn những năm đầu cải cách giáo dục thì đến học kì 2 của lớp 3 mới
phải viết câu lời giải. Tuy nhiên nếu như nắm bắt được cách giải toán ngay từ
lớp 1, 2 thì đến các lớp trên các em tiếp thu, nắm bắt kiến thức một cách dễ dàng
hơn.
Giải toán ở tiểu học trước hết là giúp các em luyện tập, vận dụng kiến
thức, các thao tác thực hành vào thực tiễn. Qua đó, từng bước giúp học sinh phát
triển năng lực tư duy, rèn luyện phương pháp suy luận lôgíc. Thông qua giải
toán học sinh rèn luyện ý thức: Làm việc có ý thức, có kế hoạch, sáng tạo và
hăng say.
2


tìm hiểu đề các em thường bị phân tán vào nội dung cụ thể của đại lượng hơn là
các số cần thiết cho việc diễn tả điều kiện của các bài toán theo yêu cầu của đề.
- Các em thường nhầm lẫn phương pháp giải giữa các dạng toán.
- Khi trình bày bài giải các em diễn đạt câu, lời văn thường không rõ ràng
hoặc mắc các lỗi ghi chữ viết tắt các đơn vị đo đại lượng.
- Phần giải toán có lời văn ở lớp 2 chưa đáp ứng được đối tượng học sinh
hoàn thành tốt bởi chưa có bài toán giải bằng nhiều cách hoặc bằng nhiều phép
tính.
2.3. Các biện pháp giúp học sinh nắm vững cách giải toán có lời văn ở lớp 2.
Qua việc tiếp thu chuyên đề và trên cơ sở điều tra nắm bắt đối tượng học
sinh của lớp, bản thân tôi luôn suy nghĩ, trăn trở làm thế nào để nâng cao chất
lượng giảng dạy. Qua tìm hiểu thực tế và vốn kinh nghiệm giảng dạy của mình
tôi mạnh dạn đưa ra một số biện pháp nhằm khắc phục khó khăn như sau:
3


2.3.1. Hướng dẫn học sinh tìm hiểu và phân tích bài toán.
Để giải đúng một bài giải toán có lời văn thì việc học sinh hiểu và biết
phân tích bài toán đóng một vai trò rất quan trọng. Việc tìm hiểu đề toán sẽ giúp
học sinh hiểu được yêu cầu của đề bài. Từ đó học sinh xác định được cái đã biết,
cái chưa biết (cái cần tìm) và có hướng để giải được bài toán.
Với mỗi bài toán để học sinh tìm hiểu và phân tích được bài toán giáo viên
cần hướng dẫn học sinh bằng các việc làm sau:
- Đọc đề bài.
- Phân tích đề: Bài toán cho biết gì? Bài toán hỏi gì?
- Tóm tắt bài toán.
* Dạng bài đề toán chỉ có lời văn (không có hình minh họa): Dạng đề này
giáo viên cần tăng cường sử dụng phương pháp hỏi - đáp để giúp học sinh phân
tích bài toán (trong đó có các hình thức: GV hỏi - học sinh trả lời, học sinh hỏi học sinh trả lời). Thực tế việc giải bài toán có lời văn học sinh đã được làm quen
ở lớp 1. Tuy nhiên để khắc sâu cho học sinh giáo viên nên hình thành cho học

Ví dụ 2: Hà có 24 cái kẹo. Số kẹo của Hà nhiều hơn số kẹo của Hoa là 6 cái.
Hỏi Hoa có bao nhiêu cái kẹo?
Học sinh khi đọc đề cứ thấy từ “nhiều hơn” thì khi làm bài sẽ nghĩ ngay
đến việc giải bài toán bằng phép tính cộng. Giúp học sinh tránh được sự nhầm
lẫn, giáo viên yêu cầu học sinh:
- Chia nhóm.
- Thảo luận nhóm hệ thống các câu hỏi sau:
+ Hà có bao nhiêu cái kẹo? (Hà có 24 cái kẹo - cái đã biết)
5


+ Số kẹo của Hà như thế nào so với số kẹo của Hoa? (Số kẹo của Hà
nhiều hơn số kẹo của Hoa là 6 cái)
+ Vậy số kẹo của Hoa như thế nào so với số kẹo của Hà? (Số kẹo của Hoa
ít hơn số kẹo của Hà là 6 cái) - So sánh cái chưa biết với cái đã biết.
- 2 học sinh tóm tắt vào bảng nhóm.
- Lớp nhận xét và thống nhất cách viết đúng.
Trong quá trình làm bài nếu nhận thấy học sinh còn lúng túng trong cách
diễn đạt giáo viên cần tìm ra biện pháp giúp học sinh khắc phục nhược điểm này
ngay lập tức để đến giờ học tiếp theo các em không còn vướng mắc nữa.
Sau khi được tôi hướng dẫn đa số học sinh trong lớp đã tự viết đúng tóm
tắt bài toán.
- Bài 2, trang 97 (SGK) : Mỗi nhóm có 3 học sinh, có 10 nhóm như vậy. Hỏi có
tất cả bao nhiêu học sinh?
Mỗi bài toán có các cách tóm tắt khác nhau, tuy nhiên giáo viên giúp học
sinh lựa chọn cách tóm tắt sao cho phù hợp từng bài để dễ hiểu, đơn giản và
ngắn gọn nhất. Có những bài toán nên tóm tắt bằng lời song cũng có những bài
toán nên tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng.
+ Tóm tắt bằng sơ đồ:
Khi dạy bài Bài toán “nhiều hơn”, “ít hơn” sau khi học sinh đọc đề bài,

nhiêu xăng-ti-mét?

7


Phần tóm tắt bài toán là cần thiết khi học sinh giải bài toán có lời văn, đối
với học sinh lớp 2 không nhất thiết phải trình bày vào vở. Sau khi tóm tắt xong
tôi yêu cầu học sinh nhìn vào tóm tắt đọc lại được một bài toán hoàn chỉnh đúng
theo ý đề bài cho.
Đối với những học sinh chưa hoàn thành giáo viên cần hướng dẫn cho các
em từng bước rõ ràng, có thể dùng đồ dùng trực quan giúp các em tư duy cụ thể,
nắm được yêu cầu của bài toán. Đồng thời gợi ý cho các em lựa chọn phép tính
cho bài giải.
Cần phải kiên trì với đối tượng này, quan sát sự tiến bộ của các em để
động viên kịp thời, dần dần giúp các em mạnh dạn hơn, tự tin hơn khi giải toán.
Ngoài ra thông qua hoạt động nhóm các em biểu lộ được mặt ưu, khuyết điểm
cá nhân. Bằng sự giúp đỡ của những học sinh hoàn thành tốt (học sinh hoàn
thành) sẽ giúp đối tượng học sinh chưa hoàn thành tiến bộ.
* Dạng bài cho đề bài bằng hình vẽ đoạn thẳng:
Với dạng đề toán này tôi hướng dẫn học sinh như sau:
+ Đọc đề toán: Dạng đề toán sử dụng sơ đồ việc đọc đề toán chính là quan
sát sơ đồ. Giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát kĩ sơ đồ để nắm được đề bài.
+ Phân tích bài toán: Yêu cầu học sinh dựa vào các dấu hiệu như: Quan
sát đoạn thẳng, so sánh đoạn thẳng để phân tích đề toán (Bài toán cho biết gì?),
quan sát dấu ? để biết bài toán hỏi gì? Dựa vào những dấu hiệu đã quan sát
được học sinh nêu câu trả lời.
+ Nhìn vào sơ đồ để đặt một đề toán bằng lời phù hợp với sơ đồ đã vẽ.
Ví dụ:
+ Bài 3, trang 25(SGK).




+ Đường gấp khúc ABCD gồm mấy đoạn thẳng?
+ Mỗi đoạn thẳng dài bao nhiêu?
+ Nêu cách tính đường gấp khúc?
* Câu b:
- Chia nhóm học sinh.
- Yêu cầu các nhóm thảo luận các câu hỏi sau:
+ Nêu cách tính chu vi hình tứ giác.
+ Hình tứ giác ABCD có gì đặc biệt?
+ Giáo viên sử dụng đồ dùng dạy học (là một thước gấp gồm 4 đoạn
thẳng, mỗi đoạn thẳng có độ dài 3cm) để giúp học sinh nắm được chu vi cũng là
độ dài đường gấp khúc khép kín.
+ Bài 3, trang 36 (SGK):

- Học sinh thảo luận nhóm, phân tích bài toán:
+ Bài toán cho biết gì? ( Bài toán cho biết: Bao gạo nặng 46kg, bao ngô
nặng 27kg.)
+ Bài toán hỏi gì? ( Bài toán hỏi: Hỏi cả hai bao cân nặng bao nhiêu ki-lôgam?)
+ Dựa vào đâu mà em biết: Dựa vào hình dạng của vật được vẽ.
- HS dựa vào hình vẽ đặt đề toán: Bao gạo cân nặng 46kg, bao ngô cân
nặng 27kg. Hỏi cả hai bao cân nặng bao nhiêu ki-lô-gam?
* Với dạng bài sử dụng sơ đồ đoạn thẳng (hình vẽ) để nhận biết cái đã
cho, cái cần tìm giáo viên lưu ý học sinh cần dựa vào:
- Hình dạng của vật được vẽ.
- Số liệu trên vật.
- Dấu hỏi.
2.3.2. Hướng dẫn học sinh trình bày tốt bài giải.
* Hướng dẫn học sinh viết được câu lời giải và phép tính tương ứng:
Thông thường việc trình bày một bài giải toán có lời văn tốt không chỉ là viết

Sau khi thống kê các câu lời giải học sinh trong lớp đã nêu tôi cho học
sinh lựa chọn câu lời giải phù hợp nhất. Trong khi hướng dẫn học sinh nêu câu
lời giải tôi sẽ tìm được những học sinh có năng khiếu thực sự về môn Toán (thể
hiện được việc dạy học cá biệt hóa học sinh). Điều quan trọng là giáo viên cần
trân trọng sự diễn đạt của học sinh - Học sinh có thể diễn đạt xuôi hay ngược
miễn là đúng.
Tuy nhiên đối với bài toán tính độ dài đoạn thẳng, đoạn dây, đường gấp
khúc... có số đo đại lượng như: km, m, dm, mm, . . . giáo viên cần phân biệt một
cách chính xác các khái niệm như: "Đại lượng", "Số đo của một đại lượng" để
giúp học sinh tránh những sai lầm đồng nhất "Đoạn thẳng", với "Độ dài đoạn
thẳng" hay "Số đo đoạn thẳng"
Ví dụ: Bài 4, trang 25 (SGK)
Đoạn thẳng AB dài 10cm, đoạn thẳng CD dài hơn đoạn thẳng AB 2cm. Hỏi
đoạn thẳng CD dài bao nhiêu cm?
Những câu lời giải học sinh nêu:
+ Số xăng-ti-mét đoạn thẳng CD dài là:
11


+ Độ dài đoạn thẳng CD là:
+ Đoạn thẳng CD dài số xăng-ti-mét là:
Trong dạy giải toán có lời văn học sinh cũng thường nhầm lẫn về dạng lời
giải có đơn vị đồng. Vì vậy trong tiết Luyện tập tôi đã giao thêm dạng bài tập
này để giúp học sinh nắm dược đơn vị tính của tiền là đồng.
Ví dụ: Mẹ có 2 tờ 100 đồng và 1 tờ 500 đồng. Hỏi mẹ có bao nhiêu tiền?
Với bài toán này giáo viên có thể hỏi học sinh câu hỏi khác: Mẹ có bao nhiêu
đồng? Việc đi tìm số đồng mẹ có cũng chính là đi tìm số tiền của mẹ. Điều này
giúp học sinh có cơ sở cho việc tính toán sau này, tránh tình trạng học sinh sai
đơn vị (đồng - tiền).
- Trình bày phép tính: Việc viết phép tính tương ứng cũng quan trọng

* Ví dụ: bài 4, trang 51: Một cửa hàng có 51kg táo, đã bán 26kg táo. Hỏi cửa
hàng đó còn lại bao nhiêu ki-lô-gam táo?
Trong quá trình chấm bài tôi đã phát hiện ra còn có học sinh lúng túng
trong cách trình bày dẫn đến bài giải chưa thật khoa học. Tôi đã lựa chọn hai bài
giải làm ví dụ về cách trình bày để học sinh tự nhận thấy cách trình bày phù hợp,
đẹp mắt và các em sẽ học theo trong quá trình làm bài của những tiết học tiếp
theo. Thông qua đó đưa ra cách khắc phục giúp bạn không còn lúng túng trong
các trình bày bài toán giải có lời văn.

13


Sau khi được tôi hướng dẫn và học tập từ bạn cách trình bày học sinh
trong lớp tôi giải dạy đa số đã trình bày được những bài giải sạch, đẹp.
Ví dụ:
Bài 3, trang 96: Mỗi xe đạp có 2 bánh xe. Hỏi 8 xe đạp có bao nhiêu bánh xe?
Bài 2: Tính chu vi hình tam giác ABC, biết độ dài các cạnh là: AB = 2cm, BC =
5cm, AC = 4cm.

Bài 4: Can bé đựng được 14l dầu, can to đựng được nhiều hơn can bé 8l. Hỏi
can to đựng được bao nhiêu lít dầu?

2.3.3. Tổ chức hình thức dạy học phong phú.
Việc tổ chức hình thức dạy học phong phú sẽ tạo hứng thú, khơi dậy sự
khám phá yêu thích môn Toán cho học sinh trong quá trình tiếp nhận kiến thức.
* Dạng bài hình thành kiến thức mới: Với dạng bài này thường có hình vẽ
minh họa. Học sinh có đồ dùng trực quan, các em được cùng thực hành trên đồ
dùng trực quan với giáo viên.
Ví dụ: Dạy tiết 24 “Bài toán về nhiều hơn”
Bài toán: Hàng trên có 5 quả cam, hàng dưới có nhiều hơn hàng trên 2 quả

hiệu quả cho các tiết dạy nhất là những tiết dạy có bài tập thuộc phần giải toán
có lời văn. Với những bài giải toán có lời văn trong quá trình chữa bài tôi
thường sử dụng hình thức lồng tiếng các con vật ngộ nghĩnh, tiếng vỗ tay hưởng
ứng khi học sinh làm bài tốt, trò chơi toán học, ..... Hình thức này đem lại hiệu
quả cao, tạo không khí hứng khởi trong giờ học, giúp các em thay đổi không khí
căng thẳng trong tiết học.
15


2.3.5. Tổ chức các trò chơi: Thông qua các trò chơi sẽ kích thích sự hiểu biết,
tạo hứng thú, giảm bớt mệt mỏi trong những giờ học toán. Sau khi hình thành
kiến thức mới, giáo viên nên tổ chức các trò chơi toán học (Tìm nhà cho các con
vật, Nhanh tay nhanh mắt, ...... ). Tổ chức các trò chơi ngoài mục đích giảm
căng thẳng còn có tác dụng giúp củng cố kiến thức đã học cho học sinh.
2.4. Kết quả:
* Học sinh:
- Tất cả học sinh trong lớp đã xác định đúng được yêu cầu đề bài, nắm
được dạng toán. Có đến 97,7% học sinh hoàn thành bài tập (trong đó có gần
70% học sinh đạt ở mức hoàn thành tốt), đặc biệt có những học sinh có khả năng
hoàn thành bài tập trước thời gian quy định và giúp đỡ những bạn chưa hoàn
thành.
* Giáo viên:
- Rút ra được những kinh nghiệm trong việc dạy học sinh giải toán có lời
văn ở lớp 2. Từ đó hướng dẫn học sinh một cách dễ hiểu, dễ nhớ và vận dụng
thành thạo.
- Thông qua dạy học giải toán có lời văn đã phân loại được đối tượng học
sinh từ đó có những biện pháp giúp đỡ những học sinh chưa hoàn thành khắc
phục những hạn chế còn tồn tại để các em có khả năng giải toán. Đồng thời qua
đó cũng phát huy được nhiều nhất năng lựa của những học sinh đạt mức hoàn
thành tốt.

kinh nghiệm giúp học sinh nắm vững cách giải toán có lời văn lớp 2”. Rất
mong nhận được ý kiến đóng góp của các đồng chí và các bạn đồng nghiệp.
Tôi mong sự góp ý của các đồng chí, các bạn đồng nghiệp để tôi có phương
pháp dạy phù hợp, nâng cao hiệu quả dạy môn Toán nói riêng và các bộ môn
văn hoá trong nhà trường tiểu học nói chung.
3.2. Kiến nghị:
- Để giúp học sinh nắm vững cách giải toán có lời văn lớp 2 đề nghị tổ
chuyên môn cần thường xuyên trao đổi, rút ra những biện pháp hiệu quả trong
việc dạy và học giải toán có lời văn ở lớp 2.
- Đề nghị nhà trường cung cấp thêm tài liệu phục vụ cho việc nghiên cứu
và tạo điều kiện để SKKN được thực thi.
Thanh Hóa, ngày 12 tháng 3 năm 2017
Xác nhận của thủ trưởng đơn vị
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung
của người khác.
(Kí và ghi rõ họ tên)
Nguyễn Hồng Nga
17


MỤC LỤC:
Mục
1
1.1
1.2
1.3
1.4
2
2.1

Kết luận
Đề xuất

18

Trang
1
1
1
1
1
2
3
3
4
10
15
16
16
16
17
17


PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC ĐỀ TÀI
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC XẾP LOẠI
STT
1
2

B

2013 - 2014

B

2015 - 2016




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status