SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HÀ TRUNG
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ KINH NGHIỆM HƯỚNG DẪN HỌC SINH LỚP 5 GIẢI
TOÁN VỀ TỈ SỐ PHẦN TRĂM
Người thực hiện: Trịnh Thị Ngọc Nga
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Hà Tiến 1
SKKN thuộc môn: Toán
THANH HÓA, NĂM 2017
A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Bậc tiểu học là một bậc học quan trọng, đặt nền móng cho sự phát triển
nhân cách con người, đặt nền tảng vững chắc cho giáo dục phổ thông và toàn bộ
hệ thống giáo dục quốc dân. Ở bậc tiểu học, toán học chiếm một vị trí hết sức
quan trọng. Mục tiêu của môn Toán bậc tiểu học là giúp học sinh có những kiến
thức cơ bản ban đầu về số tự nhiên, phân số, số thập phân; các đại lượng thông
dụng; một số chưa hoàn thành yếu tố hình học và thống kê đơn giản. Hình thành
các kỹ năng tính, đo lường, giải toán có nhiều ứng dụng thiết thực trong đời
sống. Góp phần bước đầu phát triển năng lực tư duy, khả năng suy luận hợp lý
và diễn đạt đúng (nói và viết) cách phát hiện và giải quyết các vấn đề đơn giản,
gần gũi trong cuộc sống: kích thích trí tưởng tượng; gây hứng thú học tập toán
góp phần hình thành bước đầu phương pháp tự học và làm việc có kế hoạch,
khoa học, chủ động, linh hoạt, sáng tạo trong đó giải toán về tỉ số phần trăm là
Tôi đã tiến hành nghiên cứu lí luận để giải quyết nhiệm vụ lí luận của đề
tài.
4.2. Phương pháp điều tra
Sử dụng phiếu điều tra để tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến hiện tượng học
sinh học chưa có kĩ năng giải toán về tỉ số phần trăm ở lớp 5.
4.3. Phương pháp lấy ý kiến đồng nghiệp.
Tôi đã học hỏi kinh nghiệm giảng dạy của một số cán bộ quản lí, giáo
viên trường tiểu học có nhiều kinh nghiệm và thành tích trong giảng dạy tham
khảo một số ý kiến của họ.
4.4. Phương pháp thử nghiệm
Để kiểm tra tính khả thi và tính hiệu quả của các biện pháp đã đề xuất,
chúng tôi đã tiến hành thử nghiệm những biện pháp này ở lớp 5 trong hai năm
hoc 2015- 2016 và 2016-2017 để đánh giá hiệu quả của chúng.
B. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN
1. Đặc điểm phát triển tư duy toán học của học sinh tiểu học.
- Độ tuổi tiểu học mang đặc trưng của giai đoạn tư duy cụ thể. Trong một
chừng mực nào đó, hành động trên các đồ vật làm chỗ dựa hay điểm xuất phát
cho tư duy. Các thao tác tư duy đã liên kết với nhau thành tổng thể nhưng chưa
hoàn toàn tổng quát.
- Học sinh cuối cấp tiểu học có sự tiến bộ về nhận thức không gian như
phối hợp cách nhìn một hình hộp từ các phía khác nhau, nhận thức được các
quan hệ giữa các hình với nhau trong nội bộ hình.
- Học sinh tiểu học bước đầu có khả năng thực hiện việc phân tích tổng
hợp, trừu tượng hóa- khái quát hóa và những hình thức đơn giản của sự suy luận
phán đoán. Các em phân tích và tổng hợp có khi không đúng hoặc không đầy
đủ, dẫn đến khái quát sai khi hình thành khái niệm. Khi giải toán, học sinh
thường bị ảnh hưởng bởi một số từ cụ thể, tách chúng ra khỏi điều kiện chung để
sắp xếp xen kẽ trong các tiết luyện tập của một số nội dung kiến thức khác. Nội
dung bao gồm các kiến thức sau đây:
- Giới thiệu khái niệm ban đầu về tỉ số phần trăm.
- Đọc viết tỉ số phần trăm.
- Cộng trừ các tỉ số phần trăm, nhân chia tỉ số phần trăm với một số.
- Mối quan hệ giữa tỉ số phần trăm với phân số thập phân, giữa số thập
phân và phân số.
- Giải các bài toán về tỉ số phần trăm như:
+ Tìm tỉ số phần trăm của hai số.
+ Tìm giá trị một số phần trăm của một số đã biết.
+ Tìm một số biết một giá trị một số phần trăm của số đó.
Các dạng toán về tỉ số phần trăm không được giới thiệu một cách tường
minh mà được đưa vào chủ yếu ở các tiết từ tiết 74 đến tiết 79, sau đó học sinh
được củng cố tiếp ở một số bài trong các tiết luyện tập trong phần ôn tập cuối
năm học.
4. Chuẩn kiến thức, kĩ năng và yêu cầu cần đạt của học sinh sau khi học về
tỉ số phần trăm là.
+ Nhận biết được tỉ số phần trăm của hai đại lượng cùng loại.
+ Biết đọc, biết viết các tỉ số phần trăm.
+ Biết viết phân số thành tỉ số phần trăm và viết tỉ số phần trăm thành
phân số.
+ Biết thực hiện các phép tính cộng, trừ các tỉ số phần trăm, nhân các tỉ số
phần trăm với một số tự nhiên và chia các tỉ số phần trăm với một số tự nhiên
khác 0.
+ Biết: - Tìm tỉ số phần trăm của hai số.
- Tìm giá trị một số phần trăm của một số.
- Tìm một số biết giá trị một số phần trăm của số đó. [2]
4
Thứ ba, nhiều em xác định được dạng toán mà không hiểu được thực chất
của vấn đề cần giải quyết nên khi gặp bài toán có cùng nội dung nhưng lời lẽ
khác đi thì các em lại lúng túng. Cụ thể những vướng mắc của học sinh là:
+ Khi trình bày phép tính tìm tỉ số phần trăm của 2 số, học sinh thực hiện
bước thứ 2 của quy tắc còn nhầm lẫn nhiều (kể cả một số giáo viên) dẫn đến
phép tính sai về ý nghĩa toán học.
+ Việc tính tỉ số phần trăm của 2 số khi thực hiện phép chia còn dư, một
số học sinh còn bỡ ngỡ khi lấy số chữ số trong phần thập phân của thương. Các
em còn lẫn lộn giữa việc lấy hai chữ số ở phần thập phân của tỉ số phần trăm với
lấy hai chữ số ở thương khi đi thực hiện phép chia để tìm tỉ số phần trăm của hai
số.
+ Giống như khi giải các bài toán về phân số, khi giải các bài toán về
phần trăm học sinh còn hay hiểu sai ý nghĩa tìm đơn vị của các tỉ số phần trăm
nên dẫn đến việc thiết lập và thực hiện các phép tính bị sai.
5
+ Giải các bài toán về tỉ số phần trăm do không hiểu về quan hệ giữa các
đại lượng trong bài toán nên các em hay mắc những sai lầm.
+ Khi giải một số bài toán tỉ số phần trăm về tính tiền lãi, tiền vốn học
sinh hay ngộ nhận rằng tiền lãi và tiền vốn có quan hệ tỉ lệ với nhau, dẫn đến
giải sai.
2. Kết quả khảo sát thực trạng
Để kiểm chứng hiệu quả của những biện pháp đưa ra, trước khi thực hiện
sáng kiến này (Vào giữa tháng 12 năm 2015) của năm học 2015 - 2016 tôi đã
cho học sinh lớp 5 làm đề kiểm tra như sau:
Đề kiểm tra số 1: (40 phút)
Bài 1: Nêu cách hiểu về mỗi tỉ số phần trăm dưới đây:
a. Số học sinh hoàn thành chương trình rèn luyện đội viên chiếm 30% số học
sinh cả trường.
Điểm dưới 5
SL
%
8
25,8
Nhìn vào bảng thống kê kết quả cho thấy: Đa số học sinh còn chưa nắm
vững các dạng bài. Trong quá trình làm bài còn lúng túng dẫn đến sai sót nhiều.
Từ những thực trạng, nguyên nhân trên, tôi đã trăn trở suy nghĩ, nghiên
cứu các biện pháp phù hợp để tìm ra cách giải quyết vấn đề.
3. Nguyên nhân
Sở dĩ có hiện trạng này là vì:
a. Về phía học sinh
- Đây là loại toán khó, có nhiều vấn đề trừu tượng. Những bài toán về tỉ
số phần trăm vừa thiết thực, song lại rất trừu tượng, học sinh phải làm quen với
nhiều thuật ngữ mới như: “đạt một số phần trăm chỉ tiêu”, “vượt kế hoạch, vượt
chỉ tiêu”, “vốn, lãi, lãi suất...”, đòi hỏi phải có năng lực tư duy, suy luận hợp lí,
cách phát hiện và giải quyết vấn đề. Nhưng khả năng khái quát hóa, trừu tượng
hóa của học sinh còn hạn chế. Vì vậy, lần đầu tiên các em tiếp xúc thường thấy
rất lạ.
- Học sinh chưa nắm chắc các dạng toán, chưa nắm chắc các kiến thức cơ
bản về tỉ số phần trăm nên chưa có được cái nhìn tổng quan về loại bài toán này,
đôi khi còn hay lẫn lộn một cách đáng tiếc. Các em chưa phân biệt được sự khác
6
nhau cơ bản giữa tỷ số và tỷ số phần trăm, trong quá trình thực hiện phép tình
còn hay ngộ nhận, do đó hay bị nhầm lẫn giữa các dạng bài trong khi giải.
- Học sinh vận dụng một cách rập khuôn, máy móc bài tập mẫu mà không
hiểu bản chất của bài toán nên khi không có bài tập mẫu hoặc dữ kiện đề lệch so
chưa coi trọng việc khái quát chung cách giải cho mỗi dạng để khắc sâu kiến
thức.
- Khi hướng dẫn học sinh giải các bài toán thường hay xem nhẹ khâu phân
tích các dữ liệu bài toán, nhất là các bài toán mang tính tổng hợp, ẩn. Giáo viên
còn chưa chú trọng đến việc giúp học sinh dễ nhận dạng hay biến đổi các bài
toán đó về các bài toán dạng cơ bản đã được học. Mặt khác, đôi khi giáo viên
còn lệ thuộc vào sách giáo khoa thái quá nên rập khuôn một cách máy móc, dẫn
đến học sinh hiểu bài chưa kĩ, giáo viên giảng giải nhiều nhưng lại chưa khắc
sâu được bài học, thành ra lúng túng.
7
- Việc sử dụng các sơ đồ, các hình vẽ minh hoạ cho mỗi bài toán về tỉ số
phần trăm có tác dụng rất tốt trong việc hướng dẫn học sinh tìm cách giải cho
bài toán đó nhưng giáo viên chưa khai thác hết thế mạnh của nó.
* Tóm lại: Trên đây tôi đã chỉ ra cơ sở lí luận và thực tiễn của vấn đề nghiên
cứu, làm cơ sở đưa ra những kinh nghiệm hướng dẫn học sinh giải toàn về tỉ số
phần tăm nhằm thực hiện mục đích của đề tài: “Một số kinh nghiệm hướng
dẫn học sinh lớp 5 giải toán về tỉ số phần trăm”
III. MỘT SỐ BIỆN PHÁP THỰC HIỆN
Để quá trình giáo dục đạt hiệu quả cao không dễ chút nào khi trong thực
tế một lớp học bao giờ cũng có sự chênh lệch về trình độ tiếp thu của học sinh.
Vậy làm sao để giúp học sinh lớp thưc hiện tốt giải toán về tỉ số phần trăm. Đó
chính là vấn đề mà tôi đặt ra và cần có hướng giải quyết. Từ thực tế trên, qua tìm
hiểu trao đổi với một số giáo viên đã dạy lớp 5 nhiều năm cộng với một số kinh
nghiệm của bản thân trong quá trình dạy học tôi rút ra một số kinh nghiêm sau:
1. Củng cố kiến thức lí thuyết cơ bản.
Để học sinh làm tốt các bài toán về tỉ số phần trăm ở mức độ khó, trước
hết chúng ta cần giúp học sinh nắm vững kiến thức cơ bản, phân tích để hiểu rõ
một số khái niệm cơ bản trong sách giáo khoa. Cần giúp học sinh làm rõ “Thế
Vậy có thể hiểu tỉ số phần trăm là tỉ số của hai số được viết dưới dạng
phân số thập phân có mẫu là 100 được viết dưới dạng số kèm thêm kí hiệu %.
Hay có thể hiểu tỉ số phần trăm của 2 số là so sánh số thứ nhất (Cái được so
sánh) với số thứ 2 (Đơn vị so sánh).
- Tỉ số có thể viết thành tỉ số phần trăm được không?
Yêu cầu học sinh: Viết phân số
HS dễ dàng viết được:
1
thành phân số có mẫu số là 100?
4
1 25
=
4 100
8
Như vậy tỉ số
25
1
có thể viết thành tỉ số phần trăm là
, tức 25%.
4
100
* Tỉ số phần trăm nói lên điều gì? (Ý nghĩa của tỉ số phần trăm).
Số sách ban
Tăng 20% của Số sách sau
Tăng 20% sau Số sách sau
đầu (6000
6000 quyển
năm thứ
năm thứ nhất năm thứ
quyển)
nhất… quyển
hai… quyển
(+20%)
(+20%)
Làm rõ tỉ số 20% nghĩa là coi số sách ban đầu là 100% thì sau năm đó số
sách sẽ tăng thêm 20%.
b) Hướng dẫn học sinh tóm tắt đề toán.
-Trong giải toán, tóm tắt đề toán cũng là một việc rất cần thiết và quan
trọng. Vì có tóm tắt được đề toán các em mới biết tìm ra mối quan hệ giữa cái đã
9
cho và cái cần tìm để tìm ra cách giải bài toán. Mỗi bài toán đều có nhiều cách
tóm tắt khác nhau, tuy nhiên các em cần lựa chọn cách tóm tắt sao cho phù hợp
với nội dung từng bài để dễ hiểu, đơn giản và ngắn gọn nhất. Có những bài toán
nên tóm tắt bằng lời song cũng có nhiều bài toán nên tóm tắt sơ đồ hoặc vừa tóm
tắt bằng sơ đồ vừa tóm tắt bằng lời cũng vẫn dễ hiểu như nhau.
- Thông thường học sinh phân tích đúng đề toán và thấy rõ hướng giải
quyết bài toán thì việc tóm tắt trở nên đơn giản. Song giáo viên cũng cần phải sử
dụng một số kĩ thuật để giúp các em tóm tắt bài toán sao cho ngắn gọn và thể
hiện rõ nhất điều kiện bài toán cho và vấn đề cần giải quyết. Đồng thời khi nhìn
vào có thể biết ngay mình nên chọn cách làm nào thì thuận tiện. Làm như vậy
Tính giá trị của 20%
- Đây là cách chủ yếu tôi sử dụng để hướng dẫn học sinh giải toán về tỉ số
phần trăm, vì trong các bài toán về tỉ số phần trăm, đa số các dữ liệu của cùng
một đại lượng không chia hết cho nhau.
10
* Phương pháp tìm tỉ số:
- Phương pháp tìm tỉ số thường áp dụng đối với một số bài mà các dữ liệu
của cùng một đại lượng chia hết cho nhau.
Chẳng hạn như bài tập ví dụ 2 ta giải như sau:
20% diện tích đất làm nhà so với 100% thì giảm số lần là:
100 : 20 = 5 (lần) (bước tìm tỉ số)
Diện tích đất làm nhà là :
560 : 5 = 112 (m2)
Đáp số : 112 m2
- Để học sinh quen với việc giải các bài tập tỉ số phần trăm từ bài toán lập
tỉ số lúc đầu giáo viên nên yêu cầu học sinh viết riêng bước tìm tỉ số, nhấn mạnh
cho học sinh hiểu toán về tỉ số phần trăm cũng có thể giải bằng bước lập tỉ số
được. Đặc biệt phương pháp này là phương pháp tối ưu giúp học sinh kết hợp,
vận dụng để tính nhẩm.
Ví dụ 3: (Bài tập 4 trang 77 SGK): Một vườn cây ăn quả có 1200 cây. Hãy tính
nhẩm 5%, 10%, 20%, 25% số cây trong vườn. [3]
Lập sơ đồ để tính nhẩm:
100% tương đương với 1 200 cây
1%....................? cây
1% là 12 cây (chia nhẩm 1200 : 100)
5% ................... ? cây
5% là 60 cây (gấp giá trị của “1%” lên 5 lần)
10% ................. ? cây
Ví dụ: 0,6 x100 = 60 %
Hoặc: 24 : 40 x100 = 60 % (Sai vì thực tế kết quả là 60)
- Để khắc phục điều này, giáo viên nên nhấn mạnh thêm cho học sinh đọc
quy tắc như sau:
Muốn tìm tỉ số phần trăm của 2 số ta làm như sau:
Bước 1: Tìm thương của 2 số.
Bước 2: Nhân nhẩm thương đó với 100 và viết thêm kí hiệu phần trăm (%) vào
bên phải tích tìm được.(Nhấn mạnh từ nhân nhẩm để học sinh nhớ)
Khi đó ví dụ 1 được trình bày giải như sau:
24 : 40 = 0,6
0,6 = 60 %
* Hướng dẫn phân tích đề: Cần phải phân tích đề để làm rõ yêu cầu sau:
- Xác định rõ đơn vị so sánh và đối tượng đem ra so sánh: Đơn vị so sánh
thường ứng với 100%. Xác định rõ ta đang đi tìm tỉ số phần trăm của hai số nào?
- Giá trị cụ thể của hai số đó trong bài toán đã có cụ thể chưa? Nếu chưa
ta sẽ tìm như thế nào?
Ví dụ 2: Trong vườn có 12 cây cam và 28 cây chanh. Tìm tỉ số phần trăm số cây
cam so với số cây trong vườn?
Phân tích: Từ định hướng nêu trên học sinh đã xác định rất rõ đơn vị so
sánh và đối tượng đem ra so sánh: Số cây cam được đem so với số cây trong
vườn. Đơn vị so sánh là số cây trong vườn ứng với 100%.Vậy tỉ số phần trăm
của hai số cần tìm là số cây cam và số cây trong vườn.
* Hướng dẫn giải:
- Vận dụng cách tìm tỉ số phần trăm để tìm đáp số bài toán.
- Khi biết cụ thể giá trị của hai số các em vận dụng cách tìm tỉ số phần
trăm tìm kết quả bài toán.
- Cho học sinh nhắc lại ý nghĩa của tỉ số phần trăm vừa tìm được đề khắc
sâu. Chẳng hạn, ở ví dụ 2: Giáo viên gợi ý:
80% =
80
4
=
100
5
Giá bán lẻ
Giá mua vào
?%
Giải: Dựa vào bảng trên, từ hàng thứ nhất học sinh dễ dàng tìm được tỉ số giữa
giá mua vào so với giá bán lẻ là
vào là
4
, suy ra tỉ số giữa giá bán lẻ so với giá mua
5
5
, hay tỉ số phần trăm giữa giá bán lẻ so với giá mua vào là 125%.
4
Như vậy, việc lập bảng để xác định đối tượng so sánh và đơn vị so sánh
trong bài toán trên giúp học sinh hiểu rất sâu sắc về tỉ số phần trăm của 2 số. Từ
đó vận dụng tốt trong các bài tập khác, biết xác định đúng đối tượng đem ra so
sánh và đơn vị dùng để so sánh.
* Một số lưu ý khi dạy dạng toán 1
- Giúp học sinh hiểu sâu sắc về ý nghĩa của tỉ số phần trăm. Nắm chắc
… học sinh (Với học sinh nắm chưa chắc)
40% học sinh nữ
:
… học sinh
Hỏi học sinh nam
:
… học sinh
Giải: Từ ý nghĩa đó học sinh dễ tư duy được: Trước hết phải sử dụng bước
rút về đơn vị tức là phải tìm 1% của 400 học sinh (400 : 100 = 4 học sinh) rồi
sau đó tìm 40% của 400 học sinh (4 x 40 = 160 học sinh).
Học sinh làm thạo có thể làm gộp nhưng phải chỉ ra được bước rút về đơn
vị: 400 : 100 x 40 = 160 học sinh từ đó tính được số học sinh nam.
Trình bày bài giải:
Cách 1:
Số học sinh nữ là:
400 : 100 x 40 = 160 (học sinh )
Số học sinh nam là:
400 - 160 = 240 (học sinh )
Đáp số: 240 học sinh nam.
Nhấn mạnh (400 : 100) là bước tìm giá trị của 1%
Cách 2: Đi tìm số phần trăm tương ứng với số học sinh nam, rồi làm tương tự
trên:100% - 40% = 60%
Sau khi học sinh giải được bài toán, giáo viên khắc sâu lại cách giải bằng
câu hỏi: Muốn tìm 40% của 400 ta làm như thế nào ? (học sinh nhắc lại).
Ví dụ 2: Tìm 30% của 97.
Phân tích: Giáo viên cần hướng học sinh hiểu ý nghĩa: tìm 30% của 97
có nghĩa là số 97 tương ứng với 100 % (100 phần bằng nhau). Tìm 30 % là tìm
30 phần trong 100 phần đó.
Tóm tắt: 100%
tương ứng với 97
+ Số tiền vốn (tiền mua, tiền gửi, tiền bỏ ra,…)
+ Theo dự kiến (theo kế hoạch, ….)
3.3. Dạng 3: Tìm một số biết một số phần trăm (n%) của nó là một số cho
trước.
* Cách giải chung
- Muốn tìm một số (A) biết một số phần trăm của nó (n%) là số cho trước
(N) ta lấy số đã biết (N) chia cho số phần trăm tương ứng (n%) rồi nhân với
100.. Hoặc lấy số đã biết (N) nhân với 100 (n) rồi chia cho số phần trăm tương
ứng (n%).
Ta có công thức: A= N : n x 100
Hoặc
A= N x 100 : n
Ví dụ 1: Số học sinh nữ của một trường Tiểu học là 160 em chiếm 40%. Tính số
học sinh trường đó.
Phân tích: Tương tự, học sinh có thể xác định được ngay số học sinh toàn
trường là 100 % (100 phần) và 160 học sinh nữ tương ứng với 40% (40 phần ).
Tóm tắt:
40% học sinh nữ là
: 160 học sinh
1% học sinh
: … học sinh (Với học sinh nắm chưa chắc)
100% học sinh toàn trường là : … học sinh
Giải: Từ phần phân tíchvà tóm tắt học sinh dễ dàng tư duy tìm số học sinh toàn
trường bằng cách: (160: 40) x 100 = 400 (học sinh)
Nhấn mạnh (160 : 40) là bước tìm giá trị của 1%
Ví dụ 2: Tìm một số biết 30 % của nó là 72.
Phân tích: Giáo viên hướng cho học sinh phân tích: Tìm một số biết 30%
của nó là 72 có nghĩa là số đi tìm là 100 % (100 phần) và 30% tương ứng 72.
Tóm tắt:
30%
Đáp số: 1 500 000đồng
Nhấn mạnh (1 800 000 : 120) là bước tìm giá trị của 1% (1 phần)
Như vậy đối với những học sinh chưa nắm chắc ta có thể cho các em qui về số
phần bằng nhau, còn với các em đã thành thạo có thể giải bài toán gộp như trên.
* Một số lưu ý khi dạy dạng 3:
- Khi chữa bài giáo viên cần nhấn mạnh bước tìm giá trị của 1%.
- Khi giải các bài toán dạng 3 này học sinh rất hay bị nhầm lẫn với các bài
toán dạng 2 nên trong quá trình giảng dạy giáo viên cần cho học sinh nắm chắc
và sử dụng thành thạo cách tìm một số khi biết một giá trị phần trăm của số đó.
Cho học sinh phân biệt sự khác nhau của hai dạng bài này.
- Khi giải các bài toán về tính tiền lãi, tiền vốn, giáo viên cần cho học
sinh hiểu rõ cách tính tiền lãi, tiền vốn:
Tiền lãi = Tiền bán - Tiền vốn (Nếu bán có lãi)
Tiền lỗ = Tiền vốn - Tiền bán (Nếu bán bị lỗ)
Tiền vốn không thay đổi mà chỉ có tiền bán và tiền lãi thay đổi.
- Có thể sử dụng các sơ đồ hay các mô hình để phân tích nhằm giúp học
sinh tự phát hiện ra đường lối để giải bài toán, tránh những sai sót không đáng
có.
- Sau khi học sinh đã nắm được ba dạng cơ bản của bài toán về tỉ số phần
trăm giáo viên cần tổ chức cho học sinh luyện tập các bài toán tổng hợp cả ba
dạng để củng cố cách giải, rèn kĩ năng và phân biệt sự khác nhau của ba dạng
bài đó cho học sinh nắm chắc, không nhầm lẫn khi giải.
3.4. Hướng dẫn học sinh phân biệt các dạng toán.
a. Phân biệt dạng 1 với dạng 2 và dạng 3:
- Chỉ dạng 1 là yêu cầu tìm số phần trăm.
- Các thuật ngữ thường gặp như: Tìm tỉ số phầm trăm ...? ... chiếm bao
nhiêu phầm trăm? ... đạt bao nhiêu phần trăm? ... có bao nhiêu phần trăm?
16
Số gạo nếp là :
sau:
120 : 100 x 35 = 420 (kg)
Số học sinh toàn trường là:
Đáp số : 420 kg.
552 : 92 x100 = 600 (học sinh )
Đáp số: 600 học sinh.
Thay vì như vậy, vẫn còn học sinh
Thay vì như vậy, vẫn còn học sinh
nhầm lẫn thành: 120 : 35 x100
nhầm lẫn thành: 552 : 100 x 92
Đây cũng là lỗi nhầm phổ biến ở các bài toán của 2 dạng này nên khi dạy
giáo viên cần chỉ ra cho học sinh rõ để cho học sinh thấy sự khác nhau cơ bản
của hai dạng bài, vì học sinh hay lẫn lộn giữa nhân với 100 và chia cho 100 ở
hai dạng này:
Dạng 2
Dạng 3
Tóm tắt:
Tóm tắt:
Tổng số gạo : 120 kg
Hoàn thành tốt : 552 học sinh
Gạo nếp chiếm : 35%
Chiếm
: 92%
Gạo nếp có
: … kg.
Toàn trường : …học sinh
Đã biết 120 kg tương ứng 100%.
Đã biết 552 học sinh tương ứng 92%.
Vậy 1% tương ứng … kg và 35% Vậy 1% tương ứng … học sinh . Cả
lẫn nhau giữa các đối tượng học sinh.
- Giáo viên khuyến khích học sinh có thói quen tự kiểm tra, đánh giá kết
quả bài làm của mình, của bạn. Tập cho các em có thói quen tìm nhiều phương
án và lựa chọn phương án hợp lý nhất để giải quyết vấn đề của bài tập.
- Thường xuyên nhận xét đánh giá bài làm của học sinh để nhận ra sự tiến
bộ của học sinh, biểu dương khen thưởng kịp thời những học sinh làm tốt, tiến
bộ, theo dõi, khích lệ những học sinh còn thụ động, rụt rè chưa mạnh dạn tham
gia trong giờ học.
- Trong giảng dạy phải lắng nghe, thấu hiểu tâm sinh lí của học sinh, động
viên khuyến khích kịp thời, nghiêm khắc kiên quyết phê bình thái độ lơ là đối
với nhiệm vụ học tập. Luôn tạo cho học sinh sự hứng thú, tính sáng tạo, linh
hoạt, tự tin trong làm bài.
- Tổ chức tốt hình thức học tập theo nhóm, tùy theo tính chất và nội dung
của bài học, tiết học mà có thể chia nhóm theo trình độ (nhóm học sinh khá giỏi,
nhóm học sinh trung bình, nhóm học sinh yếu). Học sinh phải được hướng dẫn
học tập bằng hình thức thực hành để kiểm nghiệm lại kết quả.
IV. KẾT QUẢ ÁP DỤNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
* Cuối học kì I năm học 2016- 2017, Sau khi luyện tập giải toán về tỉ số
phần trăm theo các biện pháp như trên, vào cuối tháng 12/2016, tôi tiến hành
kiểm tra học sinh lớp 5 để lấy thông tin như sau:
Đề kiểm tra số 2 ( 40 phút)
Bài 1: Một cửa hàng bán được lãi 20% so với giá bán. Hỏi giá mua của cửa
hàng đó bằng bao nhiêu phần trăm so với giá bán?
Bài 2: Trong dịp tết trường em dự định trồng 800 cây lấy gỗ, nhưng trường đã
trồng được 1.200 cây. Hỏi trường đó thực hiện được bao nhiêu phần trăm và
vượt mức bao nhiêu phần trăm?
18
Bài 3: Bà Tư bán một chiếc áo được 108 000 đồng. Hỏi nếu sau khi giảm giá
0
- Nhìn vào kết quả trên cho thấy đa số các em đều đạt điểm khá, giỏi, chất
lượng bài kiểm tra có đúc rút kinh nghiệm cao hơn hẳn so với bài kiểm tra chưa
vận dụng kinh nghiệm.
- Qua quá trình hướng dẫn học sinh những phương pháp giải toán tỉ số
phần trăm như trên, tôi thấy chất lượng dạy và học trên lớp có sự tiến bộ rõ rệt:
+ Khái niệm về tỉ số phần trăm trở nên gần gũi và quen thuộc đối với các
em. Học sinh dễ tiếp thu và tiếp cận nhanh với các dữ liệu của bài toán, xác định
được yêu cầu bài và dễ dàng định hướng được các bước giải của bài toán. Đặc
biệt là các giải pháp đã giúp học sinh nhận dạng bài tập một cách chính xác và
làm bài tương đối tốt.
+ Trong giờ dạy có các dạng bài này các em làm bài tự tin, tích cực hơn.
Các em say mê hào hứng trong học môn toán.
+ Có thể nói, chất lượng các bài kiểm tra tại lớp, kiểm tra định kỳ do
Trường, Phòng Giáo dục ra đề có các bài tập về tỉ số phần trăm học sinh đều làm
tốt. Đó chính là động lực để tôi tiếp tục thực hiện và hoàn thiện sáng kiến kinh
nghiệm này.
C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Sau khi áp dụng những kinh nghiệm của mình để hướng dẫn học sinh giải
toán về tỉ số phần trăm tôi đã rút ra một số bài học kinh nghiệm đối với học sinh
và giáo viên như sau.
*Về phía giáo viên:
- Trước hết giáo viên phải tích cực nghiên cứu và nắm chắc nội dung
chương trình, phân loại và nắm chắc các dạng bài về giải toán phần trăm và dự
kiến những khó khăn mà học sinh có thể gặp phải để đưa ra hướng khắc phục.
- Tích cực đầu tư trong soạn giảng; thường xuyên cải tiến đổi mới phương
pháp dạy học phù hợp với đặc trưng bộ môn, với đặc điểm đối tượng học sinh.
- Cũng giống như việc giảng dạy các mạch kiến thức khác, khi dạy học
gia vào hoạt động học tập (tích cực trao đổi trong nhóm, lớp, trao đổi với thầy
cô). Cần có ý chí vượt khó, đức tính cẩn thận, chu đáo, làm việc có kế hoạch.
- Học sinh cần rèn luyện dần phương pháp tự học, tự khám phá, tự lĩnh
hội kiến thức và thói quen tự đánh giá kết quả làm việc của mình.
2. Kiến nghị
* Đối với các cấp lãnh đạo:
- Cần tổ chức nhiều hơn các hội thảo, chuyên đề cấp trường, cấp cụm để
giáo viên có cơ hội được thảo luận và học hỏi các bạn đồng nghiệp, giao lưu về
những kinh nghiệm và mở rộng kiến thức học gắn với cuộc sống nhằm nâng cao
chất lượng giáo dục trong nhà trường.
- Tổ chức các cuộc hội thảo để giải đáp những vướng mắc của giáo viên,
có những tư vấn và hướng dẫn phương pháp và cách làm có hiệu quả cho giáo
viên.
*Đối với giáo viên:
- Cần thường xuyên trau rồi kiến thức và kinh nghiệm giảng dạy của mình
cho tốt hơn nữa. Thật sự say mê, yêu nghề, nhiệt huyết với học sinh.
- Cần nghiên cứu và áp dụng có hiệu quả các kinh nghiệm giảng dạy và
bài học kinh nghiệm được đúc rút để truyền đạt kiến thức một cách rõ ràng dễ
hiểu, không nên rập khuôn theo sách giáo khoa một cách cứng nhắc.
* Lời kết
20
Trên đây là một số kinh nghiệm mà bản thân tôi đã tìm tòi rút ra từ thực
tiễn giảng dạy trên lớp. Tuy nhiên trong quá trình trình bày sẽ không tránh khỏi
thiếu sót, hạn chế, rất mong nhận được sự góp ý của Hội đồng khoa học các cấp
và của đồng nghiệp góp ý để sáng kiến kinh nghiệm này được hoàn chỉnh hơn./.
.
XÁC NHẬN CỦA HIỆU
TRƯỞNG
3. Nguyên nhân
III. MỘT SỐ BIỆN PHÁP THỰC HIỆN
1. Củng cố kiến thức lí thuyết cơ bản.
2. Hướng dẫn học sinh phân tích, tóm tắt đề toán và tìm hướng giải.
3. Hướng dẫn học sinh nắm vững 3 dạng bài toán cơ bản về tỉ số
phần trăm
4. Sử dụng linh hoạt các hình thức, phương pháp dạy học
IV.KẾT QUẢ ÁP DỤNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
2. Kiến nghị
1
1
2
2
2
3
3
4
4
5
5
7
8
10
17
17
18
18
Tỉnh...)
hoặc C)
Một số kinh nghiệm hướng dẫn
Phòng
1 học sinh lớp 4,5 giải toán có GD&ĐT Hà
B
yếu tố hình học
Trung
Một số kinh nghiệm dạy văn
Phòng
2 miêu tả cho học sinh lớp 4
GD&ĐT Hà
C
Trung
Một số kinh nghiệm hướng dẫn
Phòng
3 học sinh so sánh phân số
GD&ĐT Hà
C
Trung
Năm học
đánh giá
xếp loại
2007-2008
2012-2013
2014-2015
24