1. PHẦN MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài.
Văn chương là loại hình tác phẩm được cấu trúc bởi một kiểu ngôn ngữ
đặc biệt, khác với ngôn ngữ đời thường, là tiếng nói tình cảm, từ xưa nó đã là
một điều kì diệu giúp người ta nhận thức, khám phá thế giới tâm hồn, giúp
người ta hướng tới những giá trị cao đẹp bằng rung động thẩm mĩ, giúp “ thanh
lọc mỗi tâm hồn chúng ta…”. Cuộc sống của chúng ta sẽ như thế nào nếu thiếu
đi các tác phẩm văn chương. Mỗi chúng ta cảm thấy cuộc đời đẹp hơn khi ta
được tìm hiểu tiếp cận các tác phẩm văn chương.
Đáp ứng mục tiêu của môn ngữ văn ở trường THCS là nhằm giáo dục học
sinh trở thành “ những con người có ý thức tự tu dưỡng, biết yêu thương quý
trọng gia đình, bạn bè, có lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, biết hướng tới
những tư tưởng, tình cảm cao đẹp như lòng nhân ái, tôn trọng lẽ phải, sự công
bằng,căm ghét cái xấu, cái ác. Đó là những con người biết rèn luyện để có tính
tự lập, có tư duy sáng tạo, bước đầu có những năng lực cảm thụ các giá trị
chân thiện mĩ trong nghệ thuật, trước hết là trong văn học. Đó là những con
người có ham muốn đem tài trí của mình cống hiến cho sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc”.[1]
Để cảm và hiểu được tư tưởng của tác phẩm văn học không phải là đơn
giản đối với học sinh THCS, đó là nghệ thuật sư phạm của người giáo viên. Tác
phẩm văn học là công trình nghệ thuật ẩn chứa bao điều kì thú để khám phá,
khai thác nó chúng ta vô cùng hứng thú. Nhưng làm thế nào để cảm nhận đúng ý
tưởng, học sinh say mê ngay từ đầu, có ý thức được tìm hiểu các tác phẩm văn
học, không bị hẫng hụt là điều giáo viên cần quan tâm.
Như vậy việc hướng dẫn học sinh phân tích, cảm thụ văn học là góp phần
thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ của môn Ngữ văn đáp ứng được những đòi hỏi
bức thiết của xã hội về phẩm chất trình độ của người lao động thời hiện đại.
Xuất phát từ suy nghĩ và định hướng như vậy, bản thân tôi luôn có ý thức
tìm tòi cách dạy để học sinh yêu thích môn văn phấn đấu đạt tới các đích mà
mình mong muốn.
Với bài viết này tôi mạnh dạn xin đưa ra một vài kinh nghiệm nhỏ của bản
cuộc vận động: “Mỗi thầy, cô giáo là tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo”,
“Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.
Mặt khác, trong quá trình nghiên cứu, xây dựng đề tài, tôi nhận thấy học
sinh cũng đã từng bước được nâng cao chất lượng về kiến thức và ngày càng
yêu thích môn học hơn. Do đó, bản thân tôi luôn nỗ lực tìm các giải pháp hữu
hiệu nhất, mới nhất phù hợp với năng lực học sinh để phát huy hiệu quả này
nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy môn Ngữ văn. Đặc biệt đối với đối tượng
là học sinh lớp 9 thì ngoài kiến thức cơ bản, các em rất cần đến khả năng cảm
thụ các tác phẩm văn học để có “vốn” cho việc thi vào lớp 10 THPT cũng như
sau này học lên cấp III.
2. PHẦN NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lí luận.
Như chúng ta đã biết, văn học xuất phát từ đời sống, vì vậy văn học rất
gần gũi với con người. Những bài thơ hay, những tác phẩm hấp dẫn đó giúp cho
giờ văn không chỉ là giờ học mà còn là những giờ giải trí khám phá biết bao điều
kì diệu của cuộc sống. Tuy nhiên có những tác phẩm người ta đọc một lần rồi
sau đó mãi mãi để trong quên lãng, nhưng có những tác phẩm người ta đọc đi
đọc lại mãi mà không muốn thôi. Đó là sức hấp dẫn từ bản thân tác phẩm và
một điều quan trọng nữa là hứng thú, kĩ năng cảm nhận ở mỗi người khi đến với
tác phẩm văn học. Để có giờ văn ấn tượng, hấp dẫn, đọng lại trong tâm hồn các
em học sinh, các em yêu thích môn học và việc “cảm thụ” được những cái hay,
cái đẹp của tác phẩm văn chương là rất quan trọng đòi hỏi người thầy chủ động,
sáng tạo và hết sức linh hoạt trong thiết kế bài và quá trình giảng dạy.
Mặt khác, đối với học sinh bậc phổ thông nói chung và bậc THCS nói
riêng, mà nhất là đối với học sinh lớp 9, ở vào độ tuổi này bản thân các em rất
giàu cảm xúc và trí tưởng tượng lại vô cùng phong phú. Việc cảm thụ và tiếp
nhận vẻ đẹp muôn màu của cuộc sống hàng ngày cũng như trong tác phẩm văn
chương đang chuyển dần từ cảm tính sang lí tính. Đây là giai đoạn các em bộc lộ
sinh lớp 9 nói riêng còn rất hạn chế: bài viết sơ sài, nghèo ý, chưa sâu sắc, nhiều
em khi cảm thụ tác phẩm thơ thì hầu như chỉ diễn xuôi các câu thơ, với truyện
thì kể lại cốt truyện…chứ chưa cảm nhận được cái hay, cái đẹp mà tác phẩm
đem lại qua ngôn từ, chi tiết, hình ảnh, hệ thống nhân vật, học sinh hầu như cảm
xúc khô khan, không có cảm xúc, thường dùng ngôn ngữ nói khi viết văn. Bởi
những nét khái quát về tác phẩm không nắm được thì không có gì để viết, dẫn
đến bài viết nghèo; ý viết trần trụi, khô khan; nghĩ sao viết vậy chứ không biết
gọt dũa, không biết dùng các biện pháp tu từ thích hợp để cho bài viết sinh động.
Thứ tư: Hầu như giáo viên chỉ quan tâm đến việc cung cấp kiến thức chứ
chưa chú ý đúng mức đến việc hình thành phát triển những năng lực cảm thụ
văn học cho học sinh. Vì thế, đến giờ kiểm tra, nếu tách rời tài liệu thì bài văn
chẳng có nội dung gì ngoài những ý khô khan, gượng ép. Đối mặt với một tác
phẩm văn học dạt dào cảm xúc nhưng có rất ít học sinh biết rung động, biết hoà
mình vào mạch cảm xúc ấy.
Thứ năm: Nhìn chung, giáo viên chưa có nhiều phương pháp, biện pháp
cụ thể thiết thực trong việc rèn luyện phân tích, cảm thụ văn học cho học sinh
THCS nói chung, học sinh lớp 9 nói riêng.
2.3. Các giải pháp, biện pháp tổ chức thực hiện:
2.3.1. Giải pháp2:
1.1. Giáo viên cần vận dụng sáng tạo các phương pháp dạy học tích cực
phù hợp như đặt câu hỏi gợi cảm xúc, liên tưởng, tưởng tượng.
1.2. Chú ý đến đối tượng học sinh, dù là đối tượng học sinh như thế nào
thì mức độ tiếp thu kiến thức của học sinh có sự khác nhau. Từ đó xác định học
sinh yếu kiến thức, kĩ năng nào để tìm nguyên nhân, biện pháp khắc phục còn
đối với học sinh giỏi bồi dưỡng nâng cao kiến thức cho các em để tạo hứng thú
trong việc học tập bộ môn.
1.3. Giáo viên hướng dẫn cách học cụ thể chi tiết cho học sinh:
Cần hướng dẫn học sinh ghi chép sao cho đúng, đủ, khoa học, dễ học.
Phần số tiêt, tên bài, đề mục cần phải ghi sao cho nổi bật đễ nhận thấy.
1.4. Giáo viên hướng dẫn học sinh xác định nội dung học tập các tác phẩm
cái đẹp của tác phẩm qua những tín hiệu nghệ thuật như: các biện pháp tu từ,
những từ ngữ, hình ảnh già sắc thái biểu cảm… để làm rõ nội dung hơn là cứ
phân tích nội dung một cách tràn lan.
2.3.2.2. Hướng dẫn học sinh nhận biết một số tín hiệu, dụng ý mà các nhà
văn, nhà thơ muốn gửi gắm trong các tác phẩm của mình.
Để có cái nhìn đúng đắn, toàn diện khi tiếp cận tác phẩm trong chương
trình Ngữ văn 9, giáo viên cần cho học sinh thấy được mối quan hệ giữa
« cảnh » và « tình » trong dụng ý tả cảnh của tác giả. Điều này đã được Đại thi
hào Nguyễn Du thể hiện rất rõ trong thiên kiệt tác Truyện Kiều :
Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ?
Ví dụ như trong đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” (trích Truyện Kiều),
ngòi bút của Nguyễn Du hết sức tài tình trong việc sử dụng bút pháp tả cảnh và
tả cảnh ngụ tình. Những hình ảnh: non xa, trăng gần, cát vàng, bụi hồng là
những cảnh thực mà Kiều cảm nhận được nhưng cũng là những hình ảnh mang
tính chất ước lệ gợi sự mênh mông, rợn ngợp của không gian, qua đó diễn tả tâm
trạng cô đơn, tuyệt vọng của Kiều nơi đất khách quê người. Cụm từ “mây sớm
đèn khuya” gợi thời gian tuần hoàn, khép kín. Không gian, thời gian như giam
hãm con người. Chính vì vậy, mà Kiều rơi vào hoàn cảnh cô đơn tuyệt đối. Tám
câu thơ cuối đoạn trích thể hiện tâm trang buồn lo, hãi hùng của Kiều qua bút
pháp tả cảnh ngụ tình đặc sắc. Cảnh được nhìn từ xa đên gần, âm thanh từ tĩnh
đến đông, màu sắc từ nhạt đến đậm, tâm trạng từ cô đơn đến sợ hãi, tuyệt vọng.
có thể nói, Nguyễn Du đã chọn cách “tình trong cảnh ấy, cảnh trong tình này” để
thể hiện rõ mối quan hệ mật thiết, gắn bó giữa “cảnh” và “tình” trong tác phẩm
của mình.
Hay trong bài thơ “Nói với con” của tác giả Y Phương. Đây là một bài thơ
rất hay về đề tài tình cảm gia đình. Cái hay ở bài thơ nay là Y Phương khi vợ
ông sinh đứa con gái đầu lòng. Bằng tất cả tình thương yêu, Y Phương đã nói lên
tình cảm của cha mẹ dành cho con. Song không chỉ dừng lại ở đó, dụng ý của
bài thơ còn nằm ở chỗ là qua những lời tâm sự với con, tác giả đã nói lên những
bài thơ hay nghị luận về một tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích). Hoặc nếu không
nắm được các mốc lịch sử thì học sinh sẽ không có cơ sở để hiếu một số tác
phẩm.
Ví dụ như: Bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá” của Huy Cận được viết năm
1958, khi đất nước đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp,
miền Bắc được giải phóng và bước vào công cuộc xây dựng cuộc sống mới –
công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Qua bài thơ, ta thấy được không khí hào
hứng, phấn chấn, tin tưởng bao trùm trong đời sống xã hội và ở khắp nơi dấy lên
phong trào phát triển sản xuất xây dựng đất nước.
Hay khi tìm hiểu bài thơ “Viếng lăng Bác” của Viễn Phương, cần biết đến
hoàn cảnh sáng tác bài thơ là vào năm 1976, sau khi cuộc kháng chiến chống Mĩ
kết thúc thắng lợi, đất nước thống nhất, lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng vừa
được khánh thành. Viễn Phương lần đầu tiên ra thăm miền Bắc, vào lăng viếng
Bác. Với lòng thành kính thiết tha, niềm xúc động sâu sắc của nhà thơ và tấm
lòng của đồng bào miền Nam đối với Bác nên nhà thơ đã sáng tác bài thơ.
Hay khi phân tích truyện ngắn “Làng” của nhà văn Kim Lân, cần nhấn
mạnh đến hoàn cảnh sáng tác của truyện là vào năm 1948, đây là thời kì đầu của
cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp của dân tộc. Nếu ta gắn vào bối cảnh
lúc bấy giờ thì học sinh sẽ phần nào năm được nội dung của truyện cũng như
năm được tính cách của nhân vật chính là ông Hai – một người nông dân có tình
yêu làng gắn với tình yêu đất nước. Qua đó, học sinh sẽ thấy được điểm phát
triển về tư tưởng, nhận thức của người nông dân trong lịch sử (ông Hai so với
lão Hạc trong truyện ngắn “Lão Hạc” của Nam Cao và chị Dậu trong đoạn trích
“Tức nước vỡ bờ” (trích “Tắt đèn”) của Ngô Tất Tố).
Qua đó cho thấy rằng, muốn có kiến thức để viết bài và hiểu đúng về tác
phẩm thì việc tìm hiểu tác giả và nắm chắc các mốc lịch sử trong mỗi tác phẩm
là rất quan trọng và không thể thiếu.
2.3.2.4. Hướng dẫn học sinh có cách trần thuật sáng tạo:
làm cho ta thấy được cái hay trong bài thơ, đoạn thơ đó… Muốn thế, khi tiếp
cận đoạn thơ, bài thơ, ta hãy chú ý đến: màu sắc, hình khối, đường nét, âm thanh
mà tác giả đã sử dụng. Gọi tên các biện pháp tu từ và thấy được tác dụng của các
biện pháp tu từ đó, đồng thời chú ý đến nhịp thơ, cách sử dụng từ ngữ, hình
ảnh… Bởi “trong thơ có họa” nên cách miêu tả màu sắc, âm thanh, đường nét,
hình khối… cũng ghóp phần làm nên hình tượng thơ đặc sắc.
Ví dụ như trong khổ thơ đầu bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải:
Mọc giữa dòng sông xanh
Một bông hoa tím biếc
Ơi con chim chiền chiện
Hót chi mà vang trười
Từng giọt long lanh rơi
Tôi đưa tay tôi hứng
Ta thấy trước mắt ta là một bức tranh của mùa xuân xứ Huế với hoa nở,
chim hót, sông xanh, trời cao rộng cùng với những “giọt long lanh”. Vẻ đẹ nao
lòng đó chính là lời mời gọi tha thiết của những người con xứ Huế dành cho
những ai chưa một lần đặt chân đến mảnh đất thơ mộng này. Trong quá trình
phân tích, giáo viên có thể đặt những câu hỏi: Mùa xuân của thiên nhiên xứ Huế
được gợi lên từ những hình ảnh nào? Em hiêu giọt long lanh ở đây là như thế
nào? Qua đó, em có cảm nhận gì về bức tranh xuân của xứ Huế?
Hay để bình giá về chi tiết anh thanh niên trong Lặng lẽ Sa Pa của
Nguyễn Thành Long vì “thèm người” nên ngáng gỗ dọc đường không cho xe đi
qua để gặp và trò chuyện cùng những người qua đường, giáo viên có thể hỏi học
sinh: Có thể hiểu thèm người là cảm giác mà ai cũng có khi phải ở hoàn cảnh
một mình hay cô đơn không? Tại sao tác giả không nói anh rất cô đơn, rất muốn
gặp ai đó để nói chuyện mà lại nói là “thèm người”? Và các em đã bao giờ trải
qua cảm giác này hay chưa? Em nghĩ gì về anh thanh niên? Những câu hỏi dạng
này khiến học sinh phải huy động kinh ngiệm bản thân để soi sáng bản chất
nhà văn, nhà thơ muốn thể hiện trong các tác phẩm của mình.
Chẳng hạn như khi phân tích khổ thơ đầu bài thơ “Sang thu” của Hữu
Thỉnh, giáo viên cần phân tích được cho học sinh: qua những tín hiệu ban đầu
của mùa thu như: mùi hương ổi, gió se lạnh, sương “chùng chình” song Hữu
Thỉnh cũng chỉ “hình như thu đã về” rất nhẹ nhàng, man mác chứ không ồn ào,
gay gắt như trong “Thơ duyên” của Xuân Diệu:
“Thu đến nơi nơi động tiếng huyền”
Hơn thế nữa, trong quá trình viết văn, giáo viên luôn nhắc nhở các em về
tính liên kết giữa các câu trong đoạn văn và giữa các đoạn văn trong một văn
bản. Có nghĩa là khi các em chuyển đoạn hay chuyển ý, giáo viên sẽ định hướng
các em sử dụng các từ ngữ liên kết như: ngoài ra, hơn thế nữa, mặt khác, không
những thế… mà còn…, có thể nói, tóm lại… Làm như vậy, sẽ giúp bài văn của
học sinh trở nên chặt chẽ, liên kết lo gic và có sức thuyết phục.
2.3.2.7. Dùng lời bình đúng thời điểm:
Dùng những lời bình hấp dẫn và đúng chỗ có tác dụng rất lớn trong việc
rèn luyện cảm thụ cho học sinh. Trước hết, nó khiến học sinh có những ấn tượng
sâu sắc khó phai mờ về vẻ đẹp của văn chương; sau đến, rèn luyện khả năng
thẩm định những điểm sáng thẩm mỹ trong văn bản. Biện pháp này cho phép
giáo viên phát huy phẩm chất nghệ sĩ của mình; và cũng vì thế kích thích mầm
sáng tạo của học sinh, tạo nên sự giao lưu về tình cảm trong giờ văn. Nhưng
tuyệt nhiên giáo viên không được lạm dụng biện pháp này, bởi nhiệm vụ chính
của giáo viên là tổ chức để học sinh cảm thụ và lĩnh hội giá trị của văn bản chứ
không phải là trổ tài trình diễn để thôi miên học sinh. Do đó, giáo viên chỉ tung
ra lời bình khi học sinh cảm nhận chưa tới, đánh giá chưa xác đáng và những lời
bình lúc đó có tác dụng hỗ trợ, tiến tới khắc sâu ấn tượng cho học sinh, tạo nên
những khoái cảm thẩm mỹ. Lời bình vì thế, trước hết phải giàu cảm xúc, là sản
phẩm của sự xúc động sâu sắc trước vẻ đẹp của văn bản. Mặt khác, nó phải độc
đáo, giáo viên phải chọn cách nói ấn tượng, ưu tiên tiên những lối diễn đạt giàu
hình ảnh nhằm tác động mạnh đến học sinh.
nhưng lại có ý nghĩa lớn lao. Bởi tấm lòng tác giả luôn hướng tới sự cống hiến
tốt đẹp, bởi một mùa xuân nho nhỏ sẽ vang lên mùa xuân đất trời rộng lớn. Mùa
xuân của tác giả chẳng ồn ào náo nhiệt mà âm thầm lặng lẽ hiến dâng, chẳng
phô trương, không cần ai biết đến, chỉ “Lặng lẽ dâng cho đời”. Ý thức của tác
giả từ một ước nguyện hi sinh, thể hiện sâu hơn bởi tấm lòng nhân hậu, muốn
giúp đời trong âm thầm, lặng lẽ. Hai câu thơ:
“Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc”
Thể hiện tuổi trẻ cống hiến, hi sinh, tuổi già cũng âm thầm cống hiến. Ý
thức về trách nhiệm với quê hương, đất nước, khát vọng được sống, được cống
hiến trở thành một ý thức bất diệt trong tâm hồn tác giả. Tác giả sẽ sống và cống
hiến. Còn sống còn cống hiến. Lời thơ thỏ thẻ, chân tình quá! Tuổi hai mươi
căng tràn nhựa sống hay tuổi già tóc bạc – ý thức trách nhiệm với đất nước vẫn
không thay đổi. Điệp từ “dù là” như là một lời hứa, cũng là một lời tự nhủ với
lương tâm sẽ mãi mãi là mùa xuân nho nhỏ trong mùa xuân rộng lớn của quê
hương đất nước. Đến đây, giáo viên liên hệ đến nhân vật anh thanh niên trong
truyện ngắn “Lặng lẽ Sa Pa” của Nguyễn Thành Long. Đó là con người trẻ tuổi,
vô danh đã góp một phần sức lực nhỏ bé của mình cho quê hương, đất nước. Đó
là sự cống hiến suốt đời, sự cống hiến mãi mãi như nhà thơ Tố Hữu đã viết:
Nếu là con chim, chiếc lá
Thì con chim phải hót, chiếc lá phải xanh
Lẽ nào vay mà không trả
Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình”
(Trích Một khúc ca xuân)
Hay phân tích văn bản “Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn
Dữ, khi phân tích đến chi tiết “cái bóng” trong chuyện, giáo viên nên hướng
dẫn học sinh bình chi tiết này: Có thể nói chi tiết “cái bóng” có vai trò và ý
nghĩa rất quan trọng trong văn bản “Chuyện người con gái Nam Xương”. Nó
là anh thanh niên làm công tác khí tượng một mình trên đỉnh núi cao. Trong cái
không khí lặng im của Sa Pa. Sa Pa mà nhắc tới người ta chỉ nghĩ đến chuyện
nghỉ ngơi lại có những con người ngày đêm lao động hăng say, miệt mài lặng lẽ,
âm thầm, cống hiến cho đất nước.
Hay đến với “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật, giáo
viên cần hướng dẫn học sinh khai thác nhan đề bài thơ ở những vấn đề sau:
Nhan đề bài thơ dài (8 chữ) tưởng như có chỗ thừa, nhưng lại thu hút người đọc
ở cái vẻ lạ, độc đáo của nó. Nhan đề bài thơ đã làm nổi bật một hình ảnh rất độc
đáo của toàn bài và đó là hình ảnh hiếm gặp trong thơ – hình ảnh những chiếc
xe không kính. Vẻ khác lạ còn ở hai chữ “Bài thơ” như sự khẳng định chất thơ
của hiện thực, của tuổi trả hiên ngang, dũng cảm, vượt lên nhiều thiếu thốn,
hiểm nguy của chiến tranh. Hai chữ bài thơ cho thấy rõ hơn cách nhìn, cách khai
thác hiện thực của tác giả.
Bài thơ “Ánh trăng” của Nguyễn Duy: Ánh trăng chỉ một thứ ánh sáng
dịu hiền, ánh sáng ấy có thể len lỏi vào những nơi khuất lấp trong tâm hồn con
người để thức tỉnh họ nhận ra những điều sai trái, hướng con người ta đến với
những giá trị đích thực của cuộc sống. Nhan đề bài thơ mang ý ngiã biểu tượng
- ánh trăng như ánh sáng của hàng nghìn nến đã thắp sáng lên một góc tối của
con người, thức tỉnh sự ngủ quên của con người về nghiã tình thuỷ chung với
quá khứ, với những năm tháng gian lao nhưng rất hào hùng của cuộc đời người
lính.
2.3.2.9. Đối chiếu văn bản với các loại hình nghệ thuật khác:
Một số nhà nghiên cứu khẳng định việc đối chiếu văn bản với các loại
hình nghệ thuật khác có tác dụng làm hiện hình cảm thụ của học sinh, thúc đẩy
học sinh hình thành những ấn tượng về văn bản.
Thông thường, một số giáo viên đối chiếu văn bản với nghệ thuật hội hoạ
hoặc điện ảnh. Tuy nhiên, giáo viên không được lạm dụng, việc sử dụng các
hình ảnh này mang tính chất đối chiếu, so sánh về hai cách cảm thụ, hai cách
nhìn, và hướng tới khơi gợi cảm thụ chứ hoàn toàn không được dùng hình ảnh
làm bài, có làm thì bài viết lan man, không trọng tâm, không đúng và đầy đủ hệ
thống các ý. Vì vậy, kết quả kiểm tra chỉ đạt được:
LỚP
SĨ SỐ
KẾT QUẢ KHẢO SÁT QUA BÀI KIỂM TRA SAU TIẾT HỌC
GIỎI
KHÁ
TRUNG BÌNH
SL
%
SL
%
SL
%
9 35
2
5,7
9
25,7
24
68,6
Đối với học sinh lớp 9 năm học 2015 -2016, khi tôi đã áp dụng đề tài:
“Hướng dẫn học sinh lớp 9 kĩ năng cảm thụ tác phẩm văn học” thì kết quả
khác hẳn. Kết quả bài kiểm tra như sau:
KẾT QUẢ ĐIỀU TRA QUA BÀI KIỂM TRA
+ Kết quả học sinh làm bài thi trong kì thi vào lớp 10 THPT thì điểm thi
môn Ngữ văn cao hơn mặt bằng của huyện.
3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận:
Văn chương dạy bảo chúng ta rất nhiều: Có ích cho tư tưởng tình cảm của
chúng ta. Cuộc đời sẽ đẹp biết bao khi văn chương sống mãi với thời gian và
những người dạy văn học, học văn sẽ vui sướng biết bao khi được tiếp xúc, tìm
hiểu một cách thường xuyên, sâu sắc với văn chương. Văn chương sẽ giúp cho
chúng ta được phát triển toàn diện về nhân cách lẫn tâm hồn. Nhà thơ Tố Hữu đã
nói : “ Dạy văn học, học văn học là một niềm vui sướng lớn. Qua mỗi giờ văn
học, thầy cô giáo có thể làm rung động các em, làm các em yêu đời, yêu lẽ sống
và lớn thêm một chút”.
Vì vậy, hướng dẫn kĩ năng cảm thụ văn học cho học sinh lớp 9 chính là
nâng cao khả năng thưởng thức và đánh giá cái đẹp trong văn chương nghệ thuật
để từ đó các em có khả năng thưởng thức và đánh giá cái đẹp trong đời sống,
biết trân trọng và bảo vệ cái đẹp, có ý thức vươn lên tới một cuộc sống cao đẹp,
giàu ý nghĩa.
Chính điều đó, trong đề tài sáng kiến kinh nghiệm của năm học này, tôi đã
trình bày những việc làm mà tôi đã thực hiện trong giờ giảng của mình cũng có
thể gọi là một vài kinh nghiệm nhỏ của bản thân.
3.2. Kiến nghị:
- Đối với chương trình môn học cần có thêm các tiết tham quan, ngoại
khoá hoặc câu lạc bộ văn học…để học sinh được trải nghiệm từ đó cảm nhận
hiểu văn học và cuộc sống sâu sắc hơn.
- Tổ chức các đợt chuyên đề dạy mẫu để giáo viên học hỏi trao đổi kinh
nghiệm giữa các đồng nghiệp.
Trên đây là một chút kinh nghiệm của bản thân trong dạy học Ngữ văn.
Tôi hi vọng đề tài này sẽ đóng góp một phần nhỏ bé vào việc hướng dẫn học
1.1. Lí do chọn đề tài.........................................................................................1
1.2. Mục đích nghiên cứu..................................................................................1
1.3. Đối tượng nghiên cứu.................................................................................1
1.4. Phương pháp nghiên cứu............................................................................2
1.5. Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm.............................................2
2. PHẦN NỘI DUNG............................................................................................3
2.1. Cơ sở lí luận................................................................................................3
2.2. Thực trạng:.................................................................................................3
2.3. Các giải pháp, biện pháp tổ chức thực hiện:...............................................4
2.4. Hiệu quả:..................................................................................................12
3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.........................................................................14
3.1. Kết luận:...................................................................................................14
3.2. Kiến nghị:.................................................................................................14
TÀI LIỆU THAM KHẢO...................................................................................15
MỤC LỤC...........................................................................................................16