SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM - MÔN NGỮ VĂN
RÈN KĨ NĂNG SO SÁNH TRONG CẢM THỤ TÁC PHẨM VĂN HỌC
CHO HỌC SINH LỚP 9
Tác giả: Bùi Thị Nga
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị: THCS Tây Hồ
Môn:
Ngữ Văn
A. PHẦN MỞ ĐẦU
Ngữ văn là môn học có vai trò rất quan trọng trong đời sống và trong sự
phát triển tư duy của con người. Là môn học thuộc nhóm khoa học xã hội, Ngữ
văn có vị trí đặc biệt trong việc thực hiện mục tiêu chung của nhà trường THCS.
Học Ngữ văn vừa giúp người học hình thành từng bước về trình độ học vấn phổ
thông tạo tiền đề cho các em học ở bậc cao hơn; đồng thời giúp người học phát
triển và hoàn thiện về mặt nhân cách, giúp các em biết yêu cái hay cái đẹp, ghét
cái xấu, biết cách ăn nói, giao tiếp ... trong cuộc sống hàng ngày. Vậy làm sao để
cảm nhận hết cái hay cái đẹp của tác phẩm văn học? Làm sao để từ những nội
dung vấn đề của tác phẩm các em có thể bộc lộ những đánh giá, suy nghĩ riêng
của cá nhân mình qua các bài viết một cách sâu sắc, toàn diện ? Từ đó, ta thấy
trong học Ngữ văn con đường tiếp cận tác phẩm văn học có ý nghĩa vô cùng
quan trọng. Tuy nhiên, với học sinh, khi học và cảm thụ văn học các em còn khá
nhiều lúng túng và bỡ ngỡ, đặc biệt khi các em vận dụng, tích hợp kiến thức để
khám phá thế giới văn chương. Điều này đã trở thành một vấn đề khiến người
giáo viên dạy Ngữ văn luôn trăn trở, tìm tòi những con đường vừa quen vừa dễ
để học sinh vận dụng được tối ưu nhằm đem lại hiệu quả cảm thụ cao.
Thực tế để hướng dẫn học sinh cảm thụ tác phẩm văn học người giáo viên
luôn hướng dẫn các em cần bám vào đặc trưng thể loại để khai thác. Ví dụ như
với các văn bản thơ thì khai thác cần bám vào hình ảnh, ngôn từ, nhịp điệu,…
Với các tác phẩm văn xuôi thì cần cảm thụ ở các phương diện như cốt truyện,
nhân vật, sự việc,… Song làm sao để các em nhớ lâu, cảm thụ sâu sắc thì một
So sánh là một thao tác tư duy. Trong quá trình nhận thức thế giới khách
quan, kĩ năng so sánh bao giờ cũng giúp phát hiện cái mới, cái khác biệt. Đối
với việc phân tích văn học, so sánh thường hướng vào hai mục đích chính:
- So sánh để chỉ ra những nét riêng, nét độc đáo, sáng tạo; phát hiện những vẻ
đẹp văn học không lặp lại, những đóng góp của nhà văn …
- So sánh còn để phát hiện những quy luật chung giữa các tác phẩm, các tác giả,
hoặc các giai đoạn văn học. Việc rút ra những quy luật chung giúp cho nhận
thức của người phân tích về một vấn đề văn học sẽ trở nên sâu sắc hơn, vững
vàng hơn. Đây cũng là cơ sở là nền móng cho những phát hiện mới mẻ khác.
Từ đó so sánh còn là cơ sở để thực hiện thao tác tư duy có mức độ cao
hơn như sự tổng hợp, hệ thống hoá các vấn đề giữa tác phẩm này với tác phẩm
văn học khác hay chính trong một tác phẩm văn học.
Đối với học sinh Trung học cơ sở (THCS) các em được học khái niệm so
sánh ở phạm vi là một phép tu từ từ vựng ở phần kiến thức Tiếng Việt trong
chương trình Ngữ văn 6 tập 2. Song từ tư duy về khái niệm so sánh: so sánh là
đối chiếu sự vật, sự việc này với sự vật, sự việc khác có nét tương đồng để làm
tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt (Ngữ văn 6, tập 2, bài 19, trang 24)
chủ yếu giúp các em phát hiện ra các phép so sánh có trong tác phẩm văn học.
Từ đó học sinh tìm ra tác dụng của biện pháp so sánh trong khả năng biểu đạt
nội dung của văn bản cũng như tài năng sử dụng ngôn ngữ của tác giả. Tuy
ĐỀ TÀI
RÈN KĨ NĂNG SO SÁNH TRONG CẢM THỤ TÁC PHẨM VĂN HỌC
CHO HỌC SINH LỚP 9
2
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM - MÔN NGỮ VĂN
nhiên, trên thực tế từ phép so sánh để các em hiểu và vận dụng thành kĩ năng so
sánh trong quá trình cảm thụ tác phẩm văn học là chưa có một bài dạy riêng mà
(Ngữ văn 8, tập 2, bài 20, trang 29)
Lớp 9:
1. Phân tích, so sánh cảnh mùa xuân trong câu thơ cổ trung Quốc: “Phương
thảo liên thiên bích – Lê chi sổ điểm hoa” (Cỏ thơm liền với trời xanh – Trên
cành lê có mấy bông hoa) với cảnh mùa xuân trong câu thơ: “Cỏ non xanh tận
ĐỀ TÀI
RÈN KĨ NĂNG SO SÁNH TRONG CẢM THỤ TÁC PHẨM VĂN HỌC
CHO HỌC SINH LỚP 9
3
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM - MÔN NGỮ VĂN
chân trời – Cành lê trắng điểm một vài bông hoa” để thấy được sự tiếp thu và
sáng tạo của Nguyễn Du.
(Ngữ văn 9, tập 1, bài 6, trang 87)
2. Cảm nghĩ của em về thế hệ trẻ thời kháng chiến chống Mĩ qua hình ảnh người
lính trong bài thơ “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật ? So
sánh hình ảnh người lính ở bài thơ này và ở bài “Đồng chí” của Chính Hữu.
(Ngữ văn 9, tập 1, bài10, trang 133)
3. Em có nhớ truyện ngắn hay bài thơ nào cũng viết về tình cảm quê hương đất
nước ? Hãy nêu nét riêng của truyện “Làng” so với những tác phẩm ấy.
(Ngữ văn 9, tập 1, bài 13, trang 174)
4. Cảm nhận của em về hình ảnh người lính trong hai bài thơ : “Đồng chí”
(Chính Hữu), “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” (Phạm Tiến Duật).
(Ngữ văn 9, tập 1, bài 15, trang 204)
5. Đọc lại bài “Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ” của Nguyễn Khoa
Điềm (Ngữ văn 9, tập 1, bài 12). Đối chiếu với bài “Con cò” và chỉ ra cách vận
dụng lời ru ở mỗi bài thơ.
(Ngữ văn 9, tập 2, bài 22, trang 48)
có tính bài bản, hệ thống là 0/6 (0%)
Đối với học sinh : Số học sinh được hỏi : 89 em.
- Đã sử dụng kĩ năng so sánh trong cảm thụ tác phẩm văn học là 89/89 (tỉ lệ
100%). Chưa sử dụng kĩ năng so sánh trong cảm thụ tác phẩm văn học là 0/89
(tỉ lệ 0%).
- Hiểu được vai trò của kĩ năng so sánh trong cảm thụ tác phẩm văn học là
20/89 (tỉ lệ 22.5%). Chưa hiểu được vai trò của kĩ năng so sánh trong cảm thụ
tác phẩm văn học là 69/89 (tỉ lệ 77.5%).
- Kết quả bài tập về cảm thụ văn học có sử dụng kĩ năng so đạt trên trung bình là
25/89 (tỉ lệ 28.8%); dưới trung bình là 64/89 (tỉ lệ 71.2%).
Qua điều tra và thực tế trực tiếp giảng dạy, tôi nhận thấy :
Với giáo viên dạy Ngữ văn, rèn kĩ năng so sánh cho học sinh thật sự rất
cần thiết và quan trọng. Tuy nhiên thực tế việc hướng dẫn học sinh kĩ năng này
còn mang tính chủ quan tìm kiếm, mày mò từ kính nghiệm cá nhân nên một số
giáo viên còn e ngại và chưa rèn học sinh vận dụng kĩ năng này nhiều.
Về phía học sinh ở bậc trung học cơ sở nói chung và học sinh khối 9 nói
riêng khả năng cảm thụ tác phẩm bằng kĩ năng so sánh chưa tốt. Phần lớn các
em chỉ cảm nhận bằng cảm tính vai trò của kĩ năng này và vận dụng nó còn tùy
tiện mà chưa có bài bản, khoa học. Hơn nữa trong xu thế xã hội hiện nay, việc
hứng thú với văn học và tạo nên những sản phẩm cảm thụ văn học của học sinh
có giá trị thật sự chưa nhiều ... Vì vậy tôi chọn đề tài Rèn kĩ năng so sánh trong
cảm thụ tác phẩm văn học cho học sinh lớp 9 để nghiên cứu, tìm tòi cách dạy
hữu hiệu và có tính khả thi với mong muốn cải tiến phương pháp dạy học môn
Ngữ văn theo hướng tích cực, đưa lại hiệu quả cao trong dạy và học Ngữ văn.
Từ đó góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trọng tâm mà toàn ngành đã đề ra
trong suốt thời gian qua : nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, hướng dẫn
học sinh học tập tích cực, …
2. Kết quả, hiệu quả của thực trạng trên:
Thực trạng về vận dụng kĩ năng so sánh trong cảm thụ tác phẩm văn học
còn tồn tại như trên đã phần nào hạn chế khả năng tiếp thu, cảm nhận tác phẩm
Duật).
Kết quả trung bình hai bài kiểm tra như sau :
Điểm
Điểm dưới Điểm dưới Điểm dưới Điểm dưới
Sĩ
9 - 10
9 đến 6.5
6 đến 5
5 đến 3
3
Lớp
Tổng
Tổng
Tổng
Tổng
số Tổng
%
%
%
%
%
số
số
số
số
số
9A 35
0
0
4
học sinh đại trà, thì chất lượng học sinh giỏi cũng đạt chưa cao.
Từ thực trạng trên, để giúp HS lớp 9 nâng cao hơn nữa khả năng cảm thụ
các tác phẩm văn học, với mong muốn học sinh lĩnh hội và tiếp thu kiến thức bài
học có chất lượng cao hơn, trong năm học 2009 - 2010 và học kì I năm học 2010
- 2011, tôi đã mạnh dạn cải tiến nội dung, phương pháp dạy học qua đề tài: Rèn
kĩ năng so sánh trong cảm thụ tác phẩm văn học cho học sinh lớp 9.
II. CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN
ĐỀ TÀI
RÈN KĨ NĂNG SO SÁNH TRONG CẢM THỤ TÁC PHẨM VĂN HỌC
CHO HỌC SINH LỚP 9
6
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM - MÔN NGỮ VĂN
Kĩ năng so sánh có thể thực hiện trên nhiều cấp độ: nhỏ thì ở cách dùng
từ, hình ảnh, hình tượng … lớn hơn thì là đề tài, tác phẩm, tư tưởng, phong cách
… Thậm chí có thể so sánh giữa các giai đoạn, thời kì, những đặc điểm của các
nền Văn học. Tuy nhiên, căn cứ vào yêu cầu cảm thụ văn bản trong chương trình
Sách giáo khoa Ngữ văn 9, từ thực tế giảng dạy chúng tôi chỉ xin trình bày một
số kĩ năng so sánh thông dụng khi cảm thụ văn học như: So sánh ở cấp độ hình
ảnh, cấp độ tác phẩm, cấp độ đề tài, cấp độ khuynh hướng tư tưởng.
1. So sánh ở cấp độ hình ảnh
Trong tác phẩm văn học hình ảnh văn học là một nhân tố quan trọng giúp
người đọc (nghe) bước đầu cảm thụ để đi sâu vào khám phá chủ đề tư tưởng.
Khi phân tích hình ảnh của tác phẩm văn học này ta có thể so sánh với những
hình ảnh khác trên cơ sở tương đồng hoặc tương phản. Mục đích của việc hướng
dẫn học sinh so sánh các hình ảnh văn học là để :
- Các em tìm thấy sự tương đồng, gặp gỡ trong cảm xúc về thiên nhiên,
? Hãy kể một vài hình ảnh báo hiệu mùa thu trong các tác phẩm văn học khác
mà em được biết ?
Từ những câu hỏi ở các cấp độ nhận biết, vận dụng, nâng cao sáng tạo qua
kĩ năng so sánh giáo viên từng bước hướng các em cảm thụ được nội dung chính
của đoạn thơ: Trước hết ta có thể thấy hình ảnh bao trùm trong hai câu thơ là
“hương ổi” và “gió se”. Tất cả mọi câu chữ đều được tác giả hướng về và làm
nổi bật “hương ổi” và “gió se”. Sự biến đổi của đất trời sang thu được nhà thơ
bắt đầu từ hình ảnh “hương ổi”. “Hương ổi” là một thứ hương thơm quê mùa
dân dã, quen thuộc. Mùi hương ấy xuất hiện đột ngột, ngỡ ngàng trong cảm
nhận của nhà thơ với dáng vẻ thật gần gũi mà không kém phần mới mẻ, ấn
tượng đem lại cho con người cái cảm giác như là bất ngờ, như là sửng sốt, như
là cái duyên để từ đây nhà thơ vừa có thể quan sát sự xuất hiện của mùa thu
trong đất trời bằng tất cả các giác quan. Từ mùi hương thơm không nồng nàn mà
dìu dịu, nhè nhẹ của ổi chín, Hữu Thỉnh còn nhận ra cái không khí trong lành,
mát mẻ của mùa thu nhờ những cơn gió se. Gió se (gió heo may) là một ngọn
gió heo may rất riêng biệt của mùa thu, cùng với hương ổi, gió se đã làm nên
một không gian mùa thu trở nên thơm mát, ngọt ngào. Những tín hiệu thu về
trong hai câu thơ của Hữu Thỉnh khiến ta chợt nhớ tới các hình ảnh báo hiệu
mùa thu trong các tác phẩm văn học khác. Chẳng hạn như :
Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao
(Nguyễn Khuyến)
rồi :
Ô hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi, vàng rơi, thu mênh mông.
(Bích Khê)
hay :
Sáng mát trong như sáng năm xưa
Gió thổi mùa thu hương cốm mới
(Nguyễn Đình Thi)
định thêm vẻ đẹp của con người, dân tộc Việt Nam và dòng cảm xúc của nhà thơ
được thể hiện trọn vẹn. Điều đó, khiến hình ảnh thơ khép lại bài thơ nhưng có
sức âm vang, lan toả mãi trong lòng người đọc về tình cảm thành kính, xúc động
dành cho Bác Hồ kính yêu cũng như nhân dân, đất nước, con người Việt Nam.
Như vậy, thao tác so sánh các hình ảnh trong thơ, văn chính là chìa khoá
để các em bước vào tìm hiểu và phát hiện ra những vẻ đẹp phong phú của tác
phẩm, mở ra những khả năng khám phá về thế giới hình ảnh kì diệu trong văn
học.
2. So sánh ở cấp độ tác phẩm:
Khi hướng dẫn HS cảm thụ tác phẩm văn học, ngoài việc người GV
hướng dẫn các em cảm thụ văn bản theo đặc thù của từng kiểu văn bản, với các
thể loại văn học khác nhau. Thì sau bước khám phá đó để giúp các em hiểu sâu,
nắm kĩ hơn tác phẩm ta có thể hướng dẫn học sinh thao tác so sánh ở cấp độ tác
phẩm. Mục đích của việc so sánh giữa tác phẩm này với tác phẩm kia để phát
hiện ra :
- Những tác phẩm trước nó để thấy sự kế thừa và cách tân.
- Những tác phẩm sau nó để thấy đặc điểm của văn học thời đại và sự phát triển
của văn học nói chung.
- Những tác phẩm cùng thời để thấy được sự độc đáo.
- Những tác phẩm của chính nhà văn để thấy vẻ riêng, nét riêng hoặc một quy
luật chung nào đó.
ĐỀ TÀI
RÈN KĨ NĂNG SO SÁNH TRONG CẢM THỤ TÁC PHẨM VĂN HỌC
CHO HỌC SINH LỚP 9
9
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM - MÔN NGỮ VĂN
Để làm được điều này, thì giáo viên cũng phải hướng dẫn cho học sinh
không chung thuỷ.
chung thuỷ.
- Vũ Nương bị oan, bèn gieo mình - Vũ Nương bị oan, bèn gieo mình
xuống sông Hoàng Giang tự vẫn.
xuống sông Hoàng Giang tự vẫn.
- Khi hiểu ra nỗi oan của vợ, - Một đêm Trương Sinh cùng con trai
Trương Sinh đã lập đàn giải oan ngồi bên đèn, đứa con chỉ chiếc bóng
cho nàng ở bến sông ấy.
trên tường và nói đó chính là người
hay tới đêm đêm. Lúc đó chàng mới
hiểu ra vợ mình bị oan.
10
ĐỀ TÀI
RÈN KĨ NĂNG SO SÁNH TRONG CẢM THỤ TÁC PHẨM VĂN HỌC
CHO HỌC SINH LỚP 9
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM - MÔN NGỮ VĂN
- Phan Lang tình cờ gặp lại Vũ Nương
dưới thuỷ cung. Khi Phan Lang trở về
trần gian, Vũ Nương gửi chiếc hoa
vàng cùng lời nhắn cho Trương Sinh.
- Trương Sinh lập đàn giải oan trên bến
Hoàng Giang. Vũ Nương trở về ngồi
trên chiếc kiệu hoa đứng giữa dòng,
lúc ẩn, lúc hiện.
Qua so sánh rút ra kết luận:
- Truyện cổ tích chỉ thiên về kể những sự kiện dẫn đến nỗi oan khuất của Vũ
Nương.
- Trên cơ sở cốt truyện “Vợ chàng Trương”, trong “Chuyện người con gái Nam
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM - MÔN NGỮ VĂN
Để sáng tác văn học, người nghệ sĩ không thể không lựa chọn đề tài sáng
tác. Đề tài là “Phạm vi các sự kiện tạo nên cơ sở chất liệu đời sống của tác
phẩm, đồng thời gắn với việc xác lập chủ đề của tác phẩm” (theo Lại Nguyên
Ân – “150 Thuật ngữ văn học”). Bởi vậy khi hướng dẫn học sinh phân tích văn
học, chúng ta cũng cần rèn cho các em cách so sánh ở cấp độ đề tài tiến hành
theo các bước:
- Xác định đề tài của tác phẩm đang cảm thụ, phân tích.
- So sánh cách khai thác đề tài trong tác phẩm với các tác phẩm khác (có thể so
sánh đề tài với các tác phẩm của tác giả khác hoặc của chính tác giả)
Cách so sánh này nhằm:
- Phát hiện sự gặp gỡ về đề tài giữa các tác phẩm.
- Phát hiện ra cách xử lí đề tài của các tác giả.
- Sự đóng góp về đề tài từ các tác phẩm đối với nền văn học dân tộc.
Thực tế khi đọc tác phẩm văn học, học sinh dễ dàng nhận ra giữa các tác
phẩm tuy không cùng tác giả, không được sáng tác cùng thời nhưng giữa các bậc
văn nhân lại có thể có cùng sự gặp gỡ ở sự ngẫu nhiên về đề tài sáng tác. Song
cùng một đề tài nhưng cách xử lí để tài của các tác giả lại khác nhau. Ví dụ
cùng viết về đề tài người nông dân trước cách mạng nhưng Ngô Tất Tố, Nam
Cao, Kim Lân, … lại có những khám phá rất khác nhau. Cùng lấy mùa thu làm
cảm hứng nhưng Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến, Tản Đà, Lưu Trọng Lư, Hữu
Thỉnh, … lại có những cảm nhận riêng. Thậm chí ở cùng một tác giả, mùa thu
cũng được phát hiện với bao vẻ đẹp phong phú. Chính vì vậy khi phân tích tác
phẩm văn học để giúp các em cảm nhận sâu giá trị nghệ thuật và có cái nhìn bao
quát toàn bộ tác phẩm thì kĩ năng so sánh ở cấp độ đề tài có vai trò rất đắc dụng.
Bởi vì điều quan trọng trong văn học không phải là đề tài mà là cách xử lí đề tài
của tác giả.
Ví dụ như khi hướng dẫn học sinh khai thác bài thơ “Con cò” của nhà thơ
Chế Lan Viên, giáo viên giúp học sinh phát hiện cách khai thác đề tài thơ của
xưa” Nguyễn Duy lại khẳng định:
Cái cò … sung chát đào chua…
câu ca mẹ hát gió đưa về trời
ta đi trọn kiếp con người
cũng không đi hết mấy lời mẹ ru.
Với nhà thơ xứ Thanh này từ niềm hoài niệm, tưởng nhớ về cuộc đời vất
vả lam lũ của người mẹ yêu dấu, con đã nhận ra tình mẹ qua lời ru và cả ý nghĩa
của những lời hát ru.
Hay cũng vận dụng từ lời ru để thể hiện tình mẹ, trong “Khúc hát ru
những em bé lớn trên lưng mẹ” Nguyễn Khoa Điềm lại vừa trò chuyện với đối
tượng (những em bé dân tộc Tà-ôi trên lưng mẹ) với giọng điệu gần như lời ru
“Em cu Tai ngủ trên lưng mẹ ơi/Em ngủ cho ngoa đừng rời lưng mẹ” lại có
những lời ru trực tiếp từ người mẹ “Ngủ ngoan a-kay ơi, ngủ ngoan a-kay hỡi”.
So sánh với những cách diễn tả trên, ta sẽ thấy được nét mới mẻ và độc
đáo trong cách nói của Chế Lan Viên. Vốn là người có nhiều sáng tạo trong nghệ
thuật xây dựng hình ảnh thơ, nên hình ảnh thơ của ông rất phong phú đa dạng,
kết hợp giữa thực và ảo, thường được sáng tạo bằng sức mạnh của liên tưởng,
tượng tượng, nhiều bất ngờ kì thú. Bài thơ “Con cò” đã thể hiện khá rõ một số
nét phong cách nghệ thuật của Chế Lan Viên: phong cách suy tưởng, triết lí, đậm
chất trí tuệ và tính hiện đại.
Chính từ cách so sánh đề tài giữa các tác phẩm như thế này, ta không chỉ
giúp các em nhận ra cách khai thác đề tài của tác giả mà còn phát hiện được tài
năng của các thi nhân, văn nhân qua cách xử lí đề tài.
13
ĐỀ TÀI
RÈN KĨ NĂNG SO SÁNH TRONG CẢM THỤ TÁC PHẨM VĂN HỌC
CHO HỌC SINH LỚP 9
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM - MÔN NGỮ VĂN
tình đồng chí của những người lính dựa trên cơ sở cùng
“Đồng chí”
chung cảnh ngộ và lí tưởng chiến đấu được thể hiện thật tự
nhiên, bình dị mà sâu sắc trong mọi hoàn cảnh, nó góp
phần quan trọng tạo nên sức mạnh và vẻ đẹp tinh thần của
người lính cách mạng.
“Đoàn thuyền - Tinh thần yêu nước là sự phát hiện ra vẻ đẹp của thiên
đánh cá”
nhiên vùng biển, sự hài hoà giữa thiên nhiên và con người
lao động, bộc lộ niềm vui, niềm tự hào của nhà thơ trước
14
ĐỀ TÀI
RÈN KĨ NĂNG SO SÁNH TRONG CẢM THỤ TÁC PHẨM VĂN HỌC
CHO HỌC SINH LỚP 9
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM - MÔN NGỮ VĂN
đất nước và cuộc sống.
- Tinh thần yêu nước là sự thể hiện thành công về vẻ đẹp
“Bài thơ về
của anh bộ đội Cụ Hồ thời chống Mĩ ở hình ảnh những
tiểu đội xe
người lính lái xe ở Trường Sơn, với tư thế hiên ngang, tinh
không kính” thần lạc quan, dũng cảm, bất chấp khó khăn nguy hiểm và
ý chí chiến đấu giải phóng miền Nam.
Từ cách đối chiếu so sánh tư tưởng yêu nước trong các tác phẩm văn học
giáo viên vừa giúp học sinh nhận ra khả năng cảm nhận đời sống và tài năng văn
học của mỗi tác giả. Đồng thời các em khái quát được cái chung từ những tác
phẩm có cùng biểu hiện tư tưởng ấy là: Tinh thần yêu nước và ý thức cộng đồng
là nét đẹp truyền thống sâu sắc và bền vững của dân tộc Việt Nam. Truyền thống
ĐỀ TÀI
RÈN KĨ NĂNG SO SÁNH TRONG CẢM THỤ TÁC PHẨM VĂN HỌC
CHO HỌC SINH LỚP 9
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM - MÔN NGỮ VĂN
mạng tháng Tám ở Việt Nam với sưu cao thuế nặng khiến
người dân lâm vào tình cảnh khốn đốn, cùng cực. Bên
cạnh đó là sự ca ngợi những giá trị và phẩm chất của con
người. Cùng với sự thông cảm và trân trọng của tác giả về
người nông dân trong xã hội cũ, ông còn cho thấy cả sự
tất yếu của quy luật xã hội: có áp bức thì có đấu tranh
như là quy luật của tự nhiên: tức nước vỡ bờ. Vì thế “Tức
nước vỡ bờ” (“Tắt đèn”) được coi là bản án đanh thép về
chính sách thuế má bất công, vô lí đương thời. Qua đoạn
trích này dường như nhà văn đã lờ mờ nhận ra con đường
để giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc chỉ có thể là
bằng đấu tranh bằng bạo lực cách mạng.
- Với của nhà văn Nam Cao, ông lại đặc biệt quan tâm tới
nhân tính, nhân phẩm của con người. Chính vì vậy ông đi
sâu vào phân tích những bi kịch tinh thần của con người
trong sự lựa chọn giữa sự sống - cái chết và nhân cách con
người.Lão Hạc rơi vào hàng loạt những bi kịch. Vợ mất,
con cũng phẫn chí bỏ làng, bỏ mình đi vì cái nghèo khiến
nó không có tiền cưới được vợ. Mọi tình cảm dành cho
con ông gửi cả vào kỉ vật nó để lại là con chó, nhưng lại
một lần nữa cái đói nghèo lại cướp con chó ra khỏi lão
khiến lão thêm một lần đau đớn, dằn vặt… Bán chó có
tiền rồi nhưng lão lại phân vân, xót xa khi nghĩ đến ăn vào
“Lão Hạc”
nhà văn chân chính nhưng với mỗi tác giả cụ thể ta có thể thấy có những nét đặc
sắc riêng. Chính vì mục đích sáng tác là vì con người và phục vụ con người nên
các tác phẩm văn học dẫu ra đời không cùng thời đại hay thời gian cách xa nhau
cả hàng mấy trăm năm, thậm chí hàng ngàn năm… song ở họ đều có mối liên hệ
gần gũi, tương đồng. Mối gắn kết kì diệu đó chính là sự gặp gỡ nhau ở cảm xúc,
ở các khuynh hướng tư tưởng. Chính vì vậy, khi hướng dẫn học sinh khai thác
một tác phẩm văn học, người dạy cần hướng dẫn học sinh mở rộng ra ngoài tác
phẩm bằng cách liên hệ so sánh khuynh hướng tư tưởng giữa các tác phẩm với
nhau.
Từ cách so sánh các khuynh hướng tư tưởng giữa các tác phẩm, không chỉ
giúp học sinh củng cố sâu hơn tư tưởng của tác phẩm đang cảm thụ mà còn giúp
các em mở rộng khả năng cảm thụ, có cái nhìn đa dạng phong phú hơn về phạm
vi kiến thức từ một tác phẩm. Làm được điều này, chính là người giáo viên đang
giúp các em phát huy trí tưởng tượng và sáng tạo tư duy trong học tập.
C. PHẦN KẾT LUẬN
1. Kết quả nghiên cứu, bài học kinh nghiệm:
Trong quá trình thực hiện chúng tôi nhận thấy học sinh hứng thú hơn với
bộ môn Ngữ văn, đặc biệt là phần cảm thụ văn bản. Hướng dẫn cho học sinh
thực hiện được các bước của kĩ năng so sánh trong cảm thụ tác phẩm văn học
qua thực hành các bài tập thì năng lực làm bài của học sinh cũng có những tiến
bộ rõ rệt. Sau đó tôi tiếp tục tiến hành điều tra việc hiểu biết và vận dụng kĩ năng
so sánh trong tác phẩm văn học ở học sinh thì đã có kết quả khả quan như sau:
Số học sinh được hỏi : 89 em.
- Hiểu được vai trò của kĩ năng so sánh trong cảm thụ tác phẩm văn học là 89/89
(tỉ lệ 100 %). Chưa hiểu được vai trò của kĩ năng so sánh trong cảm thụ tác
phẩm văn học là 0/89 (tỉ lệ 0 %).
17
ĐỀ TÀI
RÈN KĨ NĂNG SO SÁNH TRONG CẢM THỤ TÁC PHẨM VĂN HỌC
%
%
%
số
số
số
số
số
9A 30
2
6.7
7
23.3 10 33.3 11 36.7
0
0.0
9B
33
1
3.0
8
24.3
11
33.3
số
số
9A 20
0
0.0
6
30.0 11
55
3.0 15.0
0
0.0
9B
21
3
14.3
5
23.8
13
61.9
0.0
0.0
sánh phải trở thành một phản xạ thường trực trong tư duy.
Tuy vậy, để kĩ năng so sánh thực sự đạt hiệu quả trong quá trình cảm thụ
văn bản, chúng tôi nghĩ rằng cần lưu ý một số yêu cầu sau:
- So sánh phải hợp lí - nghĩa là đối tượng so sánh phải cùng một bình diện, một
cấp độ như: chi tiết, hình ảnh, đề tài, nhân vật … Tính hợp lí của so sánh không
thừa nhận sự tuỳ tiện, thiếu khách quan, thiếu cơ sở khoa học.
- So sánh phải có tính phát hiện, phải tìm ra được nét mới. Nghĩa là so sánh có
mục đích, không nửa vời.
- So sánh phải có mức độ, chừng mực, phù hợp với phạm vi biểu hiện của đối
tượng.
Thực hiện đề tài Rèn kĩ năng so sánh trong cảm thụ tác phẩm văn học
cho học sinh lớp 9 là cách mà từng bước chúng tôi hình thành, rèn luyện năng
lực văn học ở học sinh. Từ đó giúp các em thấy được vẻ đẹp của văn học, của
đời, có tình cảm yêu thích bộ môn Ngữ văn và tình yêu văn học. Vì vậy, trong
khuôn khổ của sáng kiến kinh nghiệm của cá nhân, tôi xin trân trọng giới thiệu
cách thực hiện này tới các đồng nghiệp với mong muốn góp một phần nhỏ vào
việc cải tiến phương pháp giảng dạy và nâng cao chất lượng bộ môn Ngữ văn
ngày càng tốt hơn.
2. Kiến nghị, đề xuất.
Chương trình thay sách giáo khoa của ngành giáo dục là một sự chuyển
mình rất mạnh mẽ, mang lại những tiến bộ tích cực, thu hút được rất nhiều sự
quan tâm của các cấp, ngành và nhân dân. Với vai trò là giáo viên trực tiếp giảng
dạy Ngữ văn THCS nói chung và Ngữ văn 9 nói riêng. Tôi xin mạnh dạn có một
số kiến nghị đề xuất:
- Trong chương trình Ngữ văn 9 được xem là điểm kết thúc cho vòng 2 của
chương trình THCS. Nó vừa tổng kết kiến thức, kĩ năng được học tập và rèn
luyện trong bốn năm học cho HS vừa chuẩn bị cho kì thi cuối khoá; đồng thời
tạo tâm thế, tiềm lực cho người học lên PTTH hoặc đi vào cuộc sống. Cho nên
19
ĐỀ TÀI