MỤC LỤC
Nội dung
Trang
MỤC LỤC
1
A. PHẦN MỞ ĐẦU……………………………………………............
2
I. Lý do chọn đề tài:……………………………………………….........
2
II. Mục đích nghiên cứu:……………………………………………......
2
III. Đối tượng nghiên cứu........................................................................
3
IV. Phương pháp nghiên cứu:………………………………………......
3
V. Những điểm mới của SKKN...............................................................
III. Các giải pháp thực hiện để giải quyết vấn đề .................................
6
1. Hướng dẫn học sinh nắm vững đặc điểm chung của văn nghị luận
2. Rèn cho học sinh nắm vững yêu cầu, bố cục của bài văn nghị luận
giải thích……………………………………………………………......
3. Rèn cho học sinh các phương pháp kỹ năng làm bài văn giải thích…
3.1. Rèn kỹ năng tìm hiểu đề trong bài văn nghị luận giải thích……….
3.2. Rèn kỹ năng xác lập luận điểm cho bài văn nghị luận giải thích….
3.3. Rèn kỹ năng lập dàn bài……………………………………………
3.4. Rèn kỹ năng viết đoạn……………………………………………...
3.4.1. Rèn kỹ viết đoạn văn giải thích……………………………….
3.4.2. Rèn kỹ năng đưa dẫn chứng trong bài văn lập luận giải thích…...
IV. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm……………………………….
C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ……………………………………….
1. Kết luận……………………………………………………………..
2. Kiến nghị …………………………………………………………..
Tài liệu tham khảo……………………………………………………..
Các đề tài SKKN đã được Hội đồng đánh giá xếp loại cấp Phòng
6
8
8
8
10
12
12
13
Tạo lập một bài văn nghị luận là công việc cần thiết, tạo nền tảng vững
chắc cho học sinh trong quá trình làm văn sau này. Đặc biệt, nghị luận giải thích
là một trong những kiểu bài khó nhất của chương trình ngữ văn 7. Đây cũng là
kiểu bài có tính chất tiền đề cho học sinh học tập dạng bài nghị luận xã hội ở các
lớp tiếp theo. Trước yêu cầu đó, người thầy luôn trăn trở để tìm ra những giải
pháp, phương pháp phù hợp nhằm mang lại hiệu quả cao trong việc dạy và học.
Trong đó, rèn kỹ năng làm kiểu bài là khâu then chốt. Việc tìm hiểu, nghiên cứu
các biện pháp hình thức để rèn kỹ năng, cách làm bài văn nghị luận giải thích cho
học sinh lớp 7 đã và đang trở thành một yêu cầu cấp thiết, có ý nghĩa khoa học và
thực tiễn.
Chọn đề tài: Một số kinh nghiệm dạy kiểu bài làm văn nghị luận giải
thích cho học sinh lớp 7, tôi mong muốn đóng góp một phần nhỏ hiểu biết và
công sức của mình vào việc nâng cao chất lượng làm văn của học sinh, tiến tới
nâng cao chất lượng dạy học Ngữ văn ở trường THCS.
II. Mục đích nghiên cứu.
Nghiên cứu đề tài này nhằm mục đích giúp người dạy Văn tìm ra một con
đường gần nhất và hiệu quả nhất đến với kĩ năng viết bài của học trò. Đối với
môn Ngữ văn, học tập là để hướng đến năng lực cơ bản là nói và viết. Kĩ năng
viết được xem là sản phẩm quan trọng của người học văn. Đó chính là công cụ
cho bất kì ai thuộc bất kì lĩnh vực nào trên hành trình cuộc sống của mỗi người.
Đề tài hướng đến giúp học sinh xác định rõ cách thức tiến hành, nội dung cơ bản
cần có trong một bài văn nghị luận. Vận dụng đề tài vào thực tiễn giúp học sinh
tự tin trước mỗi đề văn. Học trò sẽ tự tin, chủ động hơn khi đã có câu trả lời cho
câu hỏi: viết thế nào?
Giải quyết một đề tài cũng là một quá trình không ngừng học hỏi, tìm tòi
và sáng tạo của người dạy. Trải qua thử nghiệm, thay đổi để cuối cùng vận dụng
vào thực tế dạy học có kết quả cũng là một cách tự học, tự bồi dưỡng nhằm nâng
cao trình độ, đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện của ngành giáo dục nói
chung và nâng cao chất lượng dạy học bộ môn Ngữ văn nói riêng.
III. Đối tượng nghiên cứu.
Thay đổi nội dung kiến thức: Trong đề tài cũ, nội dung kiến thức mà
tôi rèn luyện cho học sinh là kiểu bài làm văn nghị luận nói chung. Trong bài
viết này, tôi chủ yếu hướng dẫn học sinh kỹ năng làm bài văn nghị luận giải
thích.
Để đáp ứng yêu cầu đổi mới về phương pháp trong dạy học môn Ngữ
văn cấp THCS, tôi đã bổ sung, đưa ra các giải pháp để rèn học sinh kỹ năng
viết đoạn văn giải thích, kỹ năng đưa dẫn chứng khi giải thích, kỹ năng lập
dàn bài, kỹ năng xác định và triển khai luận điểm cho bài làm văn nghị luận
giải thích.
B. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
I. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
Trước yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học, người thầy phải phát huy
được tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc
4
trưng môn học, đặc điểm đối tượng học sinh; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến
thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách
nhiệm học tập cho học sinh. Dạy học Ngữ văn rất cần chú trọng dạy chữ, dạy
người và hướng nghiệp. Một trong ba mục tiêu của môn Ngữ văn là: “Trang bị
những kiến thức phổ thông, cơ bản, hiện đại, có tính hệ thống về ngôn ngữ và
văn học, phù hợp với trình độ phát triển của lứa tuổi và yêu cầu đào tạo nhân lực
trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. Cụ thể hơn, mục tiêu môn
Ngữ văn trong thời đại mới là "biết để làm". Môn Ngữ văn không chỉ là môn
"bồi dưỡng tâm hồn" mà quan trọng hơn là môn "công cụ" để học sinh có thể vận
dụng những kiến thức và kỹ năng đã học ứng dụng vào trong cuộc sống. Phân
môn Tập làm văn rèn luyện cho học sinh các kĩ năng sản sinh ra văn bản (nói và
viết). Nhờ vậy, phân môn này đã góp phần hiện thực hóa mục tiêu quan trọng
bậc nhất của việc dạy và học. [1]
Ở bài làm văn của các em còn lan man, chưa biết xác định luận điểm chính,
chưa biết chia đoạn và lập luận cho bài văn, dẫn chứng chưa sát với yêu cầu đề
5
bài. Đặc biệt, bài văn nghị luận giải thích của học sinh chưa có sức thuyết phục
vì các em chưa nắm được bản chất, phương pháp giải thích.
Trên thực tế, ở địa bàn nông thôn và miền núi, do điều kiện chủ quan và
khách quan, khả năng làm bài văn nghị luận của các em còn nhiều hạn chế. Thực
tế giảng dạy tôi thấy: Chỉ được 30% học sinh biết triển khai, giải thích, lập luận
vấn đề nghị luận, viết đúng yêu cầu về nội dung và hình thức. Số còn lại, các em
viết sơ sài, lủng củng, có bài viết rất dài thì sa vào lan man, nhớ gì viết nấy.
Nguyên nhân sâu xa là các em chưa có ý thức suy ngẫm, liên hệ, giải thích vấn
đề nghị luận.
Hiện nay, chương trình sách giáo khoa Ngữ văn đổi mới đã chú ý đến tiết
luyện tập, điều này, tạo cho học sinh khả năng lập ý, lập luận ở nhà. Nhưng việc
chuẩn bị bài của học sinh chỉ qua loa, chiếu lệ. Đến lớp giáo viên lại phải dành
thời gian định hướng lại cách lập ý cho học sinh, chưa có nhiều thời gian để rèn
kĩ năng, hướng dẫn học sinh thực hành nên mục tiêu dạy học chưa được đáp ứng.
1.2. Về giáo viên:
Người dạy chưa chú trọng đến việc rèn kỹ năng cho học sinh. Thông
thường, giáo viên nghĩ: Học sinh làm văn nghị luận yếu là do khó, có thể tiến bộ
dần ở lớp 8, 9 .
Giáo viên chưa có kinh nghiệm dạy phân môn Tập làm văn, bởi phân môn
này rất khó. Nhiều giáo viên có quan điểm là coi trọng giờ đọc hiểu hơn phân
môn Tiếng Việt và Tập làm văn, cho nên việc đầu tư còn bị coi nhẹ.
2. Kết quả của thực trạng:
Kết quả chấm bài Tập làm văn số 6 (văn nghị luận giải thích) Lớp 7A, 7B
trường THCS Thành Vân năm học 2014 - 2015 như sau:
Lớp
SL
59,3% 4
50%
9
Kém
TL
SL
14,8% 0
40,9% 1
TL
0
4,5%
Nhìn vào bảng số liệu khảo sát ta thấy: Số học sinh làm được và làm tốt bài
văn nghị luận giải thích rất ít. Những bài làm chưa đạt yêu cầu, các em thường
mắc những lỗi cơ bản sau:
- Bài văn chưa sát với đề bài, lập luận chưa chặt chẽ, giải thích vấn đề còn sơ sài.
- Bài làm lan man, chưa đủ ý.
- Hành văn còn lủng củng, chưa có sức thuyết phục.
- Sau giải thích, học sinh chưa biết liên hệ, đánh giá.
Vì vậy, để rèn tốt kĩ năng làm bài nghị luận giải thích cho học sinh lớp 7 đòi
hỏi giáo viên phải sắp xếp thời gian để hướng dẫn, rèn kĩ năng cho học trò; tranh
thủ thời gian của các giờ tự chọn, các giờ ôn luyện, phụ đạo; lên phương án khoa
học để cùng với học sinh khám phá, giải quyết các dạng đề cơ bản một cách bài
bản và đúng hướng.
III. Các giải pháp thực hiện để giải quyết vấn đề.
1. Hướng dẫn học sinh nắm vững đặc điểm chung của văn nghị luận.
Trước hết, chúng ta cần hướng dẫn học sinh nắm vững đặc điểm sau của
luận giải thích cần hiểu ở các khía cạnh: Giải thích là giảng giải cho cặn kẽ, chú
thích thêm sáng tỏ. Kiểu bài nghị luận giải thích là kiểu bài trình bày các lí lẽ để
giảng giải có kèm theo dẫn chứng cần thiết cho lí lẽ thêm vững chắc, giúp người
đọc hiểu rõ thêm vấn đề đã nêu ra
Trong chương trình, tiết học 104 tuy có lí thuyết chung cho nghị luận giải
thích nhưng còn rất đơn giản, chung chung. Ngoài những điều sách giáo khoa
trình bày về nghị luận giải thích như: Nêu định nghĩa, kể ra các biểu hiện, so
sánh, đối chiếu với các hiện tượng khác, chỉ ra các mặt lợi hại của vấn đề…làm
cho người đọc hiểu rõ các tư tưởng đạo lí, phẩm chất, quan hệ… giáo viên cần
giới thiệu thêm một số điều cần lưu ý khi làm văn nghị luận giải thích( nên dạy ở
những buổi học ôn) để các em nắm rõ hơn vấn đề, trước khi thực hiện tạo lập văn
bản.
Vậy, yêu cầu trước khi làm bài văn nghị luận giải thích là gì? người dạy
cần giúp học sinh cần nắm được:
Trước hết, phải xác định đúng vấn đề cần giải thích, tránh tình trạng nói
chung chung quanh đề bài. Muốn vậy, cần phải học nhiều, đọc nhiều, vận dụng
tổng hợp các thao tác giải thích cho phù hợp.
Phải phát hiện vấn đề của đầu bài có những khía cạnh cần giải thích (hoặc
có những từ, khái niệm nào cần giảng giải) mối quan hệ giữa các khía cạnh đó
7
Có một hệ thống lí lẽ kèm theo dẫn chứng cần thiết để giảng giải cho cặn
kẽ vấn đề cần giải thích. Bài văn giải thích phải mạch lạc, lớp lang, ngôn từ trong
sáng, dễ hiểu. Không nên dùng những điều không ai hiểu để giải thích những
điểu người ta chưa hiểu.
Trong phép lập luận giải thích, dẫn chứng khác với lập luận chứng minh ở
chỗ:
+ Về mục đích và mức độ, dẫn chứng chỉ đóng vai trò phụ trợ, bổ sung, làm nổi
bật một số lí lẽ.
3. Rèn cho học sinh các phương pháp, kĩ năng làm bài văn giải thích.
3.1. Rèn kĩ năng tìm hiểu đề.
Tìm hiểu đề và tìm ý là việc làm không thể thiếu được trong mỗi quá trình
tạo lập văn bản. Nếu không tìm hiểu đề, người viết sẽ thường rơi vào tình trạng
lạc đề, xa đề hoặc thiếu nội dung đề yêu cầu. Nếu hiểu chưa hết ý đề bài ra, hiểu
tường tận từng câu chữ có trong đề bài, e rằng bài viết sẽ non kém ý. Với kiểu bài
nghị luận giải thích, việc tìm hiểu đề và tìm ý cần thận trọng, kĩ hơn, xác định
đúng hướng hơn đối với các kiểu bài khác.
8
Ví dụ 3: Nếu với đề bài giải thích câu tục ngữ “ Đi một ngày đàng, học
một sàng khôn” mà chỉ giải thích tập trung làm cho người đọc hiểu rõ việc đi của
con người thì sẽ chỉ nêu được một mặt của vấn đề. Vì hiểu đúng nghĩa của từ đi ở
đây là việc ra đi, thoát khỏi luỹ tre làng để tìm hiểu, tìm tòi, học hỏi những điều
hay, việc làm tốt cho gia đình, xã hội. Hay, với đề bài giải thích ý nghĩa câu nói
của nhà văn lớn M.Go-Rki “ Sách mở ra trước mắt tôi những chân trời mới” như
thế nào cho rõ vấn đề cốt lõi là “ Tác dụng của việc đọc sách” không phải là dễ.
Người làm cần xác định tư liệu cần có để giải thích ngay trong việc tìm hiểu đề
và tìm ý. Vậy, chúng ta cần xác định xem trong đề bài vấn đề nghị luận cần hiểu
đúng là gì? Có những mặt, những khía cạnh nào? ý nghĩa là gì ? nếu không nắm
vững những điều cơ bản đó, chắc chắn người viết sẽ lạc đề, xa đề chẳng hạn như
lạc sang loại đề lập luận chứng minh, vì chứng minh dễ thực hiện hơn giải thích
3.2. Rèn kĩ năng xác lập luận điểm cho bài văn nghị luận giải thích.
Việc xác lập luận điểm cho bài văn giải thích giúp người làm văn đúng
hướng, đúng thể loại tránh lạc đề, thiếu ý, thiếu mạch lạc. Hướng dẫn học sinh
xác lập được hệ thống luận điểm phù hợp xem như bài văn đã thành công được
một nửa.
Đặt câu hỏi để tìm luận điểm cho bài văn nghị luận là một giải pháp hiệu
quả. Cần hướng dẫn học sinh biết cách đặt và trả lời câu hỏi tương ứng với từng
Ví dụ quan trọng của
vấn đề với cuộc
sống.
? Vì sao cần phải có - Sự hiểu biết của mỗi
lòng khiêm tốn?
người hữu hạn. Kiến
thức cuộc sống là vô hạn
Vì thế cần phải khiêm
tốn học hỏi mới mong
tiến bộ.
? Tác dụng của lòng - Khiêm tốn tạo cho con
khiêm tốn ?
người ý chí phấn đấu
9
không ngừng; gặt hái
được nhiều thành công
trong cuộc sống.
? Đi một ngày đường - Đi nhiều sẽ học hỏi
học một sàng khôn có được nhiều điều bổ ích,
tác dụng gì trong cuộc tích luỹ được nhiều tri
sống?
thức ứng dụng vào đời
sống…
Nhóm ?Phải làm gì?
câu
Làm như thế
hỏi 3 nào?
-Học tập không ngừng,
học mọi phương diện.
-Có ý thức khiêm tốn học
hỏi, không chờ đợi, ăn
sẵn…
Nhìn lên hệ thống câu hỏi trong mỗi nhóm ở bảng trên, mỗi nhóm câu hỏi
sẽ tương đương với mỗi nhóm luận điểm lớn của bài:
- Luận điểm 1: Giải thích vấn đề. Thường trả lời các câu hỏi: Như thế nào? Là
gì?
- Luận điểm 2: Giải thích ý nghĩa của vấn đề. Thường trả lời cho các câu hỏi: Có
ý nghĩa gì ? vì sao?
- Luận điểm 3: Bài học nhận thức và hành động. Trả lời cho các câu hỏi: Phải
làm gì ? tránh điều gi?
( Mỗi luận điểm chính thường có các luận điểm phụ nhỏ hơn)
3.3. Rèn kĩ năng lập dàn bài cho bài văn nghị luận giải thích.
Sau khi đã xác định được các nhóm câu hỏi, ý nghĩa của các nhóm câu hỏi
đó, trả lời câu hỏi để xác lập luận hệ thống luận điểm cho bài làm. Cần hướng
dẫn cho các em năm vững yêu cầu về bố cục chung của kiểu bài nghị luận giải
thích. Cách vận dụng hệ thống luận điểm vừa tìm được vào trong dàn bài. Cụ thể
như sau:
- Mở bài: Giới thiệu điều cần giải thích, gợi ra phương hướng giải thích.
- Thân bài: Lần lượt trình bày các nội dung giải thích. Cần sử dụng các
cách lập luận giải thích phù hợp.
- Kết bài: Nêu ý nghĩa của điều được giải thích với mọi người.
10
Dàn bài trên đã gợi ra các yêu cầu và phương pháp làm từng phần cho bài
-Trích dẫn bài ca dao của M. Go-rơki
Thâ 1. Giải thích nôi dung
n bài câu tục ngữ:
- Thất bại: không đạt
được mục đính, kế
hoạch đặt ra.
- Thành công: thực hiện
được
những
mong
muốn, những kế hoạch,
mục đích trong công
việc cũng như trong
cuộc sống.
- So sánh Thất bại là
mẹ thành công khẳng
định thất bại là nguồn
gốc, động lực của thành
công.
-> Câu tục ngữ là lời
khuyên con người vững
chí, bền lòng, kiên trì
không nản trí trước khó
1. Giải thích nội dung
bài ca dao:
- Hình ảnh so sánh độc
đáo: Công cha với
núi ngất trời và nghĩa
mẹ với nước ngoài
được những kinhnghiệm
quý giá, hiểu được
nguyên nhân vì sao chưa
thành công, từ đó rút ra
bài học, tìm cách khắc
phục cho lần sau.
- Thất bại là động lực để
con người cố gắng, nỗ
lực; mong muốn phấn
đấu, khát khao chinh
phục…
- Sau mỗi lần thất bại
con người sẽ trưởng
thành hơn, tự tích lũy
cho mình những kinh
nghiệp quý, là hành
trang cho sự thành công
sau này.
(HS lấy dẫn chứng để
vấn đề thêm sáng tỏ)
3. Cần làm gì để vượt
qua khó khăn trong
cuộc sống?
- Cần bình tĩnh, dũng
cảm để đối mặt trước
khó khăn, trở ngại.
- Nếu nhụt chí, đầu
hàng, bỏ cuộc thì sẽ
không bao giờ thành
công trong cuộc sống.
gương về tình mẫu tử
khiến mọi người cảm
động (dẫn chứng).
3. Đạo làm con cần
phải đền đáp công lao
cha mẹ.
- Con cái phải biết ơn,
ghi nhớ công lao cha
mẹ; phải có những cử
chỉ, thái độ, việc làm
cụ thể để báo đáp công
ơn cha mẹ
- Phê phán những
người con hư, không
vâng lời cha mẹ, làm
những việc có lỗi để
cha mẹ buồn lòng.
- Khẳng định lại vấn
đề
- Liên hệ bản thân
2. Giải thích vai trò
của sách.
- Sách ghi lại thành
tựu của nhân loại
trong mọi lĩnh vực.
- Đoc, học sách là sự
tiếp nối trí tuệ của
thế hệ sau với thế hệ
trước.
Phương pháp dựng đoạn của bài văn giải thích cũng gần giống như các
kiểu bài khác vì phải có nhiều đoạn khác nhau. Mỗi đoạn văn giải thích một vấn
đề cụ thể, một khía cạnh của vấn đề (tương ứng với một luận điểm). Có đoạn
nhằm giải nghĩa để trả lời cho câu hỏi: Như thế nào? Tại sao?... Khi dựng đoạn
văn lập luận giải thích cần chú ý:
+ Các đoạn văn trong bài văn giải thích phải đồng hướng và liên kết với nhau
một cách chặt chẽ. Nghĩa là mọi lí lẽ đưa ra trong từng đoạn phải cùng hướng về
luận đề, đảm bảo sự thống nhất.
+ Cách trình bày trong từng đoạn văn cần thay đổi cách lập luận. Có thể lập luận
theo kiểu diễn dịch hay qui nạp, nêu phản đề… là tuỳ thuộc vào khả năng của
từng người làm. Chúng ta cần rèn kỹ năng viết đoạn cho học sinh cụ thể như sau:
3.4.1. Kỹ năng giải thích.
Ví dụ 6 : Hãy giải thích câu tục ngữ “ Uống nước nhớ nguồn ” [2]
Đoạn 1: Theo nghĩa đen, nguồn là nơi bắt đầu của dòng nước. Còn nghĩa
bóng, nguồn là ẩn dụ về công lao tạo lập nên những thành quả của người đi trước
dành cho các thế hệ sau. Nước có nguồn nên uống nước hiểu theo nghĩa bóng là
thừa hưởng thành quả mà người đi trước, thế hệ trước để lại. Câu tục ngữ mượn
mối quan hệ khăng khít giữa nguồn và nước trong tự nhiên để nói với chúng ta
một cách triết lí về lẽ sống: Khi hưởng thụ thành quả nào đó, người ta phải nhớ
ơn, đền ơn xứng đáng cho những người đã đem lại thành quả cho mình [4]
Đoạn 2: ( Nhắc lại ý đã khẳng định, chốt lại ở đoạn 1 và mở rộng vấn đề
đang nói ở trên)Triết lí sống Uống nước nhớ nguồn là hoàn toàn đúng đắn. Lẽ
thường, khi hưởng thụ một thành quả, người ta thường quên đi sự khó nhọc của
những người đã làm nên thành quả ấy. Chính vì thế, người lao động xưa đã chọn
thời điểm bưng bát cơm đầy là sự hưởng thụ để cất lên tiếng nhắn nhủ thật thấm
thía: Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần
Đoạn 3: Triết lí uống nước nhớ nguồn trở thành đạo lí của mọi người, đó
là dạy cho con người lòng biết ơn. Câu tục ngữ trở thành quan niệm nhân sinh
chính những câu đó đã nói lên vấn đề ta đang giải thích.
Khi viết đến đoạn giải thích ý nghĩa của câu tục ngữ thì nên lấy câu nói
của Bác Hồ khi cùng các chiến sĩ đi thăm đền Hùng: “ Các Vua Hùng đã có công
dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau gĩư lấy nước ”. Dẫn chứng này có giá trị
khẳng định, thuyết phục người đọc về quan điểm, lập trường của người viết khi
quan niệm câu tục ngữ trở thành quan niệm nhân sinh cao đẹp. Hay tìm thêm vài
dẫn chứng theo sự hiểu biết của bản thân như: Biết ơn các thương binh liệt sĩ đã
đổ xương máu để giữ hoà bình, chúng ta có ngày 27/7. Nguyễn Trãi ăn lộc Vua
nhưng lại tâm niệm : “ Đền ơn kẻ cấy cày”. Trần Đăng Khoa biết từ những khó
nhọc của cha mẹ để thầy hơn trách nhiệm của mình: “ áo mẹ bạc màu, đầu mẹ
nắng cháy tóc, mẹ ngày đêm khó nhọc, con chưa ngoan, chưa ngoan..”
Cần lập luận lại vấn đề bằng cách dùng dẫn chứng để giải thích thêm sâu
sắc. Ví dụ: “ Trong thực tế, không phải không có những kẻ vô ơn, thậm chí quay
lưng lại phản bội những người từng có công lao với mình . Đó là những kẻ ích kỉ,
giả dối như Lí Thông trong chuyện cổ tích Thạch Sanh”
Như vậy, việc chọn lựa dẫn chứng trong bài nghị luận giải thích cần phù
hợp với từng đề bài. Dẫn chứng tuy ít hơn trong bài lập luận chứng minh nhưng
phải làm rõ thêm cho vẫn đề cần giải thích. Có các dẫn chứng ngược chiều để
tăng tính thuyết phục cho vấn đề nghị luận. Đó cũng là sự phối hợp nhịp nhàng
giữa lập luận giải thích và chứng minh, trong giải thích có chứng minh và trong
chứng minh có giải thích.
IV. Hiệu quả của Sáng kiến kinh nghiệm.
Sau một năm thực hiện áp dụng sáng kiến vào việc dạy ngữ văn 7, trao đổi
kinh nghiệm với đồng nghiệp trong tổ bộ môn, đến nay đã thu đựơc kết quả đáng
kể cả phía người dạy và cả phía người học.
Về phía người dạy: Nắm chắc hơn về kiểu bài nghị luận giải thích áp dụng
cho học sinh lớp 7. Khi dạy lập luận giải thích cần sử dụng phương pháp giải
thích bằng cách chia nhóm câu hỏi ở các mức độ từ đơn giản đến phức tạp vấn
đề. Lấy dẫn chứng phù hợp, đan xen, không rơi vào phân tích kĩ dẫn chứng.
SL TL
SL
TL
Trung bình
Yếu
SL
SL
TL
Kém
TL
SL
TL
7A
7B
7C
31
9 31,2% 15 48,4% 6
hỗ trợ nhau. Học sinh lớp 7 có thể làm một bài nghị luận chứng minh dễ dàng
nhưng với lập luận giải thích thì không đơn giản. Lập luận giải thích đòi hỏi
người viết phải nắm rõ bản chất của vấn đề, tránh mơ hồ, chàng màng. khi chưa
hiểu thì cũng khó giải thích cho người khác hiểu. Người học không thể làm bài
nghị luận dạng này một cách gượng ép mà cẫn có tri thức nhất định về khá nhiều
mặt: đạo đức xã hội, con người, cuộc sống và cả những điều phức tạp hơn như
15
danh ngôn, chân lí đối với cấp học THCS và đặc biệt là với trình độ lớp 7,
thường chỉ gặp ở vấn đề giải thích đơn giản như: Đạo đức, truyền thống, vấn đề
môi trường, những tấm gương người tôt, việc tốt đã được tích hợp ở các văn bản
đã học như tục ngữ, ca dao, các vấn đề đơn giản khác mà các em đã từng nghe,
đọc, hiểu.
Kiểu bài giải thích yêu cầu người dạy và học hiểu rõ bản chất của văn nghị
luận nói chung, nghị luận giải thích nói riêng. Nắm được yêu cầu của kiểu bài, từ
đó tìm ra phương pháp làm bài hữu hiệu, đạt được đúng yêu cầu của kiểu bài.
Linh hoạt trong từng khâu làm bài, kết hợp với nghị luận chứng minh để giải
thích thêm sáng tỏ.
Khi giải thích cần trình bày theo ba nhóm câu hỏi theo trình tự (như đã
trình bày trong bài). Đưa dẫn chứng phù hợp, chọn lọc, ngược chiều để tăng tính
thuyết phục.
3. Kiến nghị :
Về phía Sở giáo dục và Phòng giáo dục: Nên có những đợt tập huấn về
phương pháp, kinh nghiệm dạy Tập làm văn; chúng tôi mong được chia sẻ kinh
nghiệm và học tập nhiều hơn nữa từ các đồng chí có năng lực giỏi, có bề dày
thành tích và kinh nghiệm.
Về phía Nhà trường: Các tổ chuyên môn nên thảo luận sâu về phương
pháp, cách làm trong quá trình dạy học; chia sẻ kinh nghiệm để cùng nhau học
tập, nâng cao chất lượng dạy và học.
Chức vụ và đơn vị công tác: Hiệu trưởng- THCS Vân Du
TT
Tên đề tài SKKN
Cấp đánh giá
xếp loại
(Phòng, Sở,
Tỉnh...)
Kết quả
đánh giá
xếp loại
(A, B,
Năm học
đánh giá
xếp loại
17
1
Một số kinh nghiệm dạy học
Phòng GD&ĐT
hoặc C)
C
2005-2006
Phòng GD&ĐT
A
2014-2015
luận giải thích cho học sinh
3
lớp 7
Rèn kỹ năng làm văn nghị
luận giải thích cho học sinh
4
lớp 7
Tổ chức các hoạt động dạy
học Tiếng Việt lớp 6 có hiệu
5
quả.
Tổ chức các hoạt động dạy
học Tiếng Việt lớp 6 có hiệu
6
quả
Chỉ đạo sinh hoạt tổ chuyên