MỤC LỤC
STT
1
2
3
NỘI DUNG
TRANG
A. MỞ ĐẦU
1
I. Lí do chọn đề tài
II.Mục đích nghiên cứu
III.Đối tượng nghiên cứu
2
IV.Phương pháp nghiên cứu
B. NỘI DUNG
3
I. Cơ sở lí luận
3
II.Thực trạng vấn đề nghiên cứu
4
1.Thực trạng
4
2. kết quả của thực trạng
5
3. Nguyên nhân của thực trạng
5
III. Các Giải pháp thực hiện
6
16
18
18
18
1
A. MỞ ĐÂU
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong quá trình đổi mới giáo dục cấp THCS nói chung và môn Ngữ văn nói
riêng, mục tiêu, nội dung giáo dục đã được đổi mới, đáp ứng nhu cầu của nền kinh
tế xã hội đang phát triển. Người thầy đã và đang vận dụng những phương pháp dạy
học tích cực để giúp học sinh học tốt và yêu thích môn Ngữ văn. Trong những năm
học gần đây giáo viên được tiếp thu các chuyên đề: Đổi mới kiểm tra đánh giá;
Dạy học bám chuẩn kiến thức- kĩ năng; Các phương pháp/ kĩ thuật dạy học tích
cực; Tích hợp giáo dục các kĩ năng sống. Đặc biệt, từ năm học 2013-2014 đến nay,
bản thân giáo viên có tài liệu tham khảo để tự học bồi dưỡng thường xuyên, mô
đun 18( phương pháp dạy học tích cực) là những định hướng để người dạy phát huy
tính tích cực, chủ động, sáng tạo; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực
tiễn, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh, góp phần nâng cao chất
lượng giáo dục toàn diện.
Ở trường THCS, làm văn là phân môn khó, là một phân môn thực hành tổng
hợp và sáng tạo, đòi hỏi học sinh phải huy động, vận dụng tất cả những gì mà các
em đã biết từ môn khác chứ không chỉ mình môn Ngữ văn. Vì thế, các em luôn
cảm thấy bài làm văn là một gánh nặng chứ không phải là một niềm vui sáng tạo,
một sự đam mê văn chương. Chương trình Tập làm văn lớp 7 đặt trọng tâm ở thực
hành, nhận biết, làm văn bản, làm văn nghị luận là một kỹ năng cơ bản, cần thiết và
quan trọng ảnh hưởng đến việc học văn của các em sau này. Đây còn là khâu quan
trọng để học sinh có nền tảng về: Vốn sống, vốn hiểu biết và khả năng tư duy, cảm
quá trình giảng dạy môn Ngữ văn ở nhà trường THCS, học sinh sẽ hứng thú hơn,
hiệu quả giáo dục của bộ môn sẽ được nâng cao.
III. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Trong khuôn khổ một sáng kiến kinh nghiệm, đối tượng tôi lựa chọn ngiên cứu
là Một số kinh nghiệm dạy kiểu bài làm văn nghị luận giải thích cho học sinh
lớp 7- ở trường THCS Phúc Thịnh. Hy vọng đề tài này sẽ trở thành tài liệu hữu
ích giúp giáo viên và học sinh đạt được hiệu quả cao nhất trong quá trình giảng dạy
và học tập.
IV.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Giáo viên đọc tài liệu tham khảo, sách giáo khoa, biên soạn đề cương, sử dụng
những phương pháp nghiên cứu khoa học. Đồng thời kết hợp một số phương pháp
đặc trưng bộ môn: - Phương pháp phân tích.
- Phương pháp gợi mở- nêu vấn đề.
- Phương pháp giải thích, chứng minh
B. NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN:
3
Trong những năm gần đây, ngành giáo dục đã có nhiều đổi mới về chương trình,
sách giáo khoa và phương pháp dạy học. Tuy nhiên, việc dạy và học trong nhiều
trường phổ thông vẫn còn chịu tác động nặng nề bởi mục tiêu thi cử, “chạy theo
thành tích” học để thi, dạy để thi.
Ở mỗi quốc gia, mục tiêu giáo dục thường được thay đổi theo từng giai đoạn
phát triển. Ở nước ta, mục tiêu giáo dục với quan điểm giáo dục toàn diện, chú
trọng bốn mặt: trí, đức, thể, mĩ nhằm đào tạo những người lao động mới có khả
năng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Trong thời kì công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế mục tiêu giáo dục đã dược cụ thể hóa và
bổ sung cho phù hợp với yêu cầu của tình hình mới.
Hiện nay, đã có nhiều tài liệu và người dạy chú tâm đến phương pháp và các kĩ
luận. Vì vậy, vai trò của người giáo viên trong việc rèn luyện kỹ năng hành văn
nghị luận cho các em từ lớp 7 là rất quan trọng, đòi hỏi giáo viên phải thực sự có
tình yêu, tâm huyết với nghề.
Tuy nhiên thực tế việc rèn kỹ năng hành văn nghị luận ở các nhà trường THCS,
nhất là ở lớp 7, vấn đề này chưa được coi trọng và quan tâm đúng mức.
+ Về học sinh: Lần đầu tiên các em được làm quen với văn nghị luận và là kiểu
bài văn khó, nặng đối với học sinh lớp 7. Các em phải học nhiều môn và chỉ chú
trọng việc học trên lớp cho xong chương trình. Việc chuẩn bị cho giờ luyện nói,
luyện tập lập luận học sinh thường chuẩn bị sơ sài, hời hợt, chỉ mang hình thức đối
phó.
Mỗi khi nhận đề kiểm tra, học sinh còn lúng túng những lúc đó các em thường
dựa dẫm, lệ thuộc vào tài liệu tham khảo mà không chú ý đề văn đó yêu cầu như
thế nào.
Ở bài làm văn của các em còn lan man, chưa biết xác định luận điểm chính,
chưa biết chia đoạn và lập luận cho bài văn, dẫn chứng chưa sát với yêu cầu đề bài.
Đặc biệt, bài văn nghị luận giải thích của học sinh chưa có sức thuyết phục vì các
em chưa nắm được bản chất, phương pháp giải thích.
Hiện nay, chương trình sách giáo khoa Ngữ văn đổi mới đã chú ý đến tiết luyện
tập, điều này, tạo cho học sinh khả năng lập ý, lập luận ở nhà. Nhưng việc chuẩn bị
bài của học sinh chỉ qua loa, chiếu lệ. Đến lớp giáo viên lại phải dành thời gian
định hướng lại cách lập ý cho học sinh, chưa có nhiều thời gian để rèn kĩ năng,
hướng dẫn học sinh thực hành nên mục tiêu dạy học chưa được đáp ứng.
+ Về giáo viên: Người dạy chưa chú trọng đến việc luyện viết cho học sinh.
Thông thường, giáo viên nghĩ: Học sinh làm văn nghị luận yếu là do khó, có thể
tiến bộ dần ở lớp 8, 9 và để đó.
Trên thực tế, ở địa bàn nông thôn và miền núi, do điều kiện chủ quan và khách
quan, khả năng làm bài văn nghị luận của các em còn nhiều hạn chế. Thực tế giảng
dạy tôi thấy: Chỉ được 30% học sinh biết triển khai, giải thích, lập luận vấn đề nghị
luận, viết đúng yêu cầu về nội dung và hình thức. Số còn lại, các em viết sơ sài,
5
19
2015-2016
41
0
0
7
18
25
60
9
22
Tổng
84
0
0
12
15
55
65
17
20
về văn học còn chưa phong phú.
+ Những bài làm chưa đạt yêu cầu, các em thường mắc những lỗi cơ bản sau:
- Bài văn chưa sát với đề bài, lập luận chưa chặt chẽ, giải thích vấn đề còn sơ sài.
- Bài làm lan man, chưa đủ ý.
- Hành văn còn lủng củng, chưa có sức thuyết phục.
- Sau giải thích, học sinh chưa biết liên hệ, đánh giá.
Từ thực tế giảng dạy và học tập như trên, tôi đã mạnh dạn đưa ra một số
phương pháp cụ thể để rèn kỹ năng làm văn nghị luận giải thích cho học sinh lớp 7.
III. CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
1. Hướng dẫn học sinh nắm vững đặc điểm chung của văn nghị luận.
Trước hết, chúng ta cần hướng dẫn học sinh nắm vững đặc điểm sau của văn
nghị luận:
Nghị luận là loại văn bản viết ra nhằm phát biểu ý kiến, bày tỏ nhận thức,
đánh giá thái độ đối với cuộc sống bằng những luận điểm, lí lẽ, dẫn chứng. Nếu tác
phẩm văn học nghệ thuật phát biểu ý kiến, bày tỏ thái độ đối với cuộc sống bằng
những hình tượng nghệ thuật cụ thể, gợi cảm thì văn nghị luận diễn đạt bằng những
mệnh đề, phán đoán, những khái niệm có lôgic thuyết phục.
Ví dụ 1: Khi hướng dẫn học sinh giải thích bài ca dao sau:
"Công cha như núi thái sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con"
Bài ca dao trên đưa ra những hình ảnh: Núi Thái Sơn, nước trong nguồn chảy
ra để nói về công ơn to lớn của cha mẹ, nhưng không hề nêu luận điểm nào. Ý kiến,
tư tưởng trong bài ca tiềm ẩn trong tác phẩm. Nếu phải viết một bài nghị luận về
7
công ơn của cha mẹ và trách nhiệm của con cái đối với cha mẹ, thì phải có luận
Vậy, yêu cầu trước khi làm bài văn nghị luận giải thích là gì? Học sinh cần
nắm được:
8
Trước hết, phải xác định đúng vấn đề cần giải thích, tránh tình trạng nói chờn
vờn quanh đề bài. Muốn vậy, cần phải học nhiều, đọc nhiều, vận dụng tổng hợp các
thao tác giải thích cho phù hợp.
Phải phát hiện vấn đề của đầu bài có những khía cạch nào cần giải thích (hoặc
có những từ, khái niệm nào cần giảng giải) mối quan hệ giữa các khía cạnh đó
Có một hệ thống lí lẽ kèm theo dẫn chứng cần thiết để giảng giải cho cặn kẽ
vấn đề cần giải thích. Bài văn giải thích phải mạch lạc, lớp lang, ngôn từ trong
sáng, dễ hiểu. Không nên dùng những điều không ai hiểu để giải thích những điều
người ta chưa hiểu.
Trong phép lập luận giải thích, đối với người đọc, dẫn chứng khác với lập luận
chứng minh ở chỗ :
Về mục đích và mức độ, dẫn chứng chỉ đóng vai trò phụ trợ, bổ sung, làm nổi
bật một số lí lẽ
Về số lượng, nó ít hơn hẳn và không cần liên tục, thường xuyên, liền mạch.
Trong giải thích thường có chứng minh và ngược lại, trong chứng minh, cũng cần
phải giải thích.
Người dạy cần tìm hiểu kĩ vấn đề giải thích cho kĩ hơn, phải đi từ cái sâu xa
đến cái cụ thể, rõ ràng. Những tri thức này có lẽ chưa thể có được ở học sinh.
Chúng ta sẽ dùng hai ví dụ sau đây để làm rõ mục đích, yêu cầu của văn giải
thích.
Ví dụ 2 : Giải thích thế nào là Liêm (Trong Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí
công, Vô tư) : Liêm là trong sạch, không tham lam.
Nhưng giáo viên phải giảng giải cặn kẽ hơn ở các khía cạnh sau : Ngày xưa, dưới
chế độ phong kiến, những người làm quan không đục khoét của nhân dân gọi là
liêm (Nghĩa hẹp). Còn ngày nay, chữ liêm rộng nghĩa hơn nhiều, có nghĩa là mọi
hiểu được đối tượng. Người hiểu biết cần giải đáp cho người khác hiểu những câu
hỏi dạng đó.
Với một bài tập làm văn, người làm văn cần thực hiện cả hai nhiệm vụ của
người hỏi và người trả lời. Ở cương vị người cần tìm hiểu, phải biết đặt lấy những
câu hỏi để tìm hiểu cho phù hợp, đầy đủ. Còn ở cương vị người giải thích, cần phải
tìm hiểu mọi lí lẽ để giảng giải, trả lời đầy đủ, rõ ràng những câu hỏi ấy.
Câu hỏi trong bài nghị luận giải thích có ba nhóm, mỗi nhóm sẽ có ý nghĩa nhất
định (Minh hoạ trong 2 tiết: 104 và 107- Ngữ văn 7- kì II)
Ví dụ 4: Đề bài: Giải thích thế nào là Lòng khiêm tốn (mục 3- I) và Giải thích
câu tục ngữ “ Đi một ngày đàng, học một sàng khôn” (Mục I)
Nhóm Lòng khiêm tốn nghĩa là gì?
Câu hỏi để giảng giải nghĩa của
câu
(Khiêm tốn là tính nhã nhặn, biết sống từ ngữ, hình ảnh nằm trong
10
hỏi 1
một cách nhún nhường, luôn hướng về
phía tiến bộ, tự khép mình vào những
khuôn thước của cuộc đời, không
ngừng học hỏi…)
Đi một ngày đàng có nghĩa là gì?
Học một sàng khôn là gì?(Giải thích
từ đi, học, đàng, sàng khôn, một ngày
đàng, một sàng khôn)
những câu nói, câu tục ngữ. Vì
vậy, hỏi từ đó mà ra
Đói lập với lòng khiêm tốn là gì?
Nhóm câu hỏi 2 giải thích tầm
quan trọng của vấn đề với cuộc
sống. Thường là nhóm câu hỏi
Vì sao? Có tác dụng gì? ý
nghĩa đối với cuộc sống?.
Đây là câu hỏi quan trọng nhất,
tìm ra lí lẽ để giải thích đựơc
nguyên nhân để tìm ra bản chất
của vấn đề
Ví dụ
Đây là câu hỏi hướng người
đọc suy nghĩ và hành động
đúng theo vấn đề đã đưa ra.Đây
là câu hỏi liên hệ, nâng cao vấn
đề.
Thường là câu hỏi : Phải làm
11
(Đối lập với lòng khiêm tốn là tính tự cao, gì? Làm như thế nào?
tự đại, luôn cho mình là hơn người, hơn đời, đối lập với hiện tượng, vấn đề
khác đời…)
nêu ra là gì?
Chúng ta cần phải học hỏi những gì?
Học như thế nào khi đã đi ra? Người không
chịu đi ra để học hỏi là người như thế nào?
Nếu với đề bài giải thích câu tục ngữ “Đi …khôn” mà chỉ giải thích tập trung
làm cho người đọc hiểu rõ việc đi của con người thì sẽ chỉ nêu được một mặt của
vấn đề. Vì hiểu đúng nghĩa của từ đi ở đây là việc ra đi, thoát khỏi luỹ tre làng để
tìm hiểu, tìm tòi, học hỏi những điều hay, việc làm tốt trong thiên hạ .
Hay, với
đề bài giải thích ý nghĩa của câu nhận định, câu nói của nhà văn lớn như thế nào
cho rõ vấn đề cốt lõi là “Tác dụng của việc đọc sách”, và ý nghĩa của vấn đề thuộc
đạo lí con người, truyền thống dân tộc (đề3)…không phải là dễ. Người làm cần xác
định tư liệu cần có để giải thích ngay trong việc tìm hiểu đề và tìm ý. Vậy, chúng ta
cần xác định xem trong đề bài vấn đề nghị luận cần hiểu đúng là gì? Có những mặt,
những khía cạnh nào? ý nghĩa là gì? nếu không nắm vững những điều cơ bản đó,
chắc chắn người viết sẽ lạc đề, xa đề chẳng hạn như lạc sang loại đề lập luận chứng
minh, vì chứng minh dễ thực hiện hơn giải thích.
3.2.2. Rèn kĩ năng lập dàn ý cho bài văn lập luận giải thích.
Về cơ bản, dàn ý của bài văn nghị luận giải thích cũng giống như qui trình một
bài văn khác. Nhưng người viết xin lưu ý để đồng nghiệp thấy rõ những điểm khác
cơ bản trong từng phần (đặc biệt là phần thân bài) vì hệ thống câu hỏi ngầm, những
vấn đề trả lời cho hệ thống câu hỏi đó khác một số kiểu bài khác, ứng với phần nào,
đoạn nào của thân bài? và như thế nào để giải thích tường tận vấn đề? Dưới đây là
một số ví dụ minh hoạ cho những tiết dạy kiểu bài nghị luận giải thích, tập trung ở
các tiết dạy cách làm, luyện tập cách làm văn nghị luận giải thích.
Ví dụ 5- Đề bài : Xin minh hoạ bằng một số bài lập luận giải thích như sau:
1. Tục ngữ có câu “ Đi một ngày đàng, học một sàng khôn”. Hãy giải thích.
2. Giải thích câu tục ngữ “Uống nước nhớ nguồn”.
3. Hãy giải thích ý kiến của M.Go- Rki về việc đọc sách “Sách mở ra trước mắt tôi
những chân trời mới”.
Ba đề bài trên thuộc ba dạng của kiểu bài lập luận giải thích. Chúng ta tiến
hành lập dàn ý như sau:
Các
- ý nghĩa chung của II. Vì sao cần phải đọc
(Những dẫn chứng minh câu tục ngữ
sách
hoạ)
- Giải thích vì sao III. Phải làm gì để
uống nước cần phải thông qua sách có thể
nhớ nguồn
mở được chân trời mới
- Nhớ nguồn cần phải (dẫn chứng)
thể hiện như thế nào
(Dẫn chứng minh
hoạ)
Kết
Cần đặt ra câu hỏi và trả - Khẳng định lại câu - Khẳng định lại vai trò
bài
lời: Câu tục ngữ có ý tục ngữ là lời khuyên của việc đọc sách.
nghĩa nào? lời khuyên tốt từ bao đời nay.
- Liên hệ bản thân.
gì? có bài học ?
- Là đạo lí, là nhân
cách sống của mỗi
con người.
- Liên hệ bản thân.
Từ bảng hệ thống cách lập dàn ý cho kiểu bài lập luận giải thích nói trên, ta
có thể rút ra việc lập dàn ý tương đối giống các kiểu bài khác. Nhưng phần thân bài
hơi khác, đó là:
14
Cần giải thích từng nội dung, khía cạnh của vấn đề bằng cách vận dụng lí lẽ và
“ Bưng bát cơm đầy- thời điểm của sự hưởng thụ để cất lên tiếng nhắn nhủ thật
thấm thía: Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần
15
Đoạn 3: Triết lí uống nước nhớ nguồn trở thành đạo lí của mọi người, đó là dạy
cho con người lòng biết ơn. Câu tục ngữ trở thành quan niệm nhân sinh cao cả…
(Nâng cao vấn đề đang giải thích).
(Mỗi đoạn văn được trình bày nối tiếp ý của nhau, ý nọ được nâng cao lên bằng
ý kia, tạo nên bài văn hoàn chỉnh, làm rõ vấn đề nghị luận. Các đoạn trong bài đều
hướng vào một luận đề: Uống nước cần phải nhớ nguồn đảm bảo sự thống nhất,
chặt chẽ, lo- gíc. Cách trình bày lí lẽ trong từng đoạn văn theo kiểu lập luận khác
nhau làm cho bài văn sinh động và lôi cuốn người đọc, người nghe hơn).
3.2.4. Rèn kĩ năng đưa dẫn chứng trong bài văn lập luận giải thích.
Dẫn chứng là bản chất của văn lập luận chứng minh. Trong văn lập luận chứng
minh, dẫn chứng phải được phân tích đầy đủ để làm sáng tỏ một khía cạnh của vấn
đề cần phải chứng minh. Vậy, văn giải thích có cần dẫn chứng không ?
Trong văn giải thích, lí lẽ là linh hồn, là bản chất, văn giải thích cũng cần có
dẫn chứng, nhưng không phân tích dẫn chứng, mà như một vẻ thoáng qua, chỉ gợi
mà thôi. Vì thực tế, nếu cứ chú ý việc đưa dẫn chứng vào bài làm, dẫn chứng sa đà,
để dẫn chứng lấn át lí lẽ, sẽ dẫn đến tình trạng lạc kiểu bài- biến văn giải thích
thành bài văn chứng minh
Ví dụ 7: Khi giải thích câu tục ngữ “Uống nước nhớ nguồn” ở đoạn khẳng
định triết lí đúng đắn đó chỉ cần đưa một số dẫn chứng như :
Công cha như núi Thái sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Hay :
Ăn quả nhớ kẻ trồng cây.
Không thầy đố mày làm nên.
Lấy tục ngữ, ca dao để dẫn chứng cho việc giải thích tục ngữ, ca dao là sáng
Phía người dạy: Nắm chắc hơn về kiểu bài nghị luận giải thích áp dụng cho
học sinh lớp 7. Khi dạy lập luận giải thích cần sử dụng phương pháp giải thích
bằng cách chia nhóm câu hỏi ở ba tầng bậc từ đơn giản đến phức tạp vấn đề. Lấy
dẫn chứng phù hợp, đan xen, tránh phân tích kĩ dẫn chứng. Chú ý nhiều hơn lí lẽ vì
đó mới là bản chất của giải thích.
Phía người học: Biết vận dụng lý thuyết kiểu bài vào thực hành tạo lập văn bản
nghị luận giải thích. Biết cách chia nhóm câu hỏi trong mỗi bài lập luận giải thích
để làm bài. Thực tế, khi các em biết chia nhóm câu hỏi cũng đồng nghĩa với việc
biết trả lời câu hỏi, sẽ dễ dàng lập luận hơn.
Bên cạnh đó, học sinh hiểu rõ việc đưa dẫn chứng có chọn lọc vào bài văn nghị
luận giải thích sẽ càng tăng thêm tính thuyết phục của bài viết.
Sau một thời gian nghiên cứu, áp dụng những biện pháp cụ thể nêu trên cho
học sinh khối 7 - Trường THCS Phúc Thịnh, tôi thấy ngày càng tự tin, đáng mừng
về hướng đi của mình. Bản thân tôi vững vàng hơn về phương pháp, cách thức tiến
hành. Kỹ năng làm văn nghị luận giải thích của học sinh ngày càng có kết quả tốt.
17
Học sinh tự giác, hứng thú trong giờ luyện tập. Bài viết của các em đủ ý, sâu sắc,
dẫn chứng tiêu biểu, phong phú, hành văn trôi chảy hơn. Cùng với kỹ năng viết bài
văn nghị luận giải thích đúng, nhiều em đã vươn lên viết hay, có sức thuyết phục
cao. Các em không còn ngại học những tiết Tập làm văn nói chung, kiểu bài nghị
luận nói riêng.
Kết quả bài kiểm tra bài viết Tập làm văn số 6- khối 7 (Năm học 2016 –
2017) Trường THCS Phúc Thịnh cụ thể như sau:
Năm học
2016-2017
Tổng
Lớp Sĩ
26
43
Yếu
SL
2
3
5
%
7
10
9
I. KẾT LUẬN
Nghị luận giải thích là một trong các kiểu bài của văn nghị luận. Nghị luận ở
chương trình ngữ văn lớp 7 chỉ dùng lại ở hai kiểu cơ bản: Giải thích và chứng
minh. Hai kiểu bài tuy khác nhau ở bản chất nhưng có những điểm giống nhau và
hỗ trợ nhau. Học sinh lớp 7 có thể làm một bài nghị luận chứng minh dễ dàng
nhưng với lập luận giải thích thì không đơn giản. Lập luận giải thích đòi hỏi người
viết phải nắm rõ bản chất của vấn đề, tránh mơ hồ, chàng màng. khi chưa hiểu thì
cũng khó giải thích cho người khác hiểu. Người học không thể làm bài nghị luận
dạng này một cách gượng ép mà cần có tri thức nhất định về khá nhiều mặt: đạo
đức xã hội, con người, cuộc sống và cả những điều phức tạp hơn như danh ngôn,
chân lí…đối với cấp học THCS và đặc biệt là với trình độ lớp 7, thường chỉ gặp ở
vấn đề giải thích đơn giản như: Đạo đức, truyền thống, vấn đề môi trường, những
tấm gương người tôt, việc tốt…đã được tích hợp ở các văn bản đã học như tục ngữ,
ca dao, các vấn đề đơn giản khác mà các em đã từng nghe, đọc, hiểu.
Kiểu bài giải thích như đã trình bày ở trên yêu cầu người dạy và học hiểu rõ
bản chất của văn nghị luận nói chung, nghị luận giải thích nói riêng. Nắm được yêu
- Nm hc 2006-2007: c Hi ng khoa hc ngnh xp loi B cp tnh
vi ti: "S dng tranh nh trong dy hc cm VBND lp 9"
- Nm hc 2010-2011: c Hi ng khoa hc ngnh xp loi C cp tnh
vi ti Rốn luyn k nng lm bi ngh lun v tỏc phm truyn trong chng
trỡnh ng vn 9
19
- Năm học 2012-2013: có SKKN xếp loại A cấp huyện với đề tài: "Sủ dụng
tranh ảnh trong dạy học tích hợp bảo vệ môi trường cụm văn bản nhật dụng ngữ
văn 8"
- Năm học 2014-2015: có SKKN xếp loại B cấp huyện với đề tài "Kĩ năng
sử dụng từ ngữ trong dạy học tác phẩm truyện ngữ văn 9- tập 1 ở Trường THCS
Phúc Thịnh".
20