A . MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Mục tiêu giáo dục hiện nay là hình thành cho học sinh những cơ sở ban đầu về
sự phát triển các kĩ năng cơ bản như đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ. Góp phần
hình thành nhân cách con gười Việt Nam xã hội chủ nghĩa, bước đầu xây dựng tư
cách và ý thức trách nhiệm công dân chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học những bậc
học cao hơn. Việc kết hợp học và hành, kết quả giảng dạy với đời sống thực tiễn
được thực hiện thông qua việc cho học sinh nắm vững kiến thức, liên kết với cuộc
sống thích hợp sẽ gúp học sinh hình thành và rèn luyện kĩ năng thực hành cần thiết
trong đời sống hàng ngày.
Mỗi môn học ở tiểu học đều góp phần vào việc hình thành và phát triển những
cơ sở ban đầu rất quan trọng của nhân cách con người. Trong các môn học đó, môn
Toán có vị trí quan trọng vì:
- Các kiến thức kĩ năng của môn Toán có nhiều ứng dụng trong đời sống, chung
rất cầ thiết trong việc học các môn học khác
- Môn Toán giúp học sinh nhận biết mối quan hệ về số lượng và không gian của
thế giới hiện thực, một số mặt của thế giới xung quanh đồng thời biết cách hoạt
động có hiệu quả trong đời sống.
- Môn Toán góp phần rất quan trọng trong việc rèn tư duy phương pháp suy luận .
phương pháp giải quyết vấn đề, góp phần phát triển trí thông minh, cách suy nghĩ
độc lập, linh hoạt sáng tạo, nó đóng góp cho việc hình thành các phẩm chất cần
thiết của người lao động.
Trong khi đó đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi ở tiểu học việc ghi nhớ của các em
chủ yếu là ghi nhớ trực quan, máy móc thiếu ổn định bền vững và đặc biệt các em
thường ghi nhớ bộ phận mà không nhớ tổng quát. Đặc biệt đối với học sinh những
vùng giáo dục gặp nhiều khó khăn.
1
Những tồn tại trên cũng do một phần ở cách dạy của giáo viên. Giáo viên mới
hình ảnh có liên hệ với nhau vì vậy có thể vận dụng BĐTD vào hỗ trợ dạy học kiến
thức mới, củng cố kiến thức sau mỗi tiết học, ôn tập hệ thống hóa kiến thức sau mỗi
chương,.. Phương pháp này có lẽ đã được nhiều người Việt biết đến nhưng nó chưa
bao giờ được hệ thống hóa và được nghiên cứu kĩ lưỡng và phổ biến chính thức
trong nước mà chỉ được dùng tản mạn trong giới sinh viên học sinh trước các mùa
thi. Đây là một kĩ thuật để nâng cao cách ghi chép. Bằng cách dùng giản đồ ý, tổng
thể của vấn đề được chỉ ra dưới dạng một hình trong đó các đối tượng thì liên hệ
với nhau bằng các đường nối. Với cách thức đó, các dữ liệu được ghi nhớ và nhìn
nhận dễ dàng và nhanh chóng hơn. Thay vì dùng chữ viết để miêu tả một chiều
biểu thị toàn bộ cấu trúc chi tiết của một đối tượng bằng hình ảnh hai chiều. Nó chỉ
ra dạng thức của đối tượng, sự quan hệ hỗ tương giữa các khái niệm (hay ý) có liên
quan và cách liên hệ giữa chúng với nhau bên trong của một vấn đề lớn.
Ví dụ:
Những vật có
dạng hình
chữ nhật mà
em biết
Tìm chu vi
hình chữ
nhật
Hình chữ
nhật
Tìm diện
tích hình
chữ nhật
Tìm chiều
dài,rộng
Hiện nay trong dạy học hiện tượng đọc chép vẫn phổ biến trong khi đó giáo
học pháp, chưa bao giờ trong trường học có phương pháp dạy học mang tên “Đọc –
chép”. Do đó, “Đọc” thế nào và học sinh “Chép” ra sao mới là quan trọng. Bộ Giáo
dục và Đào tạo chủ trương chống việc dạy học “Chủ yếu qua đọc chép – nhìn chép”
nghĩa là chống việc chỉ đọc chép, truyền thụ kiến thức một chiều trong cả một tiết
lên lớp.
5
* Đối với giáo viên:
Với cách dạy này, người thầy đã máy móc, rập khuôn trong dạy học, dễ có tư
tưởng phó mặc, không hứng thú trong cập nhật kiến thức, không sáng tạo trong
việc tìm kiếm các phương án thiết kế bài dạy phù hợp với mọi đối tượng học sinh
trong lớp mình phụ trách để kết quả giảng dạy đạt mức tối ưu.
*Đối với học sinh:
Người học theo cách này sẽ trở nên thụ động, chỉ biết thu nhận kiến thức một
chiều, không động não suy nghĩ, không biết tự mình chiếm lĩnh tri thức, trở nên
thui chột về tư duy, khó vận dụng kiến thức vào cuộc sống.
Hơn nữa, đã dạy theo kiểu “Đọc – chép” thì đề thi phải ra theo kiểu học
thuộc. Học sinh khi học, chép được điều gì thì lúc thi, lại chép những điều ấy vào
bài làm, không có khả năng sáng tạo, học sinh hiểu bài một cách máy móc không
sáng tạo, không thể hiện được “Cái riêng” của mình hoặc không dám thể hiện “cái
riêng” của mình. Bài dạy học đọc – chép tất yếu phải được tổ chức theo phương
thức diễn dịch, do đó tiết dạy “Đọc – chép” sẽ nhàm chán và mang tính áp đặt
Khắc phục tình trạng Đọc – chép là một yêu cầu cần thiết để nâng cao chất
lượng dạy học đối với tất cả các môn học. Đó là một nhiệm vụ vô cùng khó khăn
phức tạp trong điều kiện hiện nay của nhiều trường. Thực hiện tốt việc chống dạy
học theo kiểu “Đọc – chép” là cả một quá trình lâu dài với sự cố gắng của nhiều đối
tượng khác nhau trong đó sự tận tâm của thầy cô giáo là điều hết sức quan trọng
mới có thể có kết quả.
- Giáo viên đã dành nhiều thời gian cho học sinh làm việc với sách giáo khoa
và các dạng bài tập.
- Trong giờ học giáo viên biết vận dụng nhiều hình thức tổ chức, tạo không
khí lớp học sôi nổi.
-Tạo được phương pháp tự kiểm tra, đánh giá của học sinh.
* Nhược điểm.
Giáo viên và học sinh đều phụ thuộc vào yếu tố sẵn có của sách giáo khoa.
7
-Trong dạy học toán giáo viên chưa kết hợp các phương pháp một cách khoa
học nên chưa phát huy được hiệu quả của việc dạy học.
-Nhiều bài tập trong sách giáo khoa trùng lặp giáo viên chỉ giao về nhà hoặc
tự cho học sinh giải một cách máy móc. Giáo viên tường dập khuôn theo bài giải
sẵn có.
- Đối với những bài điển hình giáo viên chỉ chú ý làm sao cho học sinh giải
được các bài toán cụ thể trong sách giáo khoa chứ chưa chú ý đến việc phát triển
toàn diện dạng toán đó bằng cách cho học sinh tự đặt đề toán hay tìm nhiều cách
giải..
- Giáo viên chưa khắc sâu và mở rộng đối với từng dạng bài đặc biệt là những bài
mang tính khái quát, ôn tập.
Bảng khảo sát trước khi áp dụng phương pháp “ Bản đồ tư duy”.
Bảng 1
Số
Lớ
p
4A
4B
SL
TL
SL
TL
5
14.7
10
29.4
14
41.2
5
14.7
6
17.6
10
Bước 5. Tạo ra một kiểu bản đồ riêng cho mình (Kiểu đường kẻ, màu sắc,…)
Bước 6.Nên dùng các đường kẻ cong thay vì các đường thẳng vì các đường
cong được tổ chức rõ ràng sẽ thu hút được sự chú ý của mắt hơn rất nhiều
Bước 7. Bố trí thông tin đều quanh hình ảnh trung tâm
AI ?
THẾ
NÀO ?
CÁI GÌ ?
?
CON
GÌ?
KHI
NÀO ?
TẠI SAO ?
H2. Mô hình tổng quát của bản đồ tư duy
3.2. Hướng dẫn học sinh thực hành trên tiết học.
Hoạt động 1: Lập “ Bản đồ tư duy”. Mở đầu bài học, giáo viên có thể cho học
sinh lập“ Bản đồ tư duy” theo nhóm hay cá nhân với các gợi ý: tìm trong thực tế
9
các vật có liên quan đến nội dung bài, viết những tính chất , nhận dạng mà em đã
Hoạt động 4: củng cố kiến thức bằng một “ Bản đồ tư duy” mà giáo viên đã
chuẩn bị sẵn hoặc một “ Bản đồ tư duy” mà cả lớp đã tham gia chỉnh sửa hoàn
chỉnh, cho học sinh lên trình bày, thuyết minh về kiến thức đó.
Hoạt động 5: Mở rộng cho học sinh bằng các kiểu của Bản đồ tư duy cho các
môn học khác hay dạng bài khác nhau nếu có thể
Ví dụ:
H3. Nhận biết hình chữ nhật.
Cái mâm
Bán kính
11
Bánh xe
HÌNH
TRÒN
Đường
tròn
Mặt trăng
đêm rằm
Đường
kính
H 4 . Học hình tròn.
rộng ý tưởng. Sau khi học sinh tự thiết lập “ Bản đồ tư duy” kết hợp việc thảo luận
nhóm dưới sự gợi ý, dẫn dắt của giáo viên dẫn đến kiến thức của bài học một cách
nhẹ nhàng, tự nhiên.
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm.
Sau khi tiến hành dạy thưc nghiệm ở lớp 4A và 4B với cùng một số bài, thời
gian như nhau, bằng 2 phương pháp khác nhau: Lớp 4B bằng phương pháp “ Bản
đồ tư duy”, lớp 4A bằng phương pháp truyền thống, kết quả thu được như sau :
Bảng 2
Lớp
T.số
HS
tham
SL
HS Ghi
HS Ghi nhớ
nhớ tốt
đầy đủ
TL
SL
TL
14
41.2
2
5.9
4B
34
12
35.3
16
47.1
6
17.6
0
0
Qua nghiên cứu và dạy thực nghiệm tôi thấy hiệu quả của sáng kiến kinh
sau khi được tập huấn về đổi mới Phương pháp dạy học (trong đó có nội dung thiết
kế, sử dụng “ Bản đồ tư duy” ) đã triển khai và bước đầu tạo một không khí sôi nổi,
hào hứng của cả thầy và trò trong các sinh hoạt ở tổ chuyên môn cũng như hoạt
động dạy học của nhà trường, là một trong những nội dung quan trọng của phong
trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” mà Bộ GD&ĐT
đang đẩy mạnh triển khai.
“ Bản đồ tư duy” một công cụ có tính khả thi cao vì có thể vận dụng được với bất
kì điều kiện cơ sở vật chất nào của các nhà trường hiện nay. Có thể thiết kế “ Bản
đồ tư duy” trên giấy, bìa, bảng phụ,… bằng cách sử dụng bút chì màu, phấn, tẩy,…
hoặc cũng có thể thiết kế trên phần mềm. Với trường có điều kiện cơ sở hạ tầng
công nghệ thông tin tốt có thể cài vào máy tính phần mềm Mindmap cho giáo viên,
học sinh sử dụng, bằng cách vào trang web www.download.com.vn gõ vào ô “tìm
kiếm” cụm từ Mindmap, ta có thể tải về bản demo ConceptDraw MINDMAP 5
Professional, phần mềm này không hạn chế số ngày sử dụng và việc sử dụng nó
cũng khá đơn giản.
Bước đầu cho phép kết luận: Việc vận dụng “ Bản đồ tư duy” trong dạy học sẽ dần
hình thành cho học sinh tư duy mạch lạc, hiểu biết vấn đề một cách sâu sắc, có cách
nhìn vấn đề một cách hệ thống, khoa học. Sử dụng “ Bản đồ tư duy” kết hợp với
các phương pháp dạy học tích cực khác như vấn đáp gợi mở, thuyết trình,… có tính
khả thi cao góp phần đổi mới Phương pháp dạy học, đặc biệt là đối với các lớp ở
các cấp học
15
Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học kiến thức mới giúp học sinh học tập
một cách
chủ động, tích cực và huy động được tất cả 100% học sinh tham gia xây dựng bài
- Giáo viên phải nẵm vững nội dung của các dạng bài , nắm được những
ưu,nhược điểm của học sinh về mọi mặt đặc biệt là đặc điểm tâm sinh lí của các em
để sử dụng và điều chỉnh phương pháp phù hợp.
- Hiểu được bản chất của từng dạng bài và ưu , nhược điểm của phương pháp
mình sử dụng .
- Vận dụng một cách linh hoạt phương pháp dạy học trong mỗi bài , mỗi tiết.
- Sử dụng các hình thức tổ chức dạy học một cách phù hợp nhất với phương
pháp mình sử dụng.
- Chế biến" các nội dung toán học sao cho gần gũi với cuộc sống hàng ngày
( Thực tiễn).
3. Kiến nghị.
* Đối với giáo viên : Tận tình trong quá trình giảng dạy luôn trau dồi nghiệp vụ,
nâng cao trình độ chuyên môn, tăng cường công tác nghiên cứu khoa học.
* Đối với cha mẹ học sinh , quan tâm hơn nữa đến việc học tập của các con.Tạo
điều kiện tốt nhất để các em học tập, thường xuyên đôn đốc kiểm tra quá trình học
tập của các em.
* Đối với các cấp quản lí giáo dục: Thường xuyên tổ chức các chuyên đề giáo dục
phạm vi địa phương, tổ chức các hội thảo chuyên môn để tạo điều kiện cho giáo
viên được tham gia học hỏi , trao đổi kinh nghệm.
Trên đây là một số bài học kinh nghiệm mà bản thân tôi đã rút ra từ quá trình
nghiên cứu và dạy thực nghiệm. Mong rằng đây cũng là một số đóng góp vào việc
dạy giải toán cho học sinh lớp 4. Quá trình thực hiện sẽ không tránh khỏi thiếu sót
mong được sự góp ý của mọi người đặc biệt là đồng nghiệp.
17
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
hướng tích cực ( Phùng Như Thuỵ ).
11. Tài liệu BDTX tiểu học MODULE TH 15: Một số phương pháp dạy học tích
cực ( Lưu Thu Thuỷ ).
12. Tài liệu BDTX tiểu học MODULE TH 16: Một số kĩ thuật dạy học tích cực
(Lưu Thu Thuỷ).
13. Tài liệu BDTX tiểu học MODULE TH 29: Phương pháp nghiên cứu khoa học
Sư phạm ứng dụng ( Nguyễn Ngọc Ân ).
14. Tài liệu BDTX tiểu học MODULE TH 30: Hướng dẫn áp dụng nghiên cứu
khoa học Sư phạm ứng dụng ở tiểu học trong điều kiện thực tế hiện nay
(Nguyễn Ngọc Ân ).
19