Một số kinh nghiệm hướng dẫn học sinh kỹ năng liên tưởng, tưởng tượng khi học môn ngữ văn lớp 6 - Pdf 43

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THẠCH THÀNH

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ KINH NGHIỆM HƯỚNG DẪN HỌC SINH
KĨ NĂNG LIÊN TƯỞNG, TƯỞNG TƯỢNG KHI HỌC
MÔN NGỮ VĂN 6

Người thực hiện: Lê Thị Can
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THCS Thành Vân
SKKN thuộc lĩnh mực (môn): Ngữ văn

THANH HÓA, NĂM 2017


MỤC LỤC
Mục
1

Nội dung
Mở đầu

Trang


1.1
1.2
1.3

16
18
19

1. MỞ ĐẦU
1.1 Lí do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn
trong nhà trường đang là vấn đề rất được xã hội rất quan tâm. Mục đích của việc


đổi mới phương pháp là thay đổi lối dạy học thụ động sang phương pháp dạy
học tích cực, nhằm phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo ở người
học.
Việc đổi mới phương pháp dạy học Văn chỉ thực sự có hiệu quả khi có sự
tham gia tích cực của giáo viên và học sinh qua từng giờ học cụ thể. Trong đó
người giáo viên với vai trò là người dẫn dắt, hướng dẫn học sinh trong giờ học,
phải xác định được những mục tiêu cơ bản, rõ ràng của giờ học. Hướng tới hình
thành những kiến thức chuẩn xác, các kĩ năng thành thục và những thái độ đúng
đắn cho học sinh.
Trong quá trình dạy học, bên cạnh việc hình thành kiến thức, thì việc rèn các
kĩ năng cho học sinh là rất quan trọng. Ở môn Ngữ văn, hình thành các kĩ năng
liên tưởng, tưởng tượng giữ vai trò quan trọng hàng đầu trong quá trình hướng
dẫn học sinh tiếp nhận tác phẩm văn học và viết các bài Tập làm văn theo hướng
tư duy tích cực, chủ động và sáng tạo.
Đối với học sinh lớp 6, việc rèn các kĩ năng liên tưởng, tưởng tượng có vai
trò hết sức quan trọng. Bởi vì bắt đầu từ cấp học này, các em sẽ dần làm quen
với việc tiếp nhận và cảm thụ vẻ đẹp của các tác phẩm văn học, đồng thời tập
viết các bài văn miêu tả và tự sự theo hướng sáng tạo.
Kĩ năng liên tưởng tưởng tượng giúp học sinh hình dung ra đối tượng được
gợi ra trong tác phẩm văn chương một cách cụ thể, sinh động. Từ đó để hiểu giá

đề sau:
- Đặc trưng của liên tưởng, tưởng tượng trong chương trình Ngữ văn 6
- Biện pháp rèn kĩ năng liên tưởng, tưởng tượng trong giờ dạy tác phẩm
văn học.
- Biện pháp rèn kĩ năng liên tưởng, tưởng tượng trong giờ dạy Tiếng việt.
- Biện pháp rèn kĩ năng liên tưởng, tưởng tượng trong giờ dạy Tập làm
văn.
trong nhà trường.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này tôi đã sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lí thuyết.
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin.
- Phương pháp phân tích, chứng minh.
- Phương pháp so sánh đối chiếu.
- Phương pháp trực quan.

2. NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lí luận
Liên tưởng, tưởng tượng trước hết là hiện tượng tâm lí. “Liên tưởng là nghĩ
tới sự việc, hiện tượng nào đó có liên quan nhân sự việc, hiện tượng đang
diễn ra. Tưởng tượng là tạo ra trong trí những hình ảnh không có ở trước
mắt hoặc chưa hề có”. [3]
Như vậy cơ chế của liên tưởng là dựa vào trí nhớ, chắp nối, liên kết các sự
kiện, để tạo hình ảnh đối lập hoặc tương đồng. Còn cơ chế của tưởng tượng là
dựa trên cơ sở các liên tưởng và sức sáng tạo để xây dựng biểu tượng mới. Cũng
có nghĩa liên tưởng nằm trong trí nhớ, là phương thức để nhớ, đồng thời liên
tưởng cũng là thao tác của tưởng tượng. Vì thế giữa liên tưởng và tưởng tượng
có mối quan hệ vừa là bộ phận vừa là nhân quả của nhau trong nhận thức và
phản ánh đối tượng.
Sáng tác văn học là một hoạt động giao tiếp xã hội nhằm hướng tới sự đồng

thể để diễn đạt thành những từ ngữ, hình ảnh chính xác, gợi cảm, có giá trị nghệ
thuật cao.
2.2. Thực trạng của vấn đề
a. Đối với giáo viên
Thông qua việc dự giờ, trao đổi kinh nghiệm giảng dạy, tôi nhận thấy có
nhiều giáo viên đã nắm rõ bản chất của liên tưởng, tưởng tượng và chú ý rèn
luyện kỹ năng này trong quá trình dạy học. Tuy nhên bên cạnh đó tôi còn nhận
thấy thực tế dạy học ở địa phương còn tồn tại một số hạn chế sau:
- Không ít giáo viên chưa nắm được đặc trưng của liên tưởng tưởng tượng trong
dạy học Ngữ văn. Vì vậy, tiến hành lên lớp với nội dung này còn mang tính hình
thức, hời hợt, qua loa cho xong tiết dạy.
- Nhiều tiết dạy chỉ chú ý đến khâu làm rõ đặc trưng kiểu bài mà ít chú ý đến
năng lực này cho HS .
- Chưa chú trọng khai thác những câu hỏi mở nhằm phát huy trí tưởng tượng,
liên tưởng phong phú ở các em.
- Người dạy chưa có sự đầu tư về tư liệu, tranh ảnh, đồ dùng trực quan... dẫn tới
chất lượng nhiều giờ dạy rất thấp.
- Hoạt động đổi mới phương pháp dạy học ở nhà trường THCS chưa mang lại
hiệu quả cao. Truyền thụ kiến thức một chiều vẫn là phương pháp chủ đạo trong
các giờ dạy học Văn. Tỉ lệ những giờ dạy học phát huy tính chủ động, tích cực,
sáng tạo của học sinh còn chưa nhiều.
- Hoạt động kiểm tra, đánh giá theo yêu cầu tái hiện kiến thức và đánh giá qua
điểm số đã dẫn đến tình trạng giáo viên duy trì lối dạy truyền thống là chủ yếu.


b. Đối với học sinh
Trong quá trình dạy học cũng như chấm chữa bài cho học sinh tôi thấy có
nhiều em học sinh thông minh, có sự liên tưởng độc đáo, bất ngờ và vận dụng
rất tốt kỹ năng đó vào việc học tập môn Ngữ văn. Tuy nhiên, rất nhiều học sinh
vẫn còn tồn tại một số vấn đề sau:

SL
%
Lớp
6A
30
9
30
15
50
8
20
6B
30
3
10
7
23,3
16
53,3
4
13,4
Mặc dù ở bậc tiểu học, học sinh đã được làm quen với văn miêu tả
nhưng yêu cầu về dung lượng cũng như kĩ năng viết bài chưa cao.Vì vậy với đề
văn trên, các em không có khả năng mở rộng những liên tưởng, tưởng tượng để
viết dài cũng như có những cách diễn đạt hay, giàu hình ảnh.
Từ thực tế trên, bản thân tôi đã vận dụng một số biện pháp và cách thức tổ
chức để rèn kĩ năng liên tưởng, tưởng tượng cho học sinh lớp 6 trường THCS
Thành Vân- Thạch Thành như sau:
2.3. Các giải pháp tiến hành
a. Rèn kĩ năng liên tưởng, tưởng tượng của học sinh trong giờ dạy tác phẩm

phải khơi gợi được ở học sinh sự liên tưởng, tưởng tượng phong phú từ những gì
đã có trong văn bản ngôn từ. Trước tiên là qua cách đọc tác phẩm sao cho
“vang nhạc, sáng hình” và sau đó là hệ thống câu hỏi có khả năng gợi mở, định
hướng.
Trong giảng Văn, giọng đọc của người thầy phải có khả năng truyền được
cái hồn của tác phẩm cho học sinh. Qua giọng đọc của thầy, các em thấy mở ra
trong tâm trạng, trong cảm xúc và tư duy những gì cần lĩnh hội. Không chỉ có
thế, thầy cũng phải rèn cho trò cách đọc đúng, đọc diễn cảm và đọc sáng tạo.
Chính người học sẽ tự cảm thụ được vẻ đẹp của văn chương qua giọng đọc ngân
vang của mình. Trong quá trình các em đọc là đồng thời trong tư duy của các em
đã diễn ra sự tưởng tượng những hình ảnh một cách cụ thể và sinh động.
Hệ thống câu hỏi tìm hiểu bài cũng cần phải được chuẩn bị kĩ càng để từng
bước dẫn dắt học sinh thâm nhập vào tác phẩm. Có thể vận dụng các kiểu câu
hỏi như:
Câu hỏi tái hiện: Tái hiện là phương pháp rất phổ biến trong giờ dạy học
Văn. Đó không chỉ đơn giản là sự hình dung, tưởng tượng mà còn bao gồm cả
cách hình dung, tưởng tượng nữa. Với những tư liệu phong phú, sinh động, với
những câu hỏi chính xác và có tính thẩm mỹ cao, giáo viên phải hướng dẫn để
học sinh hình dung được nhân vật đi, đứng, khóc, cười… Cuộc sống đang
chuyển động trước mắt các em.Và từ đó có thể miêu tả lại những gì tác giả viết
bằng ngôn ngữ của mình.


Ví dụ :
- Em tưởng tượng và miêu tả lại trận thuỷ chiến giữa Sơn Tinh và Thuỷ Tinh ?
( Học bài : Sơn Tinh, Thủy Tinh)
- Bằng trí tưởng tượng, em hãy tường thuật lại cảnh Thánh Gióng đánh giặc
Ân?
( Học bài : Thánh Gióng)
- Nếu được vẽ tranh minh họa cho truyền thuyết “ Con Rồng, cháu Tiên” em sẽ

câu chuyện em sẽ viết như thế nào để câu chuyện có một ý nghĩa sâu sắc?
( Học bài: Ông lão đánh cá và con cá vàng)
Có thể khẳng định rằng: giờ học Văn thành công hay không là phụ thuộc
phần lớn vào hệ thống câu hỏi mà giáo viên dẫn dắt cho học sinh khám phá tác
phẩm.


Việc rèn cho học sinh một số thói quen trong giờ dạy học Văn cũng rất quan
trọng. Như thói quen đọc kĩ tác phẩm, ghi nhớ các chi tết nghệ thuật quan trọng
và thuộc tác phẩm thơ cũng như những đoạn văn, câu văn hay. Đây là công việc
rất cần thiết để tiện cho các em liên hệ, so sánh, đối chiếu. Thói quen liên tưởng,
liên hệ những vấn đề, những tác phẩm khác có liên quan đến những giá trị cơ
bản trong tác phẩm đang học là vô cùng cần thiết trong quá trình lĩnh hội văn
học.
b. Rèn kĩ năng liên tưởng, tưởng tượng trong các giờ dạy Tiếng Việt.
Đối với phân môn Tiếng Việt, các kĩ năng liên tưởng, tưởng tượng rất quan
trọng trong việc giúp học sinh hiểu và vận dụng cách dùng từ, đặt câu chính xác
và sáng tạo, đem lại hiệu quả diễn đạt cao. Đặc biệt là các biện pháp tu từ so
sánh, nhân hóa, ẩn dụ và hoán dụ mà các em được học trong chương trình Ngữ
văn lớp 6.
Trong những giờ dạy các biện pháp nghệ thuật này, người giáo viên phải
giúp học sinh nhận biết, cách tìm hiểu giá trị nghệ thuật, cách vận dụng các phép
tu từ khi nói và viết.
Trong thực tế, học sinh thường chưa xác định được chính xác các phép tu
từ, lẫn lộn giữa các phép tu từ và khó khăn lớn nhất đối với các em là chưa hiểu
hết được giá trị nghệ thuật cũng như nội dung của các phép tu từ. Từ đó khả
năng vận dụng rất hạn chế.
Từ thực tế đó, bản thân tôi đã thực hiện các bước cơ bản trong một giờ dạy
về biện pháp nghệ thuật là:
+ Giúp học sinh nắm vững khái niệm, hiểu được cơ sở hình thành các biện

một ví dụ để minh họa.
+ Dạng đầy đủ: Rừng đước dựng lên cao ngất như hai dãy trường thành vô
tận.[2]
+ Dạng biến đổi: Trẻ em như búp trên cành.
Tấc đất, tấc vàng.
Như tre mọc thẳng, con người không chịu khuất.
Trường Sơn, chí lớn ông cha.
- Cách tìm giá trị nghệ thuật:
Giáo viên cần hướng dẫn học sinh phân tích nội dung ý nghĩa của về B thì
nội dung của vế A và nội dung của toàn câu sẽ được làm rõ. Muốn hiểu được vế
B một cách chuẩn xác chúng ta phải sử dụng vốn hiểu biết từ thực tế, vốn kiến
thức văn học đã có. Khi các em làm tốt khâu này, các em sẽ tìm được giá trị đích
thực của phép tu từ này.
Cụ thể khi phân tích ví dụ:
Học sinh xác định cấu trúc:
Cái chàng Dế Choắt, người gầy gò và dài lêu nghêu như một gã nghiện thuốc
phiện. [2]
VA
PDSS
TSS
VB
+ Em hình dung gã nghiện thuốc phiện là người như thế nào?
- > Dáng người gầy gò, ốm yếu, da vàng tái, đi liêu xiêu…
+ Thông qua hình ảnh so sánh, tac giả muốn người đọc hình dung điều gì
về Dế Choắt?
-> Dế Choắt gầy ốm, quoặt quẹo, nhìn yểu tướng…
- Lời bình phép tu từ so sánh :
Phần lớn học sinh chỉ nêu ra phép tu từ và tác dụng của vế A và vế B mà
thôi, các em chưa biết dùng lời bình để làm rõ ý nghĩa của phép tu từ trong một
đoạn thơ, đoạn văn. Để giúp các em có kĩ năng liên tưởng, tưởng tượng và dùng

giáo viên phải tìm tòi đưa thêm một số các đoạn văn mẫu tiêu biểu có trong
chương trình hoặc ngoài chương trình. Nên chọn những ngữ liệu hay đã được
khẳng định. Chẳng hạn khi dạy văn miêu tả nên đưa thêm đoạn tuỳ bút của
Nguyễn Tuân :
“Sau trận bão, chân trời ngấn bể sach như một tấm kính lau hết mây, hết
bụi. Mặt trời nhú lên dần dần, rồi lên cho kì hết. Tròn trĩnh và phúc hậu như
lòng đỏ một quả trứng thiên nhiên đầy đặn. Quả trứng hồng hào thăm thẳm và
đường bệ đặt lên một mâm bạc đường kính mâm rộng bằng cả một cái chân trời
màu ngọc trai nước biển ửng hồng. Y như một mâm lễ phẩm tiến ra từ trong
bình minh để mừng cho sự trường thọ của tất cả những người dân chài lưới trên
muôn thuở biển Đông.” [2]
( Trích: Cô Tô- Ngữ văn 6, tập 2)
Qua việc phân tích các mẫu, học sinh vừa cảm nhận được cái hay, cái đẹp
trong cách diễn đạt của nhà văn, vừa học tập được cách nhà văn liên tưởng,
tưởng tượng qua những biện pháp như so sánh, nhân hoá, ẩn dụ, hoán dụ...
- Hướng dẫn học sinh cách làm bài:
Trong những giờ hướng dẫn học sinh làm các đề văn kể chuyện và miêu tả,
giáo viên cần hướng dẫn chi tiết các bước. Sau khi đã xây dựng được dàn ý,
phần quan trọng để rèn kĩ năng liên tưởng, tưởng tượng cho học sinh là tập viết
các đoạn văn. Trong bước này, giáo viên cho học sinh tập diễn đạt bằng cách: từ
một hình ảnh, một sự việc, có thể liên tưởng, tưởng tượng đến nhiều sự việc,
hình ảnh khác nhau và lựa chọn lấy những hình ảnh hợp lí, đặc sắc hơn cả.


Sau khi hoàn chỉnh bài văn, giáo viên yêu cầu học sinh đọc lại để sửa chữa
bài viết. Ở phần này, đòi hỏi giáo viên phải rất chú ý đến những hình ảnh liên
tưởng, tưởng tượng chưa hợp lí, chưa hay để có những điều chỉnh kịp thời.
- Đổi mới phương pháp ra đề theo hướng mở.
Đối với văn tự sự: Bên cạnh những đề văn kể chuyện đời thường, giáo viên
nên tích cực tìm hiểu và ra những đề văn kể chuyện tưởng tượng sáng tạo, nhằm

hình dung tưởng tượng có bắt nguồn từ một cơ sở thực tế nào đó.
- Đối tượng: Người hay cảnh vật.


- Yêu cầu khi miêu tả:
- Tả cảnh phải bám vào một số nét thực của đời sống. Ví dụ khi tả một
phiên chợ trong tưởng tượng của em cần dựa trên những đặc điểm thường xảy
ra của cảnh đó làm cơ sở tưởng tượng như: không khí của cảnh, số lượng người
với những lứa tuổi tầng lớp nào? Chợ diễn ra ở địa điểm nào? Thời tiết khí hậu
ra sao?....Những cơ sở đó là thực tế để tưởng tượng theo ý định của mình.
- Tả người trong tưởng tưởng: nhân vật thường là những người có đặc điểm
khác biệt với người thường như các nhân vật ông Tiên, ông Bụt trong cổ tích hay
một người anh hùng trong truyền thuyết....Cần dựa vào đặc điểm có tính bản
chất để tưởng tượng những nét ngoại hình cho phù hợp, tạo sự hấp dẫn
Lưu ý: Dù miêu tả theo cách nào và đối tượng nào cũng cần chú ý vận dụng
ví von so sánh để bài văn miêu tả có nét độc đáo mang tính cá nhân rõ.
Để có được những đề văn theo hướng mở, thực sự phát huy được trí liên
tưởng, tưởng tượng của học sinh, người giáo viên phải nghiên cứu, tập ra đề,
trao đổi tập thể. Xây dựng thử các khả năng thực hiện đề mở, cùng với nhóm
chuyên môn tìm ra biện pháp dạy học sinh làm quen, làm thử thì học sinh mới
làm được.
Trong các buổi sinh hoạt chuyên môn theo nhóm, nhóm Văn trường THCS
Thành Vân dành nhiều thời gian để trao đổi về hướng ra đề mở và các dạng đề
mở. Ở Lớp 6, trong phần hướng dẫn học sinh làm văn tự sự và miêu tả theo
hướng mở, chúng tôi đã tìm tòi và xây dựng bộ đề bài văn theo hướng mở và
thống nhất các định hướng xây dựng đáp án. Bộ đề này được sử dụng trong các
tiết viết bài văn tự sự và miêu tả. Đây cũng là tài liệu lưu hành nội bộ, đồng thời
bộ đề sẽ được bổ sung trong các năm học tiếp theo. Làm như vậy, cách thức
kiểm tra đánh giá học sinh được hệ thống và nhất quán. Đáp ứng được yêu cầu
đổi mới hình thức kiểm tra, đánh giá học sinh trong bộ môn Ngữ văn ở nhà

tưởng tượng, so sánh, nhận xét trong văn miêu tả.
miêu tả.
Ví dụ: SGK
Bước1: Gv gọi hs đọc ba đoạn văn trong - Đoạn văn 1:
sgk
+ Tả ngoại hình Dế Choắt gầy
Bước 2: Gv cho hs tìm hiểu cách quan sát, ốm, đáng thương.
tưởng tượng, so sánh và nhận xét
+ Từ ngữ, hình ảnh: gầy gò, lêu
+ Em hãy xác định nội dung miêu tả của nghêu, bè bè, ngẩn ngẩn, ngơ
các đoạn văn?
ngơ.
- Sau đó gv chia lớp thành ba nhóm học + Những câu văn có sự liên
tập để thảo luận các câu hỏi sau:
tưởng, tưởng tượng và so sánh:
+ Những đặc điểm nổi bật của sự vật +) Người gầy gò như một gã
được miêu tả tập trung ở những từ ngữ, nghiện thuốc phiện.
hình ảnh nào?
+)Đã thanh niên rồi mà cánh
+ Hãy chỉ ra những câu văn có sự liên ngắn hủn hoẳn như người cởi
tưởng, tưởng tượng và so sánh?
trần mặc áo ghi lê.
+ Sự liên tưởng và so sánh ấy có gì độc - Đoạn văn 2:
đáo?
+ Tả cảnh sông nước Cà Mau thơ
- Đại diện các mhóm trình bày.
mộng, hùng vĩ.
- Gv cho các nhóm khác nhận xét và chốt + Từ ngữ, hình ảnh: giăng chi
lại các ý đúng. Bổ sung thêm các ý còn chít như mạng nhện, trời xanh.
thiếu.

bảng.
- Gv tích hợp với phần tiếng việt- so sánh
là gì?
G v hướng dẫn hs thực hiện phần luyện
tập trong sgk.
Bài tập1: Gv cho hs điền từ vào chỗ trống
bằng hình thức thực hiện bài tập nhanh.
+ Em có nhận xét gì về cách quan sát và
lựa chọn những hình ảnh của tác giả để

- Đoạn văn 3:
+Tả cảnh sắc mùa xuân vui, náo
nức như ngày hội.
+Từ ngữ, hình ảnh:ríu rít, sừng
sững,khổng lồ,ngọn lửa hồng,
ngàn ánh nến trong xanh, lonh
lanh, lung linh…
+ Những câu văn có sự liên
tưởng, tưởng tượng và so sánh:
+)Câu gạo…khổng lồ.
+)Hàng ngàn…lửa hồng.
+)Hàng ngàn búp nõn…trong
xanh.
" Người viết biết quan sát, sau đó
tưởng tượng, so sánh để làm nổi
bật đối tượng được miêu tả.
"Để làm nổi bật đặc điểm của sự
vật trong văn miêu tả cần phải
biết quan sát đặc điểm của sự
vật, sau đó tưởng tượng để có

Chẳng hạn:
- Mặt trời như một chiếc quả cầu lửa.
- Bầu trời trong sáng và mát mẻ như
khuôn mặt của em bé sau một giấc ngủ
dài.
- Những hàng cây như những bức tường
thành cao vút.
Bài tập 5:(Bài tập mở rộng)
Đề bài: Em hãy tưởng tượng những thay
đổi của ngôi trường mình sau mười năm
và tả lại.

" Tác giả đã quan sát và lựa chọn
được những hình ảnh rất tiêu biểu,
đặc sắc. Những hình ảnh đó là:
mặt hồ... sáng long lanh; cầu Thê
Húc...màu son; đền Ngọc Sơn;
gốc đa già rễ lá xum xuê; tháp rùa
xây trên gò đất giữa hồ. đó là
những đặc điểm mà các hồ khác
không có.
" Những từ ngữ trong dấu ngoặc
đơn đều là những từ ngữ chỉ tính
chất của Hồ Gươm. Nếu thay
những từ đó bằng những từ khác
thì không hợp với đặc điểm của
hồ.
Bài tập 2: Xác định những đặc
điểm tính chất của Dế Mèn
- Rung rinh; bóng mỡ soi gương

Vì đây là giờ để các em được thoải mái sáng tạo, được tập làm những “nhà văn
nhí”. Đã xuất hiện những đoạn văn hay, những bài văn mang cá tính sáng tạo.
Sau đây là một bài văn của học sinh lớp 6 Trường THCS Thành Vân khi làm
đề văn Tự sự:
Đề bài: Tưởng tượng một kết thúc khác của truyện “ Ông lão đánh cá và con cá
vàng”.
Bài viết
Đợi mãi không thấy cá vàng bơi lên, ông lão chèo thuyền ngược trở về.
Sóng gió bão bùng đã qua đi. Biển xanh trở lại hiền hoà. Ông lão chèo thuyền


mà lòng chất chứa bao nỗi ưu tư. Không biết có nên trở lại ngôi nhà ấy nữa
không? Nó giờ đây đâu còn là ngôi nhà của mình nữa. Và người ở trong ngôi
nhà ấy cũng đâu phải là người vợ đói khổ của mình. Nhưng không biết quỷ thần
xui khiến thế nào mà đôi chân lão vẫn đưa lão về mảnh đất ngày xưa.
Nhưng! Chuyện gì đang xảy ra thế này? Tất cả đã biến đi đâu? Tại sao
không còn ai nữa? Mụ vợ của ta đâu? Trước mắt ông lão không phải là một
cung điện nguy nga có Long Vương đang ngự giữa hàng trăm lính canh như lão
nghĩ. Kì lạ thay! Trước mặt ông là khung cảnh cũ. Mái lều lụp xụp, rách nát và
siêu vẹo đứng bên cạnh chiếc máng lợn đã sứt mẻ cả hai đầu. Xa xa ngoài kia
vẫn còn cây sào nơi lão vắt chiếc lưới đã vá chằng vá đụp. Chưa hiểu chuyện
gì, lão gọi to:
- Bẩm Long Vương! Lão già khốn khổ đã trở về!
- Không thấy có tiếng trả lời, lão lại tiếp:
- Thưa nữ hoàng!
- Thưa nhất phẩm phu nhân!
- Bà lão ơi! Tôi đã trở về rồi!
Vẫn không có tiếng trả lời. Lão già vội bước vào trong. Không thấy có ai.
Nhìn quanh lão thấy trên bàn có một mảnh giấy với những nét chữ nguệch
ngoạc được viết vội vàng. Lão mang ra soi dưới nắng và bắt đầu đánh vần từng

Điểm

Giỏi
Sĩ số

Khá

TB

Yếu

SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
Lớp
6A
30
9
30
13
43,3
8
26,7
6B
30

học sinh. Sự sáng tạo trong văn chương không hề giống nhau, bởi sự liên tưởng,
tưởng tượng của mỗi người là khác nhau. Để giờ dạy học Văn thật sự trở nên
hứng thú với học sinh, khắc phục tình trạng học sinh thờ ơ, ngại học môn Ngữ
văn, đòi hỏi người giáo viên phải luôn có những tìm tòi đổi mới trong cách dạy
học. Phải dạy học sinh biết tự tìm lấy kiến thức và biết diễn đạt những suy nghĩ


theo cách riêng của mình. Bởi vì chỉ khi nào kiến thức thu nhận bằng con đường
tự khám phá mới là kiến thức vững chắc và đáng tin cậy nhất.
Bản thân tôi cũng đã từng bước áp dụng sáng kiến kinh nghiệm vào trong
các giờ dạy Ngữ văn một cách linh hoạt, đồng thời cùng các đồng nghiệp trong
tổ chuyên môn tiếp tục tìm tòi thêm những giải pháp thực hiện, nhằm nâng cao
hơn nữa những giờ dạy của mình.
Từ việc áp dụng các biện pháp đổi mới trong dạy học đã nói như trên và thu
được một số kết quả rất đáng khích lệ tôi nhận thấy rằng: trong quá trình dạy
học để đạt được kết quả cao thì người giáo viên phải thực sự yêu nghề, tâm
huyết, luôn luôn khám phá, tìm tòi để nâng cao trình đọ chuyên môn. Trong quá
trình giảng dạy, giáo viên phải có phương pháp giảng dạy phù hợp. Đối với học
sinh lớp 6, các em đều ở độ tuổi rất nhỏ vì thế trong quá trình giảng dạy, giáo
viên phải hướng dẫ cụ thể, theo dõi sát sao quá trình học tập để giúp đỡ các em
khi cần thiết.
Kiến nghị:
- Cần trang bị thêm hệ thống máy chiếu ở các phòng học để giáo viên tiện áp
dụng công nghệ thông tin vào giờ dạy được thuận lợi .
- Cần có phòng đọc thư viện để học sinh có điều kiện mở rộng kiến thức
thuận tiện hơn.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Tôi xin cam đoan SKKN là do tôi
viết, không sao chép.

Phòng
B
2009-2010
trả bài TLV trong chương trình GD&ĐT
Ngữ văn THCS.
Thạch
Thành
2.
Hướng dẫn học sinh làm tốt
Sở GD&
C
2013-2014
kiểu bài: Nghị luận về tác phẩm ĐT Thanh
truyện ( hoặc đoạn trích) ở lớp Hóa
9





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status