Áp dụng pháp luật trong giải quyết các vụ án về hôn nhân và gia đình tại tòa án nhân dân cấp huyện trên địa bàn thành phố hà nội - Pdf 43

B GIO DC V O TO

B T PHP

TRNG I HC LUT H NI

NGUYN TH

áp dụng pháp luật trong giải quyết các vụ án về Hôn nhân và gia
đình tại Tòa án nhân dân cấp huyện trên địa bàn thành phố
Hà Nội

Chuyờn ngnh : Lý lun v lch s Nh nc v phỏp lut
Mó s : 60380101
Ngi hng dn khoa hc: PGS.TS. ..

H NI NM 2017
1


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả nêu trong
Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích
dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả
các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Đại học Luật
Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Đại học Luật Hà Nội xem xét để tôi có thể bảo vệ
Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN


-2015). 34
Kết luận chương 2 50
3


Chương 3 YÊU CẦU, GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ÁP DỤNG PHÁP
LUẬT TRONG GIẢI QUYẾT ÁN HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH CỦA TOÀ ÁN NHÂN
DÂN CẤP HUYỆN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 52
3.1. Yêu cầu đối với việc nâng cao chất lượng áp dụng pháp luật trong giải quyết án hôn
nhân và gia đình của toà án nhân dân cấp huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội 52
3.2. Giải pháp nâng cao chất lượng áp dụng pháp luật trong giải quyết án hôn nhân và gia
đình của toà án nhân dân cấp huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội 57
Kết luận chương 3 78
KẾT LUẬN 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 80

4


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ADPL: Áp dụng pháp luật
BLTTDS: Bộ luật tố tụng dân sự
HĐXX: Hội đồng xét xử
HLPL: Hiệu lực pháp luật
Nxb: Nhà xuất bản
QHPL: Quan hệ pháp luật
QPPL: Quy phạm pháp luật
TAND: Tòa án nhân dân
TANDTC: Tòa án nhân dân tối cao
TTDS: Tố tụng dân sự

Ở thành phố Hà Nội những năm qua, số lượng án về Hôn nhân và gia đình ngày càng gia
tăng. Đối với loại án này mỗi vụ án có nội dung đa dạng và tính phức tạp khác nhau, nên
việc ADPL để giải quyết loại án này gặp không ít những khó khăn, trong nhận thức vận
dụng pháp luật cũng như khó khăn từ khách quan mang lại. Tuy vậy, quá trình giải quyết án
Hôn nhân và gia đình của ngành Toà án nhân dân thành phố Hà Nội trong những năm qua
đạt những kết quả nhất định góp phần giải quyết các mâu thuẫn bất hoà trong hôn nhân,
bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Thông qua việc ADPL trong việc giải
quyết án Hôn nhân và gia đình góp phần làm ổn định quan hệ trong hôn nhân, giữ gìn kỷ
cương pháp luật, giữ ổn định chính trị, trật tự trị an toàn xã hội, góp phần tăng cường nền
pháp chế Xã hội chủ nghĩa trên toàn thành phố. Đồng thời, hoạt động ADPL trong giải
quyết án
6


Hôn nhân và gia đình, ngoài việc đấu tranh với các hành vi trái pháp luật nảy sinh trong
lĩnh vực về hôn nhân, còn phổ biến tuyên truyền giáo dục ý thức pháp luật cho nhân dân, từ
sự hiểu biết pháp luật, nhân dân sẽ tham gia thực hiện pháp luật, bảo vệ pháp luật, tố giác
những hành vi vi phạm pháp luật trong quan hệ hôn nhân, đồng thời qua thực tiễn ADPL
trong giải quyết án
Hôn nhân và gia đình sẽ phát hiện ra những thiếu sót trong pháp luật để có những đề xuất
sửa đổi các điều khoản của pháp luật cho phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn trong từng giai
đoạn cụ thể.
Bên cạnh những mặt đã đạt được, qua quá trình kiểm tra giám đốc án và xét xử phúc thẩm
của TAND thành phố Hà Nội đã phát hiện có những thiếu sót của việc ADPL trong quá
trình giải quyết, nên dẫn đến một số vụ án bị sửa, huỷ; một số ít vụ án còn bị dây dưa kéo
dài, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của các đương sự. Trong hoạt động xét xử, ngành Toà án
thành phố Hà Nội cũng đã bộc lộ một số tồn tại, như án tồn đọng còn nhiều, vi phạm thời
hạn tố tụng.
Đặc biệt, một số vụ án do ADPL không chuẩn xác, nên còn bị sửa, huỷ nhiều lần, kéo dài
nhiều năm gây ảnh hưởng đến đời sống, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Đây là

bàn thành phố Hà Nội nói riêng.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
* Mục đích của luận văn
+ Nghiên cứu những vấn đề lý luận về ADPL trong giải quyết án Hôn nhân và gia đình;
+ Đánh giá thực tiễn của việc ADPL trong giải quyết án Hôn nhân và gia đình tại thành phố
Hà Nội;
+ Đề ra những giải pháp đảm bảo việc ADPL trong giải quyết án Hôn nhân và gia đình của
TAND cấp huyện ở thành phố Hà Nội hiện nay.
* Nhiệm vụ của luận văn
+ Xây dựng khái niệm ADPL trong giải quyết án Hôn nhân và gia đình và phân tích các
đặc điểm, nội dung, cũng như nêu lên các giai đoạn của việc ADPL trong hoạt động giải
quyết án hôn nhân và gia đình;
+ Đánh giá kết quả đạt được, những ưu điểm, hạn chế của hoạt động ADPL trong giải
quyết án Hôn nhân và gia đình của TAND cấp huyện ở thành phố Hà Nội và rút ra các
nguyên nhân khách qua và nguyên nhân chủ quan của hạn chế;
+ Nêu lên các quan điểm, yêu cầu và đề xuất các giải pháp cụ thể như:
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của Toà án; hoàn thiện các quy phạm
pháp luật nhằm đảm bảo ADPL trong giải quyết án Hôn nhân và gia đình; Kiện toàn tổ
chức, nâng cao năng lực của đội ngũ Thẩm phán, cán bộ Toà án và Hội thẩm nhân dân…
nhằm đảm bảo việc ADPL trong giải quyết án Hôn nhân và gia đình của TAND cấp huyện
ở thành phố Hà Nội.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: Là việc ADPL trong hoạt động giải quyết án Hôn nhân và gia đình
của Toà án nhân dân cấp huyện trên địa bàn Thành phố Hà Nội.

8


* Phạm vi nghiên cứu: Luận văn xem xét nghiên cứu tình hình ADPL để giải quyết án Hôn
nhân và gia đình của các Toà án nhân dân cấp huyện ở thành phố Hà Nội trong khoảng thời

Chương 3: Yêu cầu, giải pháp nâng cao chất lượng áp dụng pháp luật trong giải quyết án
hôn nhân và gia đình của Tòa án nhân dân cấp huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội.
9


Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG GIẢI QUYẾT
ÁN HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN
1.1. Khái niệm áp dụng pháp luật trong giải quyết án hôn nhân và gia đình tại Tòa án
nhân dân cấp huyện
1.1.1. Khái niệm hôn nhân và gia đình
Hôn nhân là một hình thức, hiện tượng được hình thành rất lâu đời trong xã hội loài người.
Khái niệm ban đầu của hôn nhân là sự sắp đặt của xãhội để điều chỉnh mối quan hệ giữa
đàn ông và đàn bà, hôn nhân là sự liên kếthợp pháp giữa người đàn ông và người đàn bà để
xây dựng gia đình và chungsống với nhau. Ngày nay, khi xã hội phát triển, hôn nhân còn
có thể là sự liênkết của hai người cùng giới tính. Sự liên kết đó phát sinh, hình thành do
việckết hôn và được biểu hiện ở một quan hệ xã hội gắn liền với nhân thân, đó làquan hệ
vợ chồng. Quan hệ này là quan hệ giới tính, thực chất và ý nghĩa củanó biểu hiện trong
việc sinh đẻ, nuôi nấng, giáo dục con cái, đáp ứng chonhau những nhu cầu tinh thần và vật
chất trong đời sống hàng ngày. Trongmỗi giai đoạn phát triển của lịch sử, giai cấp thống trị
bằng pháp luật, điềuchỉnh quan hệ hôn nhân cho phù hợp với ý chí, nguyện vọng của mình,
phùhợp với ý chí giai cấp mình, xã hội nào thì có hình thái hôn nhân đó và tươngứng với
chế độ hôn nhân nhất định. Chẳng hạn, xã hội phong kiến có hìnhthức hôn nhân phong
kiến, mang bản chất của hôn nhân phong kiến. Trong xãhội tư bản có hình thức hôn nhân
tư sản mang bản chất của xã hội tư sản. Xãhội XHCN có hình thức của hôn nhân xã hội
chủ nghĩa. Hiện nay ở một sốnước đã công nhận việc kết hôn giữa những người đồng giới,
vì vậy kháiniệm hôn nhân cũng được mở rộng hơn, không chỉ giữa người đàn ông vàngười
đàn bà mà là giữa hai con người có mối quan hệ tình cảm, có cùngchung mục đích là muốn
có sự liên kết gắn bó với nhau về mặt tinh thần cũngnhư về mặt luật pháp, không biệt giới
tính, chủng tộc, quốc tịch...

đình là những hiện tượng xã hội mà luôn được các nhà triết học, xã hội học,
sử học, luật học... nghiên cứu. Hôn nhân là cơ sở của gia đình, còn gia đình là
tế bào của xã hội, mà trong đó kết hợp chặt chẽ, hài hoà lợi ích của mỗi công
dân, nhà nước và xã hội. C. Mác và Ph. Ăngghen đã chứng minh một cách
khoa học rằng, hôn nhân và gia đình là phạm trù phát triển theo lịch sử, rằng
giữa chế độ kinh tế - xã hội và tổ chức gia đình có mối quan hệ liên quan trực
tiếp và chặt chẽ. Trong tác phẩm, Nguồn gốc gia đình, của chế độ tư hữu và
Nhà nước (1884), Ph.Ăngghen đã nhấn mạnh rằng: “Chế độ gia đình trong xã
hội phụ thuộc vào quan hệ sở hữu thống trị trong xã hội đó và bước chuyển từ
hình thái gia đình này lên hình thái gia đình khác cao hơn suy cho cùng được
11


quyết định bởi những điều kiện vật chất của đời sống xã hội” [24]. Bằng tác
phẩm đó, Ph.Ăngghen đã làm thay đổi quan điểm trước đây về hình thái hôn
nhân và gia đình trong lịch sử.
Tại các Điều 8, 9 Chương II của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
quy định việc kết hôn, để được công nhận hôn nhân hợp pháp, việc đăng ký
kết hôn phải tuân thủ theo các quy định của pháp luật và việc ly hôn cũng như
giải quyết các quan hệ liên quan đến hôn nhân cũng được tiến hành theo trình
tự pháp luật nhất định, các bước phải được tuân thủ theo Bộ luật tố tụng dân
sự, khi giải quyết một vấn đề cụ thể thì được áp dụng theo Luật Hôn nhân và
gia đình.
1.1.2. Khái niệm áp dụng pháp luật trong giải quyết án Hôn nhân và gia đình
Áp dụng pháp luật là một hoạt động mang tính tổ chức quyền lực nhà
nước, là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó Nhà nước thông qua
các cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc nhà nước tổ chức cho các chủ thể
pháp luật thực hiện những quy định pháp luật. Áp dụng pháp luật sẽ cá biệt
hóa các biện pháp cưỡng chế nhà nước hoặc các chế tài pháp luật; làm phát
sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể; giải

Trong tổ chức bộ máy Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam,
Toà án là cơ quan duy nhất có thẩm quyền xét xử. Hiến pháp năm 1946, Hiến
pháp đầu tiên của Nhà nước Việt Nam độc lập, mặc dù không quy định rõ Toà
13


án là cơ quan xét xử, nhưng trên tinh thần của Hiến pháp chúng ta cũng có thể
hiểu Toà án là cơ quan xét xử. Các bản Hiến pháp năm 1959,1980, 1992 và 2013
đã quy định rõ về chức năng xét xử của Toà án, Hiến pháp năm 2013 đã quy
định: “Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp” [52, khoản 1 Điều 102]. Trên cơ sở Hiến
pháp, Luật Tổ chức Toà án nhân dân quy định về chức năng xét xử của Toà
án: “Toà án nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xét xử các
vụ án Hình sự, Dân sự, Hôn nhân và gia đình, Kinh doanh thương mại, Lao
động, Hành chính và giải quyết các việc khác theo quy định của pháp luật...”
[31, Khoản 2 Điều 2].
Trong quá trình xét xử Toà án phải ADPL để giải quyết các vụ án. Đối
với các vụ án Hôn nhân và gia đình, Toà án phải ADPL để giải quyết từ khâu
phân loại đơn, thụ lý đơn, điều tra, thu thập chứng cứ, xác minh, định giá tài
sản… cho đến khi đưa vụ án ra xét xử và tuỳ từng vụ án cụ thể mà phân loại
giải quyết khác nhau như: Quyết định chuyển vụ án, tạm đình chỉ vụ án, đình
chỉ vụ án, công nhận hoà giải thành, công nhận thuận tình ly hôn hoặc quyết
định đưa vụ án ra xét xử.
Theo quy định của Luật tố tụng dân sự khi đương sự gửi đơn đề nghị
giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình đến TAND cấp có thẩm quyền giải
quyết, sau khi nhận đơn Toà án tiến hành phân loại việc hôn nhân và gia đình.
Nếu là quan hệ tranh chấp ly hôn thì thụ lý vụ án với quan hệ pháp luật “Tranh
chấp ly hôn”. Nếu đơn khởi kiện yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi
con chung sau khi ly hôn thì thụ lý vụ án với quan hệ pháp luật “Tranh chấp
14

hoạt động mang tính quyền lực nhà nước, Toà án được Nhà nước trao quyền
để lựa chọn các quy phạm pháp luật và ADPL trong giải quyết án hôn nhân và
gia đình.
- Áp dụng pháp luật trong giải quyết án Hôn nhân và gia đình chỉ do hệ
thống TAND tiến hành. Toà án là cơ quan có thẩm quyền duy nhất có quyền
ADPL để giải quyết án hôn nhân và gia đình.
- Áp dụng pháp luật trong giải quyết án hôn nhân và gia đình được tiến
hành theo một thủ tục chặt chẽ do pháp luật tố tụng dân sự quy định và các
quy phạm pháp luật của Luật Hôn nhân và gia đình quy định. Khi tiến hành
giải quyết một vụ án hôn nhân và gia đình, các trình tự xây dựng hồ sơ từ
khâu thụ lý, điều tra, thu thập chứng cứ đến khi ra quyết định hoặc quyết định
đưa vụ án ra xét xử đều phải tuân theo các bước như đã quy định trong Bộ
luật tố tụng dân sự nhằm đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các bên đương sự.
- Áp dụng pháp luật trong giải quyết án hôn nhân và gia đình là một
hoạt động mang tính khoa học và sáng tạo do Thẩm phán và Hội thẩm nhân
dân thực hiện. Chỉ có Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân trực tiếp giải quyết
vụ án hôn nhân và gia đình mới được áp dụng các quy phạm pháp luật, sao
cho phù hợp và khoa học để giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình. Trong
khuôn khổ của pháp luật cho phép, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân ADPL
sáng tạo, nghĩa là dựa vào trí tuệ và niềm tin nội tâm của mình để ADPL.
- Áp dụng pháp luật trong giải quyết án hôn nhân và gia đình diễn ra
trên phạm vi rộng với nhiều vụ án đa dạng, phức tạp. Tuy nhiên, cùng một
16


loại án về hôn nhân và gia đình nhưng tính chất từng vụ án cũng khác nhau,
tình tiết, chứng cứ trong các vụ án cũng khác nhau. Khi giải quyết vụ án phải
tuân thủ theo các bước quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự.
Từ đó có thể rút ra rằng hoạt động ADPL trong giải quyết các vụ án
Hôn nhân gia đình chỉ do hệ thống Tòa án tiến hành, tuy nhiên ở mỗi cấp Tòa

gia đình mà pháp luật quy định [50, Điều 28, 29].
Chủ thể trực tiếp ADPL đối với các vụ án Hôn nhân và gia đình tại
TAND cấp huyện là Thẩm phán và các Hội thẩm nhân dân. Trong trường hợp
vụ án có thể được giải quyết bằng một quyết định thì Hội thẩm nhân dân
không tham gia vụ án mà người ADPL để ban hành quyết định giải quyết vụ
án là Thẩm phán trực tiếp giải quyết vụ án đó. Ví dụ: trong quá trình giải
quyết vụ án, hai bên vợ chồng cùng thống nhất thuận tình ly hôn thì Thẩm
phán lập Biên bản ghi nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của đương sự,
nếu sau 07 ngày kể từ ngày lập Biên bản, hai bên không có văn bản về việc
thay đổi ý kiến thì Thẩm phán được quyền ban hành Quyết định công nhận
thuận tình ly hôn để chấm dứt quan hệ hôn nhân của vợ chồng. Nếu vụ án
phải dẫn tới việc xét xử thì Thẩm phán sẽ ra Quyết định xét xử để thành lập
một Hội đồng xét xử bao gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân, Hội
đồng xét xử sẽ xem xét để ban hành một bản án giải quyết vụ án. Vì vậy,
Thẩm phán là người đầu tiên tiếp xúc với hồ sơ vụ án, trực tiếp tiếp xúc với
18


đương sự, có thể yêu cầu đương sự giao nộp tài liệu chứng cứ, tiến hành điều
tra, xác minh nội dung vụ án, tiến hành hòa giải, ra Quyết định xét xử... việc
ADPL của Thẩm phán là thường xuyên và liên tục trong suốt quá trình tố tụng
của vụ án. Thẩm phán cùng các Hội thẩm nhân dân đánh giá hồ sơ cũng như
các tài liệu, lời khai của đương sự tại phiên tòa để ADPL và đưa ra quyết định
cuối cùng là một bản án nhân danh nhà nước. Ngoài ra, Kiểm sát viên đại
diện cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có nhiệm vụ kiểm sát việc tuân
theo pháp luật trong toàn bộ hoạt động tố tụng của vụ án. Việc kiểm sát này là
hình thức ADPL một cách gián tiếp, Kiểm sát viên không trực tiếp tham gia
vào nội dung của vụ án Hôn nhân và gia đình.
1.2. Các giai đoạn áp dụng pháp luật trong giải quyết án hôn nhân và gia
đình tại Tòa án nhân dân cấp huyện

thiết để xác định loại việc, thẩm quyền của Toà án, Thẩm phán nghiên cứu
đơn áp dụng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật Hôn nhân và gia
đình để xác định điều kiện khởi kiện của nguyên đơn. Ví dụ: Khi xét đơn khởi
kiện tranh chấp ly hôn, nếu xét thấy tài liệu nguyên đơn cung cấp thể hiện bị
đơn đã đi khỏi nơi cư trú hơn hai năm mà không xác định được địa chỉ của bị
đơn thì Thẩm phán xét đơn hướng dẫn nguyên đơn phải nộp đơn yêu cầu Toà
án xác định công dân mất tích trước rồi mới giải quyết việc ly hôn.
Khi xác định đương sự có đủ điều kiện thụ lý vụ việc hôn nhân và gia
20


đình, Thẩm phán đề xuất thụ lý vụ án. Sau khi thụ lý vụ án, Thẩm phán phải
phân tích các tình tiết khách quan của vụ án hôn nhân và gia đình, tiến hành
điều tra xác minh, làm rõ nội dung vụ án. Tuy nhiên, có những trường hợp
không nhất thiết phải tiến hành điều tra, mà xuất phát từ nguyên tắc quyền tự
định đoạt và nghĩa vụ chứng minh của các bên đương sự tự xuất trình chứng
cứ, các đương sự tự thoả thuận được các tranh chấp trong quan hệ Hôn nhân
và gia đình, thì vụ án cũng không phải tiến hành tất cả các hoạt động điều tra.
Đây cũng là đặc điểm riêng của vụ án Hôn nhân và gia đình. Ví dụ: khi thụ lý
giải quyết một vụ kiện xin ly hôn, Toà án yêu cầu nguyên đơn và bị đơn cung
cấp các tài liệu, giấy tờ liên quan đến quan hệ hôn nhân, các đương sự tự viết
vào bản tự khai. Trong quá trình giải quyết vụ án các đương sự đều nhất trí ly
hôn, tự thoả thuận được với nhau về người trực tiếp nuôi con, việc cấp dưỡng
nuôi con, thoả thuận về tài sản chung vợ chồng sau ly hôn thì Toà án ra Quyết
định công nhận việc thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự.
Trên cơ sở kết quả điều tra xác minh vụ án chủ thể ADPL, phân tích
những tình tiết khách quan của vụ án hôn nhân và gia đình, làm rõ các đặc
trưng pháp lý của vụ án để tiến hành các bước tiếp theo giải quyết vụ án đó.
Hai là lựa chọn các quy phạm pháp luật về Hôn nhân và gia đình, về
Dân sự, về Tố tụng dân sự tương ứng để giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình.

vụ án Hôn nhân và gia đình.
22


Đây là giai đoạn thể hiện kết quả của hai giai đoạn trên, ở giai đoạn
này Toà án có thẩm quyền ra quyết định hoặc bản án để quy định trách
nhiệm, quyền lợi và nghĩa vụ của các đương sự đang có tranh chấp trong
quan hệ Hôn nhân và gia đình. Văn bản ADPL này thể hiện rất rõ năng lực,
trình độ của Thẩm phán và Hội đồng xét xử khi ADPL. Bởi vì, trong giai
đoạn này các phán quyết cuối cùng mang tính pháp lý, phán quyết này chính
là việc vận dụng các quy định pháp luật về lĩnh vực Hôn nhân và gia đình để
giải quyết án Hôn nhân và gia đình.
Quyết định ADPL phải phù hợp với quy phạm pháp luật đưa ra áp dụng
chứ không thể xuất phát từ ý chí chủ quan hoặc tình cảm cá nhân của người
có thẩm quyền, nội dung quyết định bản án phải rõ ràng, chính xác.
1.3. Nội dung áp dụng pháp luật trong giải quyết án hôn nhân và gia
đình tại Tòa án nhân dân cấp huyện.
Nội dung ADPL trong quá trình giải quyết án hôn nhân và gia đình
được thể hiện trong các nhiệm vụ ở các giai đoạn mà Tòa án nhân dân tiến
hành. Nội dung ADPL trong giải quyết án hôn nhân và gia đình rất đa dạng và
phong phú, nhưng quy về những nội dung cơ bản sau:
1.3.1. Áp dụng pháp luật trong thụ lý, điều tra, thu thập chứng cứ và hòa giải:
* Thụ lý vụ án
Cá nhân, cơ quan, tổ chức do Bộ luật tố tụng dân sự quy định có quyền
khởi kiện về việc Hôn nhân và gia đình, yêu cầu Toà án có thẩm quyền giải
quyết. Bộ luật tố tụng dân sự quy định những loại việc mà Toà án nhân dân
cấp huyện thụ lý giải quyết vụ án khi có đơn khởi kiện thuộc lĩnh vực Hôn
23



- Trả lại đơn cho người khởi kiện, nếu việc đó không thuộc
thẩm quyền giải quyết của Toà án [51, Điều 191].
Việc trả lại đơn khởi kiện được phân ra các trường hợp sau:
+ Người khởi kiện không có quyền khởi kiện hoặc không có năng lực
hành vi tố tụng dân sự;
+ Sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực
pháp luật của Toà án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của cơ quan
Nhà nước có thẩm quyền trừ trường hợp Toà án bác đơn xin ly hôn, bác đơn
xin thay đổi nuôi con hoặc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con…;
+ Chưa có đủ điều kiện khởi kiện;
+ Hết thời hạn quy định mà người khởi kiện không nộp biên lai thu tiền
tạm ứng án phí cho Tòa án;
+ Vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án;
+ Người khởi kiện không sửa đổi bổ sung đơn khởi kiện theo yêu cầu
của Thẩm phán.
Như vậy, khi thụ lý đơn để giải quyết vụ án, Toà án trước khi thụ lý cần
phải xem xét nhiều vấn đề liên quan như các giấy tờ liên quan đến vụ kiện,
thẩm quyền của Toà án theo lãnh thổ, thẩm quyền của Toà án cấp nào được
giải quyết, người khởi kiện có quyền khởi kiện hay không, có đủ năng lực
hành vi dân sự không đồng thời Toà án phải thụ lý theo đúng thời hạn của Bộ
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status