Kinh nghiệm sử dụng hình thức trắc nghiệm khách quan trong dạy học, kiểm tra đánh giá kết quả học tập địa lí trung học phổ thông - Pdf 43

MỤC LỤC
Trang
1.

Mở đầu......................................................................................

1

1.1

Lí do chọn đề tài........................................................................

1

1.2

Mục đích nghiên cứu.................................................................

2

1.3

Đối tượng nghiên cứu................................................................

2

1.4

Phương pháp nghiên cứu...........................................................

2

12

3.

Kết luận, kiến nghị.....................................................................

15

3.1

Kết luận......................................................................................

15

3.2

Kiến nghị...................................................................................

16

Tài liệu tham khảo

18

1


1. MỞ ĐẦU:
1.1. Lí do chọn đề tài.
Môn Địa lý là một trong số những môn học mang lại nhiều hứng thú học

môn Văn) đều thi bằng hình thức thi trắc nghiệm. Việc học tập của học sinh đối
với các môn xã hội đã khó, việc ghi nhớ phạm vi kiến thức rộng, yêu cầu chính
xác hiện nay lại càng khó hơn. Các em không nhớ kiến thức theo mảng rộng,
trình bày theo ý hiểu, “mang máng” nữa mà lại phải cần chính xác, phủ kín kiến
thức. Năm 2017, nội dung chương trình thi ở lớp 12; năm 2018, nội dung chương
trình thi là cả lớp11 và lớp 12; năm 2019 nội dung chương trình thi ở cả 3 lớp.
Một thách thức lớn đặt lên đôi vai của giáo viên.
Trong lộ trình đổi mới giáo dục, cần phải có những định hướng tốt, những
giải pháp thiết thực để phát huy được năng lực và huy động được sự làm việc tối
đa của học sinh, để học sinh vẫn yêu thích môn Địa lý. để học sinh đạt điểm cao
2


nhất trong các bài trắc nghiệm Địa lý... Đây là những điều khiến tôi phải trăn trở,
suy nghĩ và không ngừng làm mới mình trong các giờ lên lớp. Một trong những
phương pháp và kỹ thuật dạy học theo hướng đổi mới mà tôi đã áp dụng và mang
lại hiệu quả tích cực là dạy học phù hợp với tình hình mới, kiểm tra đánh giá kết
quả học tập của học sinh bằng việc sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan.
Bằng những kết quả đã đạt được trong thời gian qua, tôi xin chia sẻ cùng
quý đồng nghiệp kinh nghiệm “Phương pháp sử dụng hình thức trắc nghiệm
khách quan trong dạy học, kiểm tra đánh giá kết quả học tập Địa lý THPT”.
Mong rằng đề tài này sẽ giúp cho quý đồng nghiệp và các em học sinh đạt hiệu
quả tối ưu hơn trong quá trình dạy và học môn Địa lý đồng thời cũng mong góp
một phần nhỏ trong việc nâng cao chất lượng dạy học địa lí trong nhà trường
THPT hiện nay. Rất mong được các thầy cô và đồng nghiệp góp ý để đề tài này
hoàn thiện hơn.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Môn Địa lý là một trong những môn xã hội, từ trước đến nay, hình thức thi
chủ yếu là tự luận. Giáo viên và học sinh đã làm quen và có nhiều kinh nghiệm
trong dạy và học, ôn tập và thi bằng hình thức tự luận. Kể từ năm học 2016 2017, chuyển hoàn toàn sang hình thức trắc nghiệm. Đề án thi THPT quốc gia

trình, nội dung giáo dục – đào tạo đã thay đổi nhiều lần cho phù hợp với yêu cầu
phát triển kinh tế - xã hội và đã đạt được những tiến bộ đáng khích lệ. Tuy nhiên,
những thay đổi về phương pháp dạy - học, kiểm tra đánh giá xếp loại học sinh
còn quá ít, quá chậm. Phương pháp đang được sử dụng phổ biến trong các trường
học chủ yếu là thuyết giảng có tính chất áp đặt của thầy, coi nhẹ hoạt động tích
cực, chủ động của trò.
Mục tiêu giáo dục mà Đảng ta đã đề ra là đào tạo “người lao động tự chủ
năng động, sáng tạo”. Để khắc phục tình trạng này, Nghị quyết TƯ 2, Khóa VIII,
BCH Trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam đã đề ra nhiệm vụ: “ Đổi mới mạnh
mẽ phương pháp giáo dục, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành
nếp tư duy sáng tạo cho người học. Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến
và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo thời gian tự học, tự
nghiên cứu cho học sinh, nhất là sinh viên đại học. Phát triển phong trào tự học,
tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp trong toàn dân nhất là trong thanh niên”
(Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Khóa VIII Đảng
Cộng sản Việt Nam. NXB Chính trị Quốc gia 1997. tr41).
Một xu hướng chung của đổi mới phương pháp dạy học đại học là đổi mới
theo quan điểm dạy học lấy người học làm trung tâm. Quan điểm này có cơ sở lý
luận từ việc nhận thức quá trình dạy học là quá trình có hai chủ thể: Thầy và trò.
Cả hai chủ thể này đều chủ động, tích cực, bằng hoạt động của mình hướng tới tri
thức, thầy thì hoạt động truyền đạt tri thức, còn trò thì hoạt động chiếm lĩnh tri
thức và biến nó thành vốn hiểu biết của mình để tiếp tục hoạt động nhận thức và
hoạt động thực tiễn… Đây là quan điểm dạy học được đa số các nước có nền
giáo dục tiên tiến quan tâm. Phương pháp dạy học chúng ta phải chú ý đến cả
phương pháp dạy của thầy và phương pháp học của trò, phương pháp kiểm tra
đánh giá kết quả học tập của học sinh.
Xuất phát từ sự chỉ đạo của ngành giáo dục đào tạo qua các năm về đổi
mới phương pháp dạy học. Coi trọng kiểm tra kĩ năng vận dụng của học sinh,
tăng cường áp dụng những kỹ thuật dạy học tích cực nhằm định hướng phát triển
năng lực cho học sinh.

thân, gia đình, học sinh không còn say mê đối với môn Địa lý nhiều như trước.
b. Về phía phu huynh học sinh:
Phần lớn phụ huynh chưa có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của
môn học; có tư tưởng xem nhẹ, không khuyến khích con em có những định
hướng đúng đắn phù hợp trong quá trình học tập bộ môn.
Một bộ phận phụ huynh ít quan tâm đến việc học của học sinh, làm cho
các em không có được sự tập trung, thiếu định hướng từ phía gia đình dẫn đến
các em lơ là việc học, kiến thức lỏng lẻo.
c. Đối với bộ môn Địa lý:
Môn địa lý là một môn khoa học tổng hợp: vừa chứa đựng các kiến thức tự
nhiên với nhiều qui luật tự nhiên khác nhau; vừa chứa đựng những kiến thức xã
hội với những số liệu khó nhớ, lại luôn thay đổi. Kiến thức của môn địa lý vừa
mang tính cụ thể, vừa có tính trừu tượng của không gian địa lý... vì thế môn địa
lý làm cho học sinh khó đạt được điểm cao khi thi và kiểm tra.
Nhiều nội dung trong chương trình còn mang tính hàn lâm, chưa thực tiễn
khiến các em khó khăn trong việc tiếp nhận và lĩnh hội kiến thức.
Việc thay đổi hình thức thi từ tự luận sang trắc nghiệm khiến cho môn học
càng trở nên phức tạp, “khó tiêu hóa” hơn, đòi hỏi người học phải có kiến thức
sâu rộng, nắm chắc kiến thức, và đặc biệt phải luôn luôn so sánh, tổng hợp kiến
thức liên quan.
d. Đối với giáo viên và nhà trường.
Mặc dù có nhiều nỗ lực đển trang bị cơ sở vật chất, phương tiện dạy học
5


nhưng nhìn chung vẫn còn thiếu thốn, việc dạy địa lý trong nhà trường hiện nay
chỉ coi trọng dạy kiến thức, mà chưa coi trọng dạy các kỹ năng địa lý; chưa thực
sự phát huy được năng lực của học sinh nên khi học xong các em quên khá nhiều
kiến thức.
So với việc dạy học, kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh bằng

- Kiểm tra bài cũ nhằm giúp học sinh tri thức lại bài cũ, củng cố lại nội
dung kiến thức, kĩ năng từ đó học sinh sẽ dễ dàng tiếp thu kiến thức bài mới, có
so sánh, liên hệ với các mảng kiến thức với nhau tạo thành một chuỗi kiến thức
chặt chẽ. Tuy nhiên thời gian cho công đoạn này chỉ khoảng từ 3 - 7 phút, kiểm
tra từ 2 học sinh trở lên.
b. Yêu cầu:
6


- Tuy là kiểm tra bài cũ nhưng hệ thống câu hỏi TNKQ vẫn phải đảm bảo
theo chuẩn kiến thức kĩ năng. và những mức độ cần đạt (Nhận biết, thông hiểu,
vận dụng thấp, vận dụng cao).
- Đảm bảo đúng nguyên tắc của câu hỏi TNKQ.
- Kiểm tra bài cũ có thể tiến hành trong 5 phút đầu giờ sau khi ổn định lớp.
- Phương tiện hỗ trợ: máy chiếu, hệ thông câu hỏi TNKQ được biên soạn sẵn.
c. Ví dụ:
Trước khi học bài 6: Hệ quả chuyển động xung quanh Mặt trời của Trái
đất (Địa lý lớp 10, chương trình cơ bản) với mục đích kiểm tra bài cũ thuộc bài 5:
Vũ trụ. Hệ Mặt Trời và Trái đất. Hệ quả chuyển động tự quay quanh trục của
Trái đất. Giáo viên đưa ra các câu hỏi sau:
Câu 1: Tập hợp các thiên thể nằm trong Dải ngân hà gọi là (mức độ nhận biết)
A. Thiên hà

B. Vũ trụ

C. Hệ mặt Trời

D. Trái Đất

Câu 2: Khoảng cách trung bình từ Trái Đất đến Mặt Trời là (mức độ nhận biết)


Câu 6: Vào lúc 19 giờ ngày 14/2/2017 tại Hà Nội (Việt Nam) khai mạc
SEAGAME 29, lúc đó là mấy giờ, ngày bao nhiêu tại Sơ Un (120 0Đ)? (mức độ
vận dụng)
A. 18 giờ 14/2/2017
B. 20 giờ 14/2/2017
C. 18 giờ 15/2/2017
D. 20 giờ 15/2/2017
Trong cấu trúc của câu hỏi trắc nghiệm khách quan gồm hai bộ phận cấu
thành: Câu dẫn và các phương án lựa chọn. Khi kiểm tra bài cũ, mỗi học sinh
phải trả lời nhiều câu hỏi với nhiều phương án khác nhau, trong đó chỉ được lựa
chọn một phương án, ba phương án còn lại là các phương án nhiễu, nếu giáo viên
đọc cho học sinh nghe và lựa chọn đáp án sẽ rất khó nhớ. Vì vậy, để quá trình
kiểm tra bài cũ đạt hiệu quả cao nhất bắt buộc giáo viên phải ứng dụng công nghệ
thông tin hỗ trợ cho tiết dạy của mình..
Giáo viên sử dụng công nghệ thông tin để đưa hệ thống câu hỏi TNKQ lên.
Gọi học sinh lựa chọn đáp án, ghi các đáp án lên bảng (Yêu cầu học sinh lý giải
nếu cần). Sau đó gọi học sinh khác nhận xét, giáo viên chốt kiến thức và cho
điểm.
7


d. Hiệu quả:
Với phương pháp kiểm tra bài cũ trong khoảng thời gian ngắn, giáo viên
không thể đưa ra những câu hỏi mang tính chất so sánh hay giải thích hiện tượng
mà chỉ đưa ra những câu hỏi có tính chất tái hiện một phần kiến thức, kiểm tra
lần lượt từng học sinh. Điều này không chỉ tạo cho học sinh thói quen học vẹt,
học thuộc lòng kiến thức một cách máy móc dẫn đến nảy sinh tư tưởng nhàm
chán và tâm lý “sợ kiểm tra bài cũ” ở học sinh, vì thế mà ngay từ đầu, tiết học đã
không thể thực hiện nhiệm vụ tạo hứng thú học tập cho học sinh và không thể

hoạt động học tập của mình, thể hiện sự sáng tạo dưới sự dẫn dắt của giáo viên;
thể hiện vai trò chủ thể của bản thân trên con đường tiếp nhận, lĩnh hội tri thức.
b. Yêu cầu:
- Trong bài học mới, giáo viên có thể biên soạn được nhiều câu hỏi TNKQ
8


khác nhau theo từng mức độ kiến thức (Biết, hiểu, vận dụng thấp, vận dụng cao).
Tuy nhiên vẫn phải bám vào và đạt chuẩn kiến thức kĩ năng.
- Thời gian sử dụng trong phần củng cố và hướng dẫn học tập cũng ít (Chỉ
khoảng 5-7 phút) nên việc đưa ra các câu hỏi củng cố bài cũng phải được chọn
lọc, sao cho bao hàm nội dung của bài học.
- Phần củng cố và hướng dẫn học tập được tiến hành trong khoảng 5 -7
phút cuối giờ sau khi kết thúc bài học mới.
- Phương tiện hỗ trợ: máy chiếu, hệ thông câu hỏi TNKQ được biên soạn
sẵn. GV cũng có thể sử dụng sơ đồ tư duy trong việc củng cố kiến thức giúp học
sinh hệ thống nội dung chính của bài.
- Có thể yêu cầu học sinh dựa vào nội dung kiến thức bài học, và các bài
mẫu của giáo viên hãy thử thiết lập một số câu trắc nghiệm. (Yêu cầu này có thể
áp dụng cho các lớp chuyên, có kĩ năng làm việc tốt với Atlat, biểu đồ, bảng số
liệu và khả năng tư duy logic)
c. Ví dụ:
Sau khi dạy xong bài 17: Lao động và việc làm (Địa lý 12 – chương trình
cơ bản). Giáo viên phát phiếu bài tập cho học sinh hướng dẫn các em về làm bài
tập ở trên lớp. Phiếu bài tập củng cố kiến thức và ôn tập này nếu chưa hoàn thành
học sinh có thể tiếp tục hoàn thiện tại nhà. Giáo viên đưa ra các câu hỏi TNKQ
(Chi tiết trong phần phụ lục).
Ở trên lớp, giáo viên sử dụng một số câu hỏi TNKQ sau:
Câu 1. Đặc tính nào sau đây không đúng hoàn toàn với lao động nước ta? (mức
độ nhận biết)

Câu 6. Dựa vào Atlat Địa lý Việt Nam - trang 15, hãy cho biết tỉ trọng lao động
phân theo khu vực kinh tế của nước ta thấp nhất là ở khu vực (mức độ vận dụng)
A. Công nghiệp, xây dựng.
B. Nông, lâm, ngư.
C. Dịch vụ.
D. Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Câu 7. Cho bảng số liệu sau: Cơ cấu lao động phân theo thành thị, nông thôn
năm 1996 và năm 2005 (Đơn vị %) (Mức độ vận dụng)
Năm
Tổng
Nông thôn
Thành thị
1996
100
79.9
20.1
2005
100
75.0
25.0
Biểu đồ nào thích hợp thể hiện cơ cấu lao động phân theo thành thị, nông thôn
năm 1996 và năm 2005?
A. Tròn

B. Miền

C. Đường

D. Cột ghép



bài tập củng cố, giáo viên yêu cầu học sinh tiếp tục hoàn thiện ở nhà trên cơ sở
kiến thức trên lớp. Trong khâu củng cố này, theo tôi nên kết hợp cả việc sử dụng
sơ đồ tư duy và câu hỏi TNKQ.
2.3.3. Sử dụng câu hỏi TNKQ trong ôn tập kiểm tra.
a. Mục đích:
Để đánh giá kết quả Dạy và Học trong hoạt động của người giáo viên và
học sinh không thể thiếu được các bài kiểm tra thường xuyên và kiểm tra định kì.
Khả năng ghi nhớ của học sinh càng dễ dàng bao nhiêu thì sự “Quên” lại càng
diễn ra nhanh bấy nhiêu. Chính vì vậy, để nâng cao chất lượng của các bài kiểm
tra thì cần phải tiến hành ôn tập.
b. Yêu cầu:
- Sau mỗi tiết học, giáo viên đều có phần củng cố và hướng dẫn học sinh
học tập ở nhà, hầu như các câu hỏi trong nội dung bài học đều được giáo viên
biên soạn và yêu cầu học sinh hoàn thiện ở nhà. Vì vậy trong nội dung ôn tập,
giáo viên cần ôn tập lai toàn bộ phần lý thuyết trọng tâm, nêu chủ đề và yêu cầu
học sinh trình bày. Sau đó đưa ra các câu hỏi TNKQ đã biên soạn sẵn.
- Ngoài các câu TNKQ đã cho học sinh làm trong phần củng cố và ôn tập ở
nhà, giáo viên cần đưa nhiều câu TNKQ có liên quan đến các bài khác, tìm ra
mối liên hệ giữa các đối tượng địa lý, các mảng kiến thức liên quan đến nhiều bài
học mà trong phần củng cố,kiểm tra bài cũ chưa thể tiến hành.
- Nếu ôn tập trên lớp: Trước tiên giáo viên ôn lại hệ thống kiến thức theo
từng chủ đề. Yêu cầu học sinh nhắc lại phần kiến thức trọng tâm trong các chủ
đề, học sinh khác nhận xét và giáo viên đánh giá, bổ sung. Sau đó giáo viên sử
dụng máy chiếu đưa lên 4 - 5 câu hỏi/1 lần chiếu, yêu cầu học sinh làm việc.
- Nếu ôn tập ở nhà: Vì lượng kiến thức trong phần ôn tập rất nhiều, không
chỉ có một bài, một chủ đề mà bao gồm nhiều bài, nhiều chủ đề khác nhau nhưng
theo phân phối chương trình ôn tập ở trên lớp tiến hành trong 1 tiết, do đó cần
phải ôn tập thêm ở nhà. Giáo viên cung cấp thêm một số câu hỏi TNKQ mới kết
hợp với tài liệu sau mỗi bài giáo viên đã giao cho học sinh.

Câu 3. Tính chất nhiệt đới của nước ta được quyết đinh bởi (mức độ thông hiểu)
A. nằm trong vùng nội chí tuyến.
B. ảnh hưởng của biển Đông.
C. hoạt động của hoàn lưu gió mùa.

D. sự phân hóa của địa hình.

Câu 4 Năm 2015 dân số nước ta là 91.713,3 nghìn người, diện tích của nước ta là
331212 km2. Mật độ dân số nước ta là (mức độ vận dụng)
A. 277 người/km2
C. 288 người/km2.

B. 267 người/km2
D. 299 người/km2.

Câu 5. Dựa vào Atlat Đại lý Việt Nam - trang 25, đi dọc bờ biển từ bắc vào nam sẽ
gặp những bãi biển (mức độ vận dụng)
A. Sầm Sơn, Mỹ Khê, Nha Trang, Vũng Tàu B. Nha Trang, Sầm Sơn, Vũng Tàu, Mỹ Khê.
C. Mỹ Khê, Nha Trang, Sầm Sơn, Vũng Tàu. D. Sầm Sơn, Nha Trang, Mỹ Khê, Vũng Tàu.
d. Hiệu quả:
Việc giao nhiệm vụ ôn tập ở nhà qua sử dụng hình thức TNKQ sẽ khắc
phục được những hạn chế của phương pháp dạy học cũ như: tính ỷ lại, tư tưởng
chán học, tư tưởng học đối phó.... và còn làm cho học sinh chủ động hơn trong
quá trình học tập và lĩnh hội tri thức. Từ đó rèn luyện cho mình phương pháp tự
học, tự nghiên cứu có hiệu quả. Trong quá trình ôn tấp học sinh sử dụng Atlat để
trả lời, để khai thác kiến thức có liên quan đến câu hỏi. Để làm được điều này,
giáo viên cần phải xây dựng được hệ thống câu hỏi khách quan ở nhiều mức độ
khác nhau.
2.3.4. Sử dụng câu hỏi TNKQ trong kiểm tra.
a. Mục đích:

phương pháp mới (trắc nghiệm khách quan), ta thấy:
STT Nội dung so sánh
Tự luận
Trắc nghiệm khách
quan
1
Độ tin cậy
Thấp hơn
Cao hơn
2
Độ giá trị
Thấp hơn
Cao hơn
3
Đo năng lực nhận thức
Như nhau
4
Đo năng lực tư duy
Như nhau
5
Đo kỹ năng, kỹ sảo
Như nhau
6
Đo phẩm chất
Tốt hơn
Yếu hơn
7
Đo năng lực sáng tạo
Tốt hơn
Yếu hơn

- Khi áp dụng hình thức dạy học, kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học
sinh bằng hình thức trắc nghiệm khách quan chỉ mất thời gian biên soạn khoảng 2
đề gốc cho mỗi khối, ban đầu mất khá nhiều thời gian nhưng sau đó trộn nhiều
mã đề, kiến thức phủ kín toàn bộ chương trình. Đảm bảo được tính chính xác và
khách quan, thời gian làm việc nhanh hơn, chấm bài cũng nhẹ nhàng hơn nhiều.
- Ban đầu, bản thân tự biên soạn hệ thống câu hỏi, và áp dụng phương
pháp dạy học mới, do chưa có nhiều kinh nghiệm nên không tránh khỏi những
lúng túng, hiệu quả sử dụng chưa cao, chưa thoát ra khỏi cái “vỏ bọc” của
phương pháp truyền thống. Hiện nay với những kinh nghiệm được góp nhặt
thông qua việc tìm hiểu bằng nhiều nguồn tài liệu, nhất là tài liệu trong các lần
tập huấn chuyên đề tôi đã thuần thục hơn, có nguồn tài nguyên dạy học phong
phú và khả năng sử dụng linh hoạt nhiều phương pháp dạy học tích cực.
- Tôi và đồng nghiệp không những sử dụng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm
khách quan trong kiểm tra học kì, kiểm tra 1 tiết mà còn dùng trong kiểm tra 15
phút, kiểm tra miệng, củng cố bài học và nhất là trong quá trình ôn tập đạt hiệu
quả rất cao. Nói tóm lại, trong tất cả các khâu của quá trình giảng dạy, kiểm tra
đánh giá kết quả học tập của học sinh đều có thể sử dụng hình thức trắc ngiệm
khách quan.
- Để đạt hiệu quả cao nhất trong dạy học việc ứng dụng công nghệ thông tin
hỗ trợ quá trình ôn tập, kiểm tra đánh giá kết quả học tập. Bằng hình ảnh, bằng
Atlat, bằng biểu đồ và bảng số liệu. Vừa không mất nhiều thời gian, giáo viên
không phải diễn thuyết, mô tả nhiều. Tất cả đều được minh họa bằng hình ảnh trực
quan, sinh động.
c. Đối với học sinh:
- Trước đây, ôn tập, kiểm tra tự luận yêu cầu học sinh nhớ máy móc các
luận cứ, luận điểm. Để tránh việc thiếu ý khi trình bày các em học sinh làm quen
với các sơ đồ tư duy, sơ đồ ô vuông. Tuy kiểm tra chỉ ra số lượng câu ít, kiến
thức tập trung trong một số vấn đề nhưng khi ôn tập lại phải ôn tập hết, học thuộc
lòng, đầy đủ các ý lớn, ý nhỏ. Việc học tập môn Địa lý nói riêng, các môn xã hội
nói chung là rất vất vả.


Đối chứng (10E)

Sĩ số

39

39

Trong đó loại:

Số lượng

%

Số lượng

%

Giỏi

15

38,46

3

8,82

Khá

Sĩ số
Trong đó loại:
Giỏi
Khá
Trung bình

Thực nghiệm (12H)
42
Số lượng
%
24
57,14
16
38,09
2
4,77
15

Đối chứng (12Đ)
36
Số lượng
%
3
8,33
28
77,78
5
13,89



các môn xã hội như môn Địa lý không trở thành gánh nặng đối với các em, nhờ
đó mà các năng lực của học sinh cũng như điểm học tập được cải thiện.
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận
Qua việc thực hiện khảo sát tại lớp thực nghiệm và lớp đối chứng, dựa trên
kết quả học tập của hai lớp này tôi thấy: Việc sử dụng phương pháp dạy học,
kiểm tra đánh giá kết quả học tập bằng hình thức trắc nghiệm khách quan đã tạo
ra không khí lớp học sôi nổi; tạo ra sự hứng thú học tập cho các em học sinh. Mặt
khác, cũng khuyến khích học sinh tích cực, chủ động tham gia học tập một cách
độc lập. Vì thế mà những kiến thức các em thu lượm được qua các giờ học sẽ
được các em nhận thức một cách đầy đủ hơn, sâu sắc và toàn diện hơn. Điều mà
phương pháp dạy học cũ không có được.
Những kết quả trên cho thấy việc áp dụng hình thức trắc nghiệm khách
quan trong dạy học, kiểm tra đánh giá mang lại nhiều hiệu quả thiết thực đối với
cả đội ngũ giáo viên và học sinh, nhất là trong bối cảnh mới thi THPT quốc gia
bằng hình thức trắc nghiệm hoàn toàn.
Tuy nhiên, thành quả của người thầy được thể hiện rõ nhất ở kết quả kiểm
tra đánh giá, thi cử của người học. Để trò đạt kết quả cao thì người thầy phải là
người đi đầu, khai phá, mở đường, tìm ra quy luật, kĩ thuật để hướng dẫn học
sinh học tập hiệu quả. Quá trình ấy là một quá trình luôn luôn đổi mới, luôn luôn
sáng tạo và không ngừng học hỏi từ bạn bè, đồng nghiệp để hoàn thiện hơn
phương pháp truyền thụ của mình.
3.2. Kiến nghị
Để sử dụng hình thức TNKQ trong dạy học và kiểm tra đánh giá kết quả
học tập địa lý của học sinh THPT mang lại nhiều hiệu quả thiết thực, phục vụ cho
tiến trình đổi mới giáo dục, tôi có một vài đề xuất như sau:
Thứ nhất, phải truyền đạt cho học sinh nhũng kiến thức cơ bản nhất để tạo
cơ sở hình thành tư duy cho học sinh. Không thể áp dụng ngay hình thức trắc
nghiệm trong khi học sinh chưa tìm và hiểu kĩ về nội dung bài học.
Thứ hai, làm việc, biên soạn đề dù là kiểm tra thường xuyên, định kì trong

XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG
ĐƠN VỊ

Thanh Hóa, ngày 19 tháng 5 năm 2017
CAM KẾT KHÔNG SAO CHÉP.
Người viết sáng kiến

Lê Thị Đạm

18


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên giáo viên THPT chu kì 3 (2004 - 2007) - Bộ
GD-ĐT - Hà Nội, năm 2005
2. Lý luận dạy học Địa lí, Nguyễn Dược - Nguyễn Trọng Phúc, NXB Đại học Sư
Phạm. Hà Nội, năm 2004.
3. Phương tiện dạy học. Tô Xuân Giáp. NXB Đại học và Giáo dục chuyên
nghiệp, năm 1992.
4. Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục. Lê Công Triêm - Nguyễn Đức
Vũ. NXB Đại học Sư phạm, năm 2004.
5. Sử dụng bản đồ và phương tiện kĩ thuật trong dạy học Địa lý. Nguyễn Trọng
Phúc. NXB ĐH Quốc gia, năm 1997.
6. Sách giáo khoa Địa lí 12 - Cơ bản. Lê Thông (Chủ biên). NXB giáo dục,
năm 2006.
7. Phương tiện dạy học Địa lí ở trường THPT. Nguyễn Đức Vũ. NXB giáo dục,
năm 2006
8. Kĩ thuật dạy học Địa lí ở trường phổ thông. Nguyễn Đức Vũ. NXB giáo dục,
năm 2007.
9. Atlat Địa lý Việt Nam. PGS.TS Ngô Đạt Tam - TS Nguyễn Quý Thảo (đồng

A. tỉ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm ở đồng bằng rất lớn.
B. gây cản trở cho việc bố trí, sắp xếp, giải quyết việc làm.
C. tạo thuận lợi cho việc phát triển các ngành có kĩ thuật cao.
D. giảm bớt tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm ở miền núi.
Câu 6. Vùng có tỉ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm lớn nhất là:
A. Trung du và miền núi Bắc Bộ.

B. Đồng bằng sông Hồng.

C. Tây Nguyên.

D. Đồng bằng sông Cửu Long.

Câu 7. Khu vực chiếm tỉ trọng rất nhỏ nhưng lại tăng rất nhanh trong cơ cấu sử
dụng lao động của nước ta là
A. ngư nghiệp.

B. xây dựng.
20


C. quốc doanh.

D. có vốn đầu tư nước ngoài.

Câu 8. Khu vực có tỉ trọng giảm liên tục trong cơ cấu sử dụng lao động của nước ta

A. nông, lâm nghiệp

B. thuỷ sản.

A. năng suất lao động thấp, quỹ thời gian lao động chưa sử dụng hết.
B. còn lãng phí trong sản xuất và tiêu dùng.
C. cơ chế quản lí còn bất cập.
D. tác động của cơ chế thị trường.
Câu 13. Hướng giải quyết việc làm hữu hiệu nhất hiện nay là
A. phân bố lại dân cư, lao động giữa các vùng lãnh thổ.
B. khôi phục lại các ngành nghề thủ công truyền thống.
C. đa dạng hóa các loại hình đào tạo, giới thiệu việc làm
D. hướng lao động đi xuất khẩu.
Câu 14. Trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa, lực lượng lao động trong
các khu vực kinh tế ở nước ta chuyển dịch theo hướng
A. tăng dần tỉ trọng lao động trong khu vực sản xuất công nghiệp, xây dựng.
B. giảm dần tỉ trọng lao động trong khu vực dịch vụ.
C. tăng dần tỉ trọng lao động trong khu vực nông, lâm, ngư.
D. tăng dần tỉ trọng lao động trong khu vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ.
Câu 15. Để sử dụng có hiệu quả lực lượng lao động trẻ ở nước ta, thì phương hướng
21


trước tiên là
A. lập các cơ sở, các trung tâm giới thiệu việc làm.
B. mở rộng và đa dạng hóa các ngành nghề thủ công truyền thống.
C. có kế hoạch giáo dục và đào tạo hợp lí ngay từ bậc phổ thông.
D. đa dạng hóa các loại hình đào tạo.
Câu 16. Phương hướng giải quyết việc làm đối với khu vực thành thị là
A. xây dựng nhiều nhà máy lớn với quy trình công nghệ tiên tiến, cần nhiều lao động.
B. xây dựng nhiều nhà máy với quy mô nhỏ, cần nhiều lao động phổ thông.
C. xây dựng các cơ sở công nghiệp, dịch vụ quy mô nhỏ, kĩ thuật tiên tiến, cần
nhiều lao động.
D. xuất khẩu lao động.

Thành thị

1996

100

79.9

20.1

2005

100

75.0

25.0

Biểu đồ nào thích hợp thể hiện cơ cấu lao động phân theo thành thị, nông thôn năm
1996 và năm 2005?
A. Tròn

B. Miền

C. Đường
22

D. Cột ghép




Nhận định nào không đúng về cơ cấu lao động phân theo thành thị, nông thôn năm
1996 và năm 2005?
A. Tỉ lệ lao động thành thị có xu hướng tăng.
B. Tỉ lệ lao động nông thôn có xu hướng giảm.
C. Lao động nông thôn chiếm tỉ lệ cao hơn lao động thành thị
D. Thành thị luôn tập trung nhiều lao động hơn
PHỤ LỤC 2:
Ví dụ minh họa câu hỏi TNKQ trong phần 2.3.3. Sử dụng câu hỏi TNKQ trong
ôn tập kiểm tra 1 tiết (Trang 11)
Câu 1. Đường biên giới trên đất liền chung với các nước
A. Thái Lan, Lào, Campuchia
B. Lào, Campuchia, Trung Quốc.

C. Lào, Trung Quốc, Thái Lan.
D. Thái Lan, Campuchia, Trung Quốc.

Câu 2. Địa hình cao nhất nước ta thường được phân bố ở khu vực
A. Đông Bắc
C. Tây Bắc.

B. Trường Sơn Bắc.
D. Tây Nguyên

Câu 3 Năm 2015 dân số nước ta là 91.713,3 nghìn người, diện tích của nước ta là
331212 km2. Mật độ dân số nước ta là
A. 277 người/km2
C. 288 người/km2.

B. 267 người/km2

B. nằm trên vành đai sinh khoáng TBD.
C. nằm trên đường hàng hải, đường bộ, đường hàng không quốc tế.
D. khu vực đang diễn ra những hoạt động kinh tế sôi động nhất trên thế giới.
Câu 8: Sự phân hóa khí hậu theo mùa giúp cho
A. ngành công nghiệp chế biến nông sản có nguyên liệu dồi dào, quanh năm.
B. ngành xây dựng và công nghiệp khai khoáng làm việc thuận lợi.
C. nguồn nông sản đa dạng, phong phú thuận lợi cho các ngành công nghiệp chế biến.
D. nông nghiệp chế biến kim loại phát triển thuận lợi.
Câu 9. Đồng bằng Duyên hải miền Trung bị chia cắt thành những đồng bằng nhỏ
nguyên nhân do
A. chịu ảnh hưởng của thiên nhiên nhiệt đới gió mùa.
B. sự chia cắt của những sông lớn.
C. do tác động của con người.
D. địa hình hẹp ngang, nhiều dãy núi chạy ăn lan ra sát biển.
Câu 10. Sử dụng Atlat Địa lý Việt Nam - trang 7, hãy cho biết ngọn núi Khoan La
San cao 1853 m thuộc tỉnh
A. Lai Châu.

B. Điện Biên.

C. Kom Tum.

D. Lào Cai.

Câu 11. Dựa vào Atlat Đại lý Việt Nam - trang 25, đi dọc bờ biển từ bắc vào nam sẽ
gặp những bãi biển
A. Sầm Sơn, Mỹ Khê, Nha Trang, Vũng Tàu.
B. Nha Trang, Sầm Sơn, Vũng Tàu, Mỹ Khê.
24


B. Căn cứ tiến ra biển và đại dương.
C. Khai thác hiệu quả nguồn lợi vùng biển.
D. Khẳng định chủ quyền vùng biển xung quanh.
PHỤ LỤC 3:
MA TRẬN THI TỔNG HỢP 40 CÂU - THỜI GIAN LÀM BÀI 50 PHÚT.
( Dành cho ôn tập, thi thử, thi khảo sát, thi chính thức kì thi THPT quốc gia)
Chủ đề

I. Địa lí tự nhiên

Tổng
câu

Mức độ nhận thức
Nhận
biết

Thông
hiểu

VD
thấp

VD
cao

7

3


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status