BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
___________________
LẠI THỊ PHƯƠNG NGA
NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC NẮM GIỮ
TIỀN MẶT CỦA DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Tp. Hồ Chí Minh – Năm 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
___________________
LẠI THỊ PHƯƠNG NGA
NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC NẮM GIỮ
TIỀN MẶT CỦA DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
MÃ SỐ: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN THỊ UYÊN UYÊN
DOANH NGHIỆP ...................................................................................................7
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ..................................................22
3.1. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.....................................................................22
3.2. MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CÁC BIẾN SỐ................................................22
3.3. DỮ LIỆU NGHIÊN CÚU.................................................................................34
3.3.1. Nguồn dữ liệu.......................................................................................................... 34
3.3.2 Xử lý dữ liệu............................................................................................................. 34
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .............................................................35
4.1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT
NAM THÔNG QUA CÁC BIẾN TRONG MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ...................35
4.1.1. Tỷ lệ tiền và các khoản tương đương tiền trên tài sản............................................... 35
4.1.2. Chỉ số giá thị trường trên giá ghi sổ của tài sản doanh nghiệp .................................. 37
4.1.3. Dòng tiền của doanh nghiệp..................................................................................... 38
4.1.4. Vốn luân chuyển ròng của doanh nghiệp.................................................................. 39
4.1.5. Đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp......................................................................... 40
4.1.6. Quy mô của doanh nghiệp........................................................................................ 41
4.1.7. Việc chi trả cổ tức của doanh nghiệp........................................................................ 41
4.1.8. Quy mô hội đồng quản trị của doanh nghiệp ............................................................ 42
4.1.9. Vai trò kép của CEO trong doanh nghiệp ................................................................. 43
4.2. NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC NẮM GIỮ TIỀN MẶT CỦA
DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2009 – 2013 ..............................45
4.2.1. Kết quả thống kê mô tả ............................................................................................ 45
4.2.2. Hệ số tương quan giữa các biến ............................................................................... 46
4.2.3. Ước lượng mô hình nghiên cứu................................................................................ 47
4.2.3. Kết quả hồi quy ....................................................................................................... 52
4.2.4. Các kiểm định cho mô hình ..................................................................................... 55
Pooled OLS
Mô hình hồi quy kết hợp tất cả các quan sát
REM
Random Effects Model – Mô hình tác động ngẫu nhiên
VIF
Variance Inflate Factor – Nhân tử phóng đại phương sai
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Tóm tắt các nghiên cứu trên thế giới về những yếu tố ảnh hưởng đến việc
nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp ....................................................................... 19
Bảng 3.1 Mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu ............................................... 32
Bảng 4.1: Bảng số lượng thành viên hội đồng quản trị các công ty giai đoạn 2009 –
2013 ...................................................................................................................... 43
Bảng 4.2: So sánh số lượng các công ty có CEO cũng là chủ tịch hội đồng quản trị
và số lượng các công ty có CEO khác chủ tịch hội đồng quản trị ở các công ty tại
Việt Nam............................................................................................................... 44
Bảng 4.3: Kết quả thống kê mô tả.......................................................................... 45
Bảng 4.4: Hệ số tương quan giữa các biến ............................................................. 46
Bảng 4.5: Kết quả ước lượng mô hình nghiên cứu theo Pooled OLS ..................... 47
Bảng 4.6: Kết quả ước lượng mô hình nghiên cứu theo Fixed Effects.................... 49
Bảng 4.7: Kết quả ước lượng mô hình nghiên cứu theo Random Effects ............... 50
Bảng 4.8: Kiểm định Hausman .............................................................................. 51
NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC NẮM GIỮ
TIỀN MẶT CỦA DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM
TÓM TẮT
Trong đề tài này, mô hình dữ liệu bảng tĩnh bao gồm mô hình hồi quy kết hợp tất cả
các quan sát (Pooled OLS), mô hình tác động cố định (Fixed Effects) và mô hình
tác động ngẫu nhiên (Random Effects) được sử dụng để nghiên cứu những yếu tố
tác động đến việc nắm giữ tiền mặt của các doanh nghiệp Việt Nam. Tác giả sử
dụng các biến về tài chính như chỉ số giá thị trường trên giá sổ sách tài sản của
doanh nghiệp, dòng tiền, vốn luân chuyển ròng, đòn bẩy tài chính, quy mô doanh
nghiệp, việc chi trả cổ tức bằng tiền mặt và các biến về quản trị công ty như số
lượng thành viên trong hội đồng quản trị, vai trò kép của CEO để tìm hiểu tác động
của những yếu tố này lên việc nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp. Kết quả nghiên
cứu cho thấy, hầu hết các biến đều có ý nghĩa trong mô hình nghiên cứu. Dòng tiền
và đòn bẩy tài chính có sự biến động cùng chiều với tỷ lệ nắm giữ tiền mặt trong
khi chỉ số giá thị trường trên giá ghi sổ tài sản, vốn luân chuyển ròng quy mô doanh
nghiệp, việc chi trả cổ tức bằng tiền mặt có sự biến động ngược lại với tỷ lệ nắm giữ
tiền mặt của doanh nghiệp. Ngoài ra, các biến số về quản trị công ty như quy mô
hội đồng quản trị và vai trò kép của CEO không có ý nghĩa nghiên cứu ở thị trường
Việt Nam. Nghiên cứu góp phần củng cố lý thuyết về các yếu tố tác động đến việc
nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu có giá trị đối với các nhà
quản lý tài chính, nhà đầu tư và nhà tư vấn quản trị tài chính
Từ khóa: nắm giữ tiền mặt, chỉ số giá thị trường trên giá ghi sổ, dòng tiền, vốn luân
chuyển ròng, quy mô công ty, quy mô hội đồng quản trị, vai trò kép của CEO.
2
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
1.1
3
nghiệp tại Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn Thạc sĩ của mình.
1.2
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là phân tích các yếu tố tác động đến việc nắm giữ
tiền mặt của các doanh nghiệp tại Việt Nam. Từ đó, đề tài tập trung vào các vấn đề
chính như sau:
Thứ nhất, tác giả cung cấp các bằng chứng thực nghiệm trên thế giới về những yếu
tố tác động đến việc nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp.
Thứ hai, tác giả áp dụng mô hình nghiên cứu trên thế giới vào thực tiễn Việt Nam.
Tác giả tiến hành các kiểm định và phân tích hồi quy để tìm hiểu các yếu tố tác
động đến việc nắm giữ tiền mặt của các doanh nghiệp tại Việt Nam trong giai đoạn
nghiên cứu.
Thứ ba, từ các kết quả thu được từ bài nghiên cứu, tác giả sẽ đưa ra kết luận về
nhứng yếu tố tác động đến việc nắm giữ tiền mặt của các doanh nghiệp Việt Nam,
đồng thời chỉ ra những hạn chế của bài nghiên cứu và hướng mở rộng đề tài.
1.3
PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu được tiến hành trên mẫu 189 công ty phi tài chính niêm yết trên Sở
Giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) và Sở Giao dịch chứng khoán Tp. Hồ Chí
Minh (HOSE) trong khoảng thời gian 5 năm, từ 2009 – 2013. Trong 189 công ty
1.5
Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài sử dụng phương pháp định lượng để đánh giá những yếu tố tác động đến việc
nắm giữ tiền mặt ở các công ty Việt Nam. Trong nghiên cứu này, tác giả đã vận
dụng mô hình nghiên cứu trên thế giới nhằm tìm ra những nhân tố có tác động đến
việc nắm giữ tiền mặt tại các công ty Việt Nam.
Từ đó, đề tài có những đóng góp sau:
- Tóm lược các nghiên cứu trước đây trên thế giới về vấn đề quản trị tiền mặt trong
doanh nghiệp nói chung và những yếu tố tác động đến việc nắm giữ tiền mặt nói
5
riêng. Đề tài này đã được các nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm trong nhiều
năm qua và được nghiên cứu ở nhiều quốc gia. Các kết quả nghiên cứu thu được
cũng rất khác nhau: trong khi một số nghiên cứu cho cùng kết quả, một số nghiên
cứu khác lại cho kết quả trái ngược. Bằng việc tóm lược nội dung các nghiên cứu
nói trên, đề tài có những đóng góp nhất định trong việc hệ thống hoá các nghiên cứu
trong lĩnh vực này.
- Cung cấp cho các doanh nghiệp, các nhà quản trị tài chính bằng chứng thực
nghiệm về những yếu tố tác động đến việc nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp Việt
Nam, tạo cơ sở khoa học để các doanh nghiệp nghiên cứu, áp dụng vào thực tế hoạt
động doanh nghiệp mình.
- Cung cấp cơ sở khoa học cho các nhà đầu tư nghiên cứu, xem xét trong quá trình
đánh giá doanh nghiệp để đưa ra các quyết định đầu tư sáng suốt nhất, giúp các nhà
đầu tư tự tin hơn với sự lựa chọn của mình, đồng thời có những điều chỉnh thích
hợp khi cần thiết.
7
CHƯƠNG 2: CÁC BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TRÊN THẾ GIỚI
VỀ NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC NẮM GIỮ TIỀN MẶT
CỦA DOANH NGHIỆP
Đề tài nắm giữ tiền mặt đã được các nhà nghiên cứu trên thế giới thực hiện trong
nhiều năm qua và các nghiên cứu thực nghiệm về các yếu tố quyết định nắm giữ
tiền mặt của công ty đã chiếm vị trí trung tâm trong các tài liệu quản trị tiền mặt nói
riêng và tài chính doanh nghiệp nói chung. Trong chương này, các kết quả nghiên
cứu của nhiều tác giả sẽ được trình bày lại để người đọc có một cách nhìn bao quát
về vấn đề nắm giữ tiền mặt và những yếu tố tác động đến việc nắm giữ tiền mặt của
doanh nghiệp.
Về vấn đề lợi ích và bất lợi của việc nắm giữ tiền mặt, Joseph (1974) cho rằng trong
thị trường cạnh tranh hoàn hảo, các quyết định tài chính không tác động đến giá trị
công ty. Theo đó, việc nắm giữ tài sản có tính thanh khoản và các quyết định đầu tư
vào tài sản ngắn hạn không ảnh hưởng đến giá trị tài sản của các cổ đông. Sau đó
một năm, Opler, Pinkowitz, Stulz và Williamson (1975) cũng đưa ra kết luận tương
tự khi nghiên cứu các yếu tố tác động đến giá trị doanh nghiệp. Tuy nhiên, trên thực
tế, sự tồn tại thị trường cạnh tranh không hoàn hảo ngụ ý rằng, các quyết định đầu
tư có ảnh hưởng đến giá trị của công ty, nghĩa là có một mức tiền mặt được nắm giữ
tối ưu mà tại đó có sự cân bằng giữa chi phí và lợi ích của việc nắm giữ tiền, để từ
đó có thể tối đa hóa giá trị của công ty. Xét về lợi ích, các công ty cần tiền mặt để
duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh một cách bình thường và có thể tận dụng các
cơ hội đầu tư sinh lợi trong tương lai cũng như để đáp ứng các biến cố không lường
trước được. Hơn nữa, việc nắm giữ tiền mặt cũng là cách nhằm làm giảm sự phụ
thuộc của công ty vào nguồn tài trợ bên ngoài nhiều tốn kém do sự hiện diện của
thông tin bất cân xứng giữa chủ nợ và người đi vay. Thực tế cho thấy, việc huy
động nguồn tài trợ bên ngoài thông qua thị trường vốn sẽ khó khăn và tốn kém hơn
đối với các công ty, đặc biệt là đối với những công ty có ít mối quan hệ với ngân
công ty bỏ qua việc đầu tư vào các dự án có NPV dương. Vì vậy, các nhà quản lý
của công ty nắm giữ những tài sản có tính thanh khoản cao là nhằm để giảm chi phí
phụ thuộc vào nguồn tài trợ bên ngoài.
9
Nói như thế không có nghĩa là khi công ty có càng nhiều tiền mặt thì luôn tốt. Việc
đầu tư vào các tài sản có tính thanh khoản cao cũng có những bất lợi vì phát sinh
nhiều chi phí. Một mức tiền mặt cao thể hiện trong bảng cân đối kế toán có thể
khiến cho nhà đầu tư đặt ra nhiều câu hỏi, nhất là khi lượng tiền mặt đột nhiên cao
hơn mức bình thường. Tại sao các nhà quản trị lại để tiền mặt ở đó mà không đem
đi đầu tư? Nhà đầu tư có quyền nghi ngờ vì doanh nghiệp đã bị mất các cơ hội đầu
tư hoặc là ban quản trị doanh nghiệp quá yếu kém nên đã không biết làm gì với
lượng tiền mặt đó. Việc để tiền mặt trong doanh nghiệp quá nhiều có thể làm cho
doanh nghiệp mất chi phí cơ hội, nếu công ty bỏ qua những dự án đầu tư đem lại
nhiều lợi nhuận. Chi phí cơ hội của tiền mặt trong trường hợp này được hiểu là sự
khác biệt giữa lãi suất có được khi nắm giữ tiền mặt, tiền gửi không kỳ hạn ở ngân
hàng và cái giá phải trả để có được tiền mặt chính là chi phí sử dụng vốn bình quân
của doanh nghiệp - WACC. Mặt khác, dự trữ tiền mặt nhiều có thể làm gia tăng
mâu thuẫn giữa nhà quản trị và cổ đông hay nói cách khác, chi phí đại diện rất dễ
xảy ra trong tình huống này. Theo đó, nhà quản trị doanh nghiệp có thể gia tăng
dòng tiền tự do một cách tùy ý, điều này sẽ gây ra mâu thuẫn với lợi ích của cổ
đông (Jensen, 1986). Khi các nhà quản trị muốn gia tăng mức tiền mặt nắm giữ
trong doanh nghiệp, các nhà quản trị luôn đưa ra những lời giải thích dường như rất
hợp lý: tiền mặt nhiều có thể giúp doanh nghiệp có tính linh hoạt về mặt tài chính
hơn; thực hiện các phi vụ thâu tóm một cách nhanh chóng hơn. Thế nhưng, với các
doanh nghiệp có lượng tiền mặt nhiều hơn mức cần thiết mà các lý thuyết đề nghị
thì sẽ nảy sinh các vấn đề đại diện. Các nhà quản trị có thể thực hiện những vụ thâu
tóm lãng phí và đầu tư vào các dự án kém hiệu quả nhằm phục vụ cho các lợi ích cá
áp lực cho các công ty để hạn chế số dư tiền mặt nhằm giảm thiểu chi phí đại diện,
trong khi cũng khuyến khích các nhà quản lý nên duy trì một lượng tiền mặt đủ để
tài trợ cho các nhu cầu vốn xảy ra bất ngờ.
Bate và cộng sự (2008) đã thực hiện nghiên cứu tại Mỹ về vấn đề vì sao các công ty
tại Mỹ lại nắm giữ tiền mặt quá nhiều so với lượng tiền mặt họ sử dụng. Bằng cách
đưa ra khá nhiều bằng chứng thực tế, bài nghiên cứu của ông mang tính thuyết phục
rất cao. Ông cho rằng, tùy thuộc vào từng tình huống, tùy vào tình hình kinh doanh,
ngành nghề cũng như vị thế tài chính hiện tại của doanh nghiệp, tuỳ theo điều kiện
11
và đặc điểm của từng doanh nghiệp mà các doanh nghiệp có thể đưa ra các quyết
định nắm giữ tiền mặt khác nhau. Khi xác định lượng tiền mặt doanh nghiệp thật sự
cần nắm giữ, nhà quản trị có thể xem xét đến nhiều yếu tố khác nhau, như yếu tố
dòng tiền tương lai, chu kỳ kinh doanh, các kế hoạch chi tiêu vốn, các nghĩa vụ phải
trả khẩn cấp và các nhu cầu cần tiền mặt để chi trả khác. Ông cũng cho rằng, mức
độ quan trọng của các yếu tố này là khác nhau đối với từng doanh nghiệp, từng giai
đoạn khác nhau trong chu kỳ của nền kinh tế. Nếu công ty đang mắc nợ nhiều thì
công ty nên trữ tiền để trả lãi hoặc đề phòng trường hợp phải thanh toán bất thường.
Còn nếu doanh nghiệp đang trong tình trạng dư giả thì nên đầu tư tiền mặt vào các
hoạt động sinh lời như mua lại cổ phiếu hoặc chi trả cổ tức tiền mặt cho các cổ
đông. Ông cho rằng, các doanh nghiệp thuộc các ngành sản xuất phần mềm và dịch
vụ, giải trí và truyền thông thường không bị đòi hỏi về chi tiêu vốn nhiều như các
công ty trong các ngành thâm dụng vốn, nên tiền mặt của các doanh nghiệp này cứ
thế tăng lên. Trong khi đó, các doanh nghiệp phải chi tiêu vốn nhiều như các nhà
sản xuất Thép, phải thường xuyên đầu tư nhiều cho các trang thiết bị, dây chuyền
sản xuất và nguyên vật liệu sản xuất. Các doanh nghiệp trong các ngành thâm dụng
vốn như vậy thường cần duy trì lượng tiền mặt cần thiết trong một thời gian dài hơn
bởi vì vòng quay tiền mặt không thể nhanh như các doanh nghiệp trong các ngành
cao và dòng tiền rủi ro hơn thì thường nắm giữ một tỷ lệ thấp hơn tiền mặt trên tổng
tài sản. Những kết quả này phù hợp với quan điểm rằng "Các công ty nắm giữ tài
sản ngắn hạn để đảm bảo rằng họ có thể nắm bắt cơ hội đầu tư khi dòng tiền đang ở
mức thấp và khi nguồn vốn bên ngoài là tốn kém”. Các công ty có cơ hội cao hơn
trong việc tiếp cận thị trường vốn, chẳng hạn như những công ty lớn thì thường có
tỷ lệ vay nợ cao, do đó lượng tiền mặt nắm giữ trong công ty trên tổng tài sản
thường thấp. Tuy nhiên, tác giả cũng tìm ra bằng chứng cho thấy các công ty có xu
hướng tích lũy tiền mặt nhiều hơn so với dự đoán bởi lý thuyết đánh đổi tĩnh. Có rất
ít bằng chứng về việc nắm giữ tiền mặt quá mức có tác động nhiều đến chi phí vốn,
chi tiêu mua lại, và trả cổ tức cho cổ đông trong ngắn hạn. Phân tích của tác giả đã
cung cấp bằng chứng bác bỏ ý kiến cho rằng tiền mặt dư thừa dẫn đến việc các công
ty sẽ chi tiêu nhiều hơn hoặc sẽ thực hiện các cuộc thâu tóm có quy mô lớn hơn.
Những bằng chứng này cũng phù hợp với quan điểm rằng các nhà quản lý thường
13
có xu hướng tích lũy tiền mặt dư thừa. Opler và cộng sự cũng tìm ra rằng những
công ty hoạt động tốt có khuynh hướng tích trữ nhiều tiền mặt hơn
Vai trò kép của CEO và quy mô hội đồng quản trị đóng vai trò quan trọng trong
việc duy trì mức độ nắm giữ tiền mặt của một doanh nghiệp. Dahya và Travlov
(2000) cho rằng, với vai trò kép của mình các CEO có thể phục vụ lợi ích của ban
lãnh đạo và một cách để bảo vệ vị thế của ban lãnh đạo là nắm giữ tiền mặt quá
mức. Thêm vào đó, CEO cùng với hội đồng quản trị thiết lập các chính sách bao
gồm chính sách liên quan đến nắm giữ tiền. Yermack (1996) và Lipton & Lorsch
(1992) giải thích rằng một hội đồng quản trị nhỏ hiệu quả hơn trong việc đưa ra các
quyết định hơn là một hội đồng quản trị lớn. Một hội đồng quản trị lớn có thể dẫn
đến việc nắm giữ tiền quá mức trong doanh nghiệp.
Dittma và cộng sự (2003) đã thu thập dữ liệu của hơn 11.000 doanh nghiệp từ 45
nước và tìm ra rằng những công ty ở những nước mà quyền cổ đông không được
tín dụng của công ty, để theo dõi cũng như kiểm soát các chính sách tài chính của
công ty, cũng như cắt giảm sự bất cân xứng thông tin và các vấn đề đại diện thường
liên quan đến việc sử dụng đòn bẩy tài chính của các công ty. Cuối cùng, phân tích
của tác giả còn cho thấy, các công ty ở các quốc gia bảo vệ nhà đầu tư tốt, theo các
quy định của pháp luật và việc thực thi pháp luật thường giữ tiền mặt nhiều hơn.
Mức độ phát triển thị trường vốn có mối tương quan âm với nắm giữ tiền mặt, đó là
mặt trái của chi phí đại diện, nhưng lại hỗ trợ cho các công ty nắm giữ tiền mặt vì
động cơ phòng ngừa.
Nguyen (2005) đã thu thập mẫu 9.168 quan sát theo năm từ thị trường chứng khoán
Tokyo trong giai đoạn 1992 – 2003. Tác giả tìm hiểu giả thuyết tỷ lệ nắm giữ tiền
mặt có mục đích dự phòng và nhằm giảm bớt những biến động thu nhập hoạt động.
Thông qua phân tích hồi quy, Nguyen tìm thấy việc nắm giữ tiền mặt có mối liên hệ
thuận chiều với rủi ro doanh nghiệp nhưng ngược chiều với rủi ro gắn với đặc thù
ngành. Tác giả cũng cho thấy nắm giữ tiền mặt giảm khi quy mô công ty và tỷ lệ nợ
tăng và tăng khi lợi nhuận, triển vọng phát triển và tỷ lệ chi trả cổ tức tăng. Nguyen
đã tìm thấy mục đích dự phòng của việc nắm giữ tiền mặt bằng cách thực hiện phân
loại theo đó việc thiếu hụt tiền mặt gây ra những chi phí khác nhau. Kết quả nghiên
15
cứu cho thấy những doanh nghiệp là thành viên tập đoàn doanh nghiệp Nhật Bản
nắm giữ tiền mặt ít hơn và có độ rủi ro thấp hơn.
Saddour (2006) đã nghiên cứu các yếu tố quyết định đến việc nắm giữ tiền mặt bằng
dữ liệu từ 297 doanh nghiệp Pháp trong giai đoạn 1998 – 2002, sử dụng thuyết đánh
đổi. Thông qua phân tích hồi quy, tác giả tìm thấy những công ty Pháp tăng tỷ lệ
nắm giữ tiền mặt khi hoạt động của họ chịu nhiều rủi ro và mức độ lưu chuyển tiền
mặt cao, và giảm tỷ lệ nắm giữ tiền mặt khi công ty có tỷ lệ nợ trên tài sản cao.
Những công ty đang phát triển có mức độ nắm giữ tiền mặt cao hơn những công ty
đã phát triển. Đối với những công ty đang phát triển, có mối quan hệ ngược chiều
đầu tư bất động sản (REITs) ở Mỹ từ năm 1998 đến 2006. Thông qua phân tích hồi
quy OLS, các giả cho thấy việc nắm giữ tiền mặt của REIT có quan hệ ngược chiều
với các quỹ từ hoạt động, đòn bẩy tài chính và có mối liên hệ trực tiếp với nguồn tài
chính từ bên ngoài và cơ hội phát triển. Nắm giữ tiền mặt cũng có mối quan hệ
ngược chiều với việc tiếp cận và sử dụng hạn mực tín dụng. Kết quả cho thấy những
giám đốc REIT ủng hộ nắm giữ ít tiền mặt để giảm vấn đề đại diện của dòng tiền do
đó làm tăng tính minh bạch và giảm chi phí tương lai của vốn ngoại.
Qi Luo, Toyohiko Hachiya (2009) khảo sát việc nắm giữ tiền mặt của các công ty
Nhật Bản liệt kê trên sàn chứng khoán Tokyo, Ông đã tìm thấy rằng mối quan hệ
giữa công ty và ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc xác định lượng tiền
mặt nắm giữ, thường thì những công ty có mối quan hệ rộng rãi với các ngân hàng
thì lượng tiền mặt nắm giữ thấp. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng cho thấy mặt trái của
vấn đề này là vấn đề phát sinh chi phí đại diện. Tương tự Tong (2009) đã đo lường
tác động của đa dạng hóa công ty lên giá trị của nắm giữ tiền mặt. Bằng việc sử
dụng phương pháp của Faulkender và Wang (2006), Tong đã đo lường giá trị biên
của việc nắm giữ tiền mặt và đã đưa ra quan điểm rằng nắm giữ tiền mặt như là một
kênh quan trọng và tiềm năng mà thông qua đó đa dạng hóa công ty có thể ảnh
hưởng đến giá trị doanh nghiệp. Theo nghiên cứu này, giá trị biên của một đồng đô
la trong các công ty đã đa dạng hóa thấp hơn so với các công ty chưa được đa dạng
hóa, ngụ ý rằng đa dạng hóa công ty làm giảm giá trị nắm giữ tiền mặt thông qua
các vấn đề đại diện.
17
Megginson và Wei (2010) đã nghiên cứu những yếu tố tác động đến nắm giữ tiền
mặt và giá trị tiền mặt ở những công ty tư nhân phát hành cổ phiếu ở Trung Quốc từ
năm 1993 đến 2007. Qua phân tích hồi quy, nghiên cứu tìm thấy những công ty nhỏ
hơn, lợn nhuận nhiều hơn và phát triển hơn sẽ nắm giữ tiền mặt nhiều hơn. Nợ và
vốn luân chuyển ròng có mối quan hệ ngược chiều với nắm giữ tiền mặt, trong khi