1
DANH MỤC HÌNH ẢNH
2
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
GPMB: Giải phóng mặt bằng
UBND: Ủy ban nhân dân
GIS: Hệ thống thông tin địa lý
CSDL: Cơ sở dữ liệu
LMIS: Hệ thống thông tin quản lý đất đai
LDBS: Ngân hàng dữ liệu đất đai
ISO: Tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hóa
GDP: Tăng trưởng kinh tế
QD – UBND: Quyết định - Ủy ban nhân dân
MTTQVN: Mặt trận tổ quốc Việt Nam
LIS: Hệ thống thông tin đất đai
LRIS: Hệ thống Thông tin Tài nguyên Đất đai
ILWIS: Hệ thống thông tin đất đai và nước liên thôn
GSDI: Cấu trúc Không gian Dữ liệu Không gian cho Châu Á và Thái
Bình Dương
3
LỜI CẢM ƠN
Qua quá trình học tập và rèn luyện tại Trường Đại Học Mỏ - Địa Chất Hà
Nội, được sự chỉ bảo và giảng dạy nhiệt tình của quý thầy cô, đặc biệt là quý
1. Tính cấp của đề tài.
Đất đai là nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, là tư liệu sản
xuất đặc biệt; là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn
phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh,
quốc phòng. Đúng như Nghị quyết Hội nghị lần thứ VII Ban chấp hành trung
ương Đảng khoá IX đã được khẳng định: “Đất đai là tài nguyên quốc gia vô
cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt là nguồn nội lực và nguồn vốn to lớn
của đất nước; quyền sử dụng đất là hàng hóa đặc biệt.
Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam đã thực hiện được
hơn hai thập kỷ qua, đặc biệt nó diễn ra mạnh mẽ trong những năm gần đây.
Trong quá trình đó chúng ta đã và đang triển khai nhiều dự án với các mục tiêu
phát triển khu công nghiệp, công trình hạ tầng kinh tế - xã hội, và hạ tầng cho
các khu đô thị mới. Để triển khai được vấn đề này thì chúng ta phải sử dụng đến
quỹ đất. Nhưng trên thực tế thì việc triển khai quỹ đất vào thực thi các dự án thì
không đơn giản. Vì nó tác động đến nhiều vấn đề liên quan đến cuộc sống của
người dân bị thu hồi đất. Có thể nói đây là một thách thức rất lớn đối với việc
triển khai các dự án hiện nay, đòi hỏi chúng ta phải giải quyết hàng loạt các vấn
đề liên quan đến người dân bị mất đất. Như vậy công tác giải phóng mặt bằng
cần phải được xử lý tính toán một cách khoa học và có độ chính xác cao, hệ
thống dữ liệu thông tin thu hồi cần phải được cập nhật kịp thời và liên tục.
Cùng với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đô thi hoá đang diễn ra
rất mạnh mẽ ở tỉnh Lạng Sơn, tại địa bàn xã Cai Kinh, huyện Hữu Lũng có rất
nhiều dự án đã và đang được triển khai với mục đích phát triển cơ sở hạ tầng
kinh tế cho công nhiệp hoá, hiện đại hoá, đô thị hoá. Vấn đề sử dụng quỹ đất
đang chuyển đổi hiện nay sang đất triển khai dự án đang diễn ra nhanh, quá trình
phát triển mạnh về cơ sở hạ tầng phục vu thu hút các nhà đầu tư để phát triển
kinh tế xã hội. Trong vòng vài năm trở lại đây xã Cai Kinh huyện Hữu Lũng đã
5
2.2. Yêu cầu của đề tài
- Số liệu thu thập được tại địa phương phải đầy đủ, chính xác, liên quan
đến vấn đề nghiên cứu.
- Trung thực, khách quan với số liệu thu thập được tại địa phương.
- Ứng dụng công nghệ Arc GIS vào tính toán giải phóng mặt bằng trên địa
bàn xã Cai Kinh, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn.
- Từ những số liệu tính toán đề xuất cách khai thác, sử dụng hợp lý và
đảm bảo tính hiệu quả của công nghệ GIS.
7
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀNGHIÊN CỨU
1. Tổng quan về ứng dụng công nghệ thông tin địa chính trong quản lý đất
đai trên thế giới và ở Việt Nam.
Hiện nay khối lượng thông tin đất đai vô cùng lớn, cần đảm bảo độ chính
xác cao, truy cập nhanh chóng. Do đó chúng ta cần phải sử dụng công nghệ
thông tin vào công tác quản lý đất đai, bên cạnh đó công tác quản lý đất đai hiện
nay đã và đang là một trong những nhiệm vụ trọng tâm. Ứng dụng công nghệ
thông tin vào lĩnh vực đất đai hiện nay được nhà nước xem như là vấn đề hết sức
cần thiết và cấp bách để xây dựng cơ sở dữ liệu thống nhất cho các cấp quản lý
từ trung ương đến địa phương.
1.1 Thế giới
- Tại nhiều quốc gia trên thế giới đã ứng dụng công nghệ thông tin trong
lĩnh vực đất đai và đạt được nhiều thành công. Tại những quốc gia này công
nghệ thông tin đã giúp cho việc quản lý đất đai trở nên dễ dàng, nhanh chóng và
người dân có thể biết được những thông tin cần thiết.
- Trong Tạp chí Hóa học Ứng dụng và nghiên cứu nông nghiệp Vol.7
phương thức xây dựng, chia sẻ dữ liệu và thông tin trong quản lý đất đai cho các
khu vực tư nhân và công cộng. Vì vậy chính phủ Hàn Quốc đã xây dựng hệ
thống thông tin đất đai nhằm khắc phục những vấn đề trên.
- Tại Thụy Điển đất đai được quản lý trong cơ sở dữ liệu ngân hàng dữ
liệu đất đai LDBS (Land Data Bank System), LDBS do Cục quản lý đất đai
Quốc gia quản lý, được bắt đầu triển khai từ năm 1970 và hoàn thành năm 1995
và là thành công lớn của Thụy Điển trong việc tin học hóa hành chính trong lĩnh
vực quản lý đất đai. LDBS lưu trữ và cung cấp các thông tin liên quan đến từng
đơn vị bất động sản như: vị trí, địa chỉ, số đăng ký công dân của chủ sở hữu đất
đai và các thông tin liên quan đến nguồn gốc đất; sơ đồ các công trình xây dựng
và các quy trình liên quan….. Thông tin do LDBS cung cấp chủ yếu là ko phải
trả tiền, trừ trường hợp yêu cầu cao hơn mức quy định.
9
1.2. Việt Nam
Tại Việt Nam những năm gần đây, công tác quản lý đất đai đã trở nên hiệu
quả hơn nhờ việc ứng dụng tin học để quản lý thông tin về đât đai, nhiều phần
mềm đang được ứng dụng tại các cơ quan. Tại một số nơi đã triển khai ứng dụng
công nghệ thông tin theo hình thức mang tính quản lý và hỗ trợ nghiệp vụ trong
lĩnh vực đất đai. Với hệ thống này tất cả các thông tin được quản lý tại máy chủ,
các trạm kết nối với trung tâm qua hệ thống mạng, thông tin được liên kết với tất
cả các bộ phận từ khâu nhận hồ sơ của người dân đến sử lý hồ sơ của các chuyên
viên, duyệt hồ sơ của lãnh đạo phòng, ký giấy chứng nhận của thường trực ủy
ban nhân dân và trả hồ sơ cho dân. Mọi thao tác đều được ghi nhận trong máy
chủ, bộ phận sau kế thừa của bộ phận trước. Các phần mềm nghiệp vụ gắn liền
với quy trình quản lý hành chính tương ứng với quy trình quản lý chất lượng
ISO của từng cơ quan, có thể tùy biến để đáp ứng với các loại quy trình hiện
hành khác.
1/5.000 của phường Vĩnh Trại.
Nghiên cứu của Lê Quang Trí- ĐH Cần Thơ: “Ứng dụng công nghệ thông
tin trong đánh giá đất đai tự nhiên và đánh giá thích nghi đa tiêu chí ở huyện
Càn Long, tỉnh Trà Vinh”. Nghiên cứu áp dụng phần mềm ALES kết nối với GIS
để đánh giá thích nghi đất đai tự nhiên và đánh giá đa tiêu chí được thực hiện
cho các kiểu sử dụng đất đai được đề xuất trên cơ sở các tiêu chí về an ninh,
lương thực, gia tăng lợi nhuận, hiệu quả xã hội và môi trường bền vững. Sự kết
nối giúp gia tăng hiệu quả các phương án trên cơ sở định tính và định lượng. Từ
đó đề xuất các kiểu đất đai sử dụng hiệu quả nhất.
2. Tổng quan về giải phóng mặt bằng
Giải phóng mặt bằng được hiểu là công tác tổ chức thu hồi đất (gồm đất
nông nghiêp, phi nông nghiệp và các loại đất khác) trong vùng quy hoạch, nhằm
tạo mặt bằng hay quỹ đất sạch cho các dự án phát triển hạ tầng, đôthị - thương
mại - dịch vụ. Từ đó phải thực hiện đền bù giải tỏa, di dời nhiều hộ gia đình
cùng với nhà cửa tài sản và các hạng mục gắn liền với đất ra khỏi vùng quy
hoạch dự án, chuyển họ sang vùng định cư và bố trí công ăn việc làm tại nơi ở
11
mới (nếu là thu hồi đất ở); hoặc phải bố trí đào tạo nghề, giải quyết việc làm, ổn
định đời sống và thu nhập cho hộ dân (nếu là thu hồi đất nông nghiệp).
Như vậy, khái niệm giải phóng mặt bằng chứa đựng một nội dung phong
phú. Trong nội hàm của nó có các nhóm vấn đề cơ bản:
•
Tổ chức điều tra tình hình cuộc sống và tài sản của hộ dân trong vùng dự
án, nhằm phục vụ công tác đền bù thiệt hại về vật chất hữu hình và vô hình.
•
Tiến hành giải tỏa, di dời các hộ dân từ nơi ở cũ sang nơi ở mới ngoài
Luật Đất đai ngày 29 tháng 11 năm 2013.
12
Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi
tiết thi hành một số điều của Luật đất đai.
Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về
thu tiền sử dụng đất.
Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về
bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.
Thông tư số 37/2014/TT-BTNMT ngày 30/6/2014 của Bộ Tài nguyên và
Môi trường Quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu
hồi đất.
Quyết định số 12/2015/QĐ-UBND ngày 14/02/2015 của UBND tỉnh
Lạng Sơn Ban hành Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai và
Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ về bồi thường, hỗ
trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn.
Quyết định số 04/2012/QĐ-UBND ngày 24/02/2012 của UBND tỉnh
Lạng Sơn Ban hành quy định đơn giá cây trồng, vật nuôi áp dụng trong công tác
bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Lạng
Sơn.
Quyết định số 03/2013/QĐ-UBND ngày 05/03/2013 của UBND tỉnh
Lạng Sơn về sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định Đơn giá cây trồng, vật
nuôi áp dụng trong công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu
hồi đất trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn ban hành kèm theo Quyết định số
04/2012/QĐ-UBND ngày 24/02/2012 của UBND tỉnh.
Quyết định số 16/2015/QĐ-UBND ngày 21/4/2015 của UBND tỉnh Lạng
Sơn Ban hành Đơn giá xây dựng mới nhà, công trình và vật kiến trúc áp dụng
trong công tác bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh
Lạng Sơn.
công ích của xã, phường, thị trấn; đối với tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt
Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao, doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
UBND cấp huyện có thẩm quyền thu hồi đất đối với đất của hộ gia đình,
cá nhân, cộng đồng dân cư; đất ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài
được sở hữu nhà ở tại Việt Nam.
14
Trường hợp khu đất thu hồi có cả tổ chức và hộ gia đình, cá nhân đang sử
dụng đất thì UBND cấp tỉnh có thẩm quyền quyết định thu hồi đất hoặc ủy
quyền cho Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thu hồi đất.
c. Kiểm kê đất đai, tài sản có trên đất
Sau khi có quyết định thu hồi đất của cấp có thẩm quyền, UBND cấp xã
có trách nhiệm phối hợp với Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt
bằng triển khai thực hiện kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm
đếm. Người sử dụng đất có trách nhiệm phối hợp với tổ chức làm nhiệm vụ bồi
thường, giải phóng mặt bằng thực hiện việc điều tra, khảo sát, đo đạc xác định
diện tích đất, thống kê nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất để lập phương án bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư.
Trường hợp người sử dụng đất trong khu vực có đất thu hồi không phối
hợp với tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng trong việc điều
tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm thì UBND cấp xã, Ủy ban MTTQVN cấp xã nơi
có đất thu hồi và tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng tổ chức
vận động, thuyết phục để người sử dụng đất thực hiện.
Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày được vận động, thuyết phục mà người
sử dụng đất vẫn không phối hợp với tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải
phóng mặt bằng thì Chủ tịch UBND cấp huyện ban hành quyết định kiểm đếm
bắt buộc. Người có đất thu hồi có trách nhiệm thực hiện quyết định kiểm đếm
đất.
Phương án tái định cư: UBND cấp tỉnh, UBND cấp huyện có trách nhiệm
tổ chức lập và thực hiện dự án tái định cư trước khi thu hồi đất. Khu tái định cư
tập trung phải xây dựng cơ sở hạ tầng đồng bộ, bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn
xây dựng, phù hợp với điều kiện, phong tục, tập quán của từng vùng, miền. Dự
án tái định cư được lập và phê duyệt độc lập với phương án bồi thường, hỗ trợ,
tái định cư nhưng phải bảo đảm có đất ở, nhà ở tái định cư trước khi cơ quan nhà
nước có thẩm quyền quyết định thu hồi đất. Khu tái định cư được lập cho một
hoặc nhiều dự án; nhà ở, đất ở trong khu tái định cư được bố trí theo nhiều cấp
nhà, nhiều mức diện tích khác nhau phù hợp với các mức bồi thường và khả
năng chi trả của người được tái định cư.
16
đ. Niêm yết công khai phương án lấy ý kiến của nhân dân
Sau khi phương án chi tiết được lập, tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường,
giải phóng mặt bằng có trách nhiệm phối hợp với UBND cấp xã nơi có đất thu
hồi tổ chức lấy ý kiến của nhân dân, nhất là các đối tượng bị thu hồi đất. Hình
thức lấy ý kiến là: tổ chức họp trực tiếp với người dân trong khu vực có đất thu
hồi, đồng thời niêm yết công khai phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại
trụ sở UBND cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu
hồi.
Việc tổ chức lấy ý kiến phải được lập thành biên bản có xác nhận của đại
diện UBND cấp xã, đại diện Ủy ban MTTQVN cấp xã, đại diện những người có
đất thu hồi.
Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm
tổng hợp ý kiến đóng góp bằng văn bản, ghi rõ số lượng ý kiến đồng ý, số lượng
ý kiến không đồng ý, số lượng ý kiến khác đối với phương án bồi thường, hỗ
trợ, tái định cư; phối hợp với UBND cấp xã nơi có đất thu hồi tổ chức đối thoại
đối với trường hợp còn có ý kiến không đồng ý về phương án bồi thường, hỗ trợ,
Theo quy định tại Điều 93 Luật đất đai 2013, trong thời hạn 30 ngày kể từ
ngày quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền có hiệu lực thi
hành, cơ quan, tổ chức có trách nhiệm bồi thường phải chi trả tiền bồi thường,
hỗ trợ cho người có đất thu hồi.
Trường hợp cơ quan, tổ chức có trách nhiệm bồi thường chậm chi trả thì
khi thanh toán tiền bồi thường, hỗ trợ cho người có đất thu hồi, ngoài tiền bồi
thường, hỗ trợ theo phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được cấp có thẩm
quyền phê duyệt thì người có đất thu hồi còn được thanh toán thêm một khoản
tiền bằng mức tiền chậm nộp theo quy định của Luật quản lý thuế tính trên số
tiền chậm trả và thời gian chậm trả. Trường hợp người có đất thu hồi không
nhận tiền bồi thường, hỗ trợ theo phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được
cấp có thẩm quyền phê duyệt thì tiền bồi thường, hỗ trợ được gửi vào tài khoản
tạm giữ của Kho bạc nhà nước.
Người sử dụng đất được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất mà chưa
thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai đối với Nhà nước theo quy định của pháp
18
luật thì phải trừ đi khoản tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính vào số tiền được
bồi thường để hoàn trả ngân sách nhà nước. Về vấn đề này, Nghị định
47/2013/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều
của Luật Đất đai về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
cũng quy định rõ tại Điều 30, cụ thể là: khoản tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài
chính về đất đai bao gồm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải nộp cho Nhà nước
nhưng đến thời điểm thu hồi đất vẫn chưa nộp; số tiền chưa thực hiện nghĩa vụ
tài chính này được xác định theo quy định của pháp luật về thu tiền sử dụng đất;
thu tiền thuê đất, thuê mặt nước.
Trường hợp số tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính đến thời điểm có
quyết định thu hồi đất lớn hơn số tiền được bồi thường, hỗ trợ thì hộ gia đình, cá
nhân tiếp tục được ghi nợ số tiền chênh lệch đó; nếu hộ gia đình, cá nhân được
giao quyết định cưỡng chế thì UBND cấp xã lập biên bản.
Trình tự, thủ tục thực hiện cưỡng chế thu hồi đất: trước khi tiến hành
cưỡng chế, Chủ tịch UBND cấp huyện quyết định thành lập Ban thực hiện
cưỡng chế; Ban thực hiện cưỡng chế vận động, thuyết phục, đối thoại với người
bị cưỡng chế; nếu người bị cưỡng chế chấp hành thì Ban thực hiện cưỡng chế
lập biên bản ghi nhận sự chấp hành. Việc bàn giao đất được thực hiện chậm nhất
sau 30 ngày kể từ ngày lập biên bản.
Trường hợp người bị cưỡng chế không chấp hành quyết định cưỡng chế
thì Ban thực hiện cưỡng chế tổ chức thực hiện cưỡng chế; Ban thực hiện cưỡng
chế có quyền buộc người bị cưỡng chế và những người có liên quan phải ra khỏi
khu đất cưỡng chế, tự chuyển tài sản ra khỏi khu đất cưỡng chế; nếu không thực
hiện thì Ban thực hiện cưỡng chế có trách nhiệm di chuyển người bị cưỡng chế
và người có liên quan cùng tài sản ra khỏi khu đất cưỡng chế. Trường hợp người
bị cưỡng chế từ chối nhận tài sản thì Ban thực hiện cưỡng chế phải lập biên bản,
tổ chức thực hiện bảo quản tài sản theo quy định của pháp luật và thông báo cho
người có tài sản nhận lại tài sản.
Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện quyết định cưỡng
chế thu hồi đất: UBND cấp huyện chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện việc
cưỡng chế, giải quyết khiếu nại liên quan đến việc cưỡng chế theo quy định của
20
pháp luật về khiếu nại; thực hiện phương án tái định cư trước khi thực hiện
cưỡng chế; bảo đảm điều kiện, phương tiện cần thiết phục vụ cho việc cưỡng
chế; bố trí kinh phí cưỡng chế thu hồi đất; Ban thực hiện cưỡng chế có trách
nhiệm chủ trì lập phương án cưỡng chế và dự toán kinh phí cho hoạt động
cưỡng chế trình UBND cấp có thẩm quyền phê duyệt; thực hiện cưỡng chế theo
phương án đã được phê duyệt; bàn giao đất cho tổ chức làm nhiệm vụ bồi
thường, giải phóng mặt bằng.
Trường hợp trên đất thu hồi có tài sản thì Ban thực hiện cưỡng chế phải
cách nhìn bản đồ và dữ liệu thuộc tính có cấu trúc. Với cách nhìn bản đồ như
một hệ cơ sở dữ liệu, ta thấy rằng bản đồ là tập hợp các dữ liệu địa lý, các dữ
liệu này mô tả các đối tượng trong thế giới thực bằng vị trí tọa độ dưới một hệ
tọa độ xác định, ngoài ra dữ liệu địa lý còn chứa đựng các thông tin về thuộc
tính của đối tượng. Việc xác định và ước toán tài nguyên tự nhiên, môi trường và
đất đai sẽ cung cấp nhiều đối tượng tự nhiên, môi trường và đất đai sẽ cung cấp
nhiều đối tượng mới phản ứng cho bản đồ.
Cấu trúc cơ sở dữ liệu tài nguyên đất: về nguyên tắc một hệ thống thông
tin ngành hợp lý nhất là có tổ chức dựa trên cơ cấu tổ chức ngành chủ quản, cơ
cấu tổ chức được phân thành các cấp trung ương và địa phương. Thông thường
các địa phương đóng vai trò là nơi thu thập, cập nhập các thông tin chi tiết, cung
cấp các thông tin đầu vào cho toàn bộ hệ thống và cũng sẽ là nơi quản lý và sử
dụng chủ yếu các thông tin chi tiết, còn cấp trung ương nhu cầu chủ yếu lại là
các thông tin tổng hợp từ các thông tin chi tiết. Có 5 phương án lưu trữ và quản
lý dữ liệu bao gồm: Quản lý tập trung; Phân tán bản sao; Phân tán dữ liệu chi
tiết; Tập trung số liệu tổng hợp. Căn cứ vào trình độ quản lý, mức độ ổn định
của quy trình quản lý, phân bố tần suất thông tin giữa các đơn vị để xác định
phương án thích hợp.
Chuẩn hóa cơ sở dữ liệu tài nguyên đất: cơ sở dữ liệu tài nguyên đất khi
đưa vào sử dụng phải được chuẩn hóa dữ liệu, đảm bảo tính thống nhất của cơ
sở dữ liệu khi chia sẻ cho nhiều đối tượng sử dụng hoặc chỉnh sửa từ nhiều
nguồn khác nhau. Việc chuẩn hóa các cơ sở dữ liệu phải đáp ứng các nhu cầu:
Xác định thống nhất cho từng thể dữ liệu, xác định quy trình thống nhất để
22
chuyển dữ liệu cũ về dạng chuẩn. Nội dung chuẩn hóa bao gồm: chuẩn hóa các
thiết bị tin học (hệ điều hành mạng, thiết bị phần cứng, chuẩn phần mềm ứng
dụng, bảng mã ký tự và tổ chức dữ liệu), chuẩn hóa hệ quy chiếu, tọa độ, địa
giới, địa danh; chuẩn hóa hệ thống bản đồ….
chức nghiên cứu phát triển ứng dụng GIS như ESRI, Conputerversion,
Intergraph,….
24
Trên thế giới cũng như trong khu vực hiện nay đã xuất hiện rất nhiều nhu
cầu bức xúc tổ chức các cơ sở dữ liệu toàn cầu hoặc khu vực để giải quyết các
vấn đề chung như: môi trường, lương thực, tài nguyên thiên nhiên, dân số,…
Định hướng xây dựng các cơ sở dữ liệu toàn cầu về địa lý, tài nguyên và môi
trường đang được các nhà quản lý quan tâm. Việc xây dựng dữ liệu địa lý và đất
đai toàn cầu và được xác định trong chương trình bản đồ thế giơi (Golobal
Mapping) được bắt đầu từ năm 1996 với nội dung là thành lập hệ thống bản đồ
nền theo tiêu chuẩn thống nhất ở tỷ lệ 1:1.000.000 bao gồm các lớp thông tin
liên quan đến tài nguyên đất. Các nhà khoa học trên thế giới đã dự định tới việc
xây dựng một cơ sở dữ liệu không gian thống nhất mang tên GSDI (Spatial Data
Infastructure for Asia and the Pacific) bắt đầu từ năm 1995 tại Malaysia. Với sự
hình thành các nhóm nghiên cứu về: hệ quy chiếu và địa giới hành chính, hệ
thống pháp lý, bản đồ nền, chuẩn hóa thông tin từ năm 1997 chương trình này
tập trung nghiên cứu xây dựng hệ quy chiếu – hệ tọa độ khu vực và cơ sở dữ
liệu không gian và khu vực. Nói tóm lại vấn đề xây dựng các CSDL địa lý toàn
cầu và khu vực đang là một nhu cầu lớn được nhiều nước quan tâm nhằm giải
đáp các vấn đề mang tính chiến lược phát triển đối với những quốc gia cũng như
toàn cầu.
2.1.2 Tình hình ứng dụng ở Việt Nam
Ở nước ta, công nghệ GIS chỉ mới được chú ý trong vòng 10 năm trở lại
đây, tuy nhiên phần lớn mới chỉ dừng lại ở xây dựng lại ở cơ sở dữ liệu cho các
dự án ngiên cứu. Một số phần mềm lớn của GIS như ArcInfor, MapInfor,
Mapping Office… đã được sử dụng ở nhiều nơi để xây dựng lại bản đồ địa hình,
địa chính, hiện trạng trên phạm vi trên toàn quốc. Sự kết hợp giữa công nghệ