MỤC LỤC
Nội dung
I. Mở đầu
1.1. Lí do chọn đề tài
Trang
2
2
1.2. Mục đích nghiên cứu
2-3
1.3. Đối tượng nghiên cứu
3
1.4. Phương pháp nghiên cứu
3
II. Nội dung của sáng kiến:
3
2.1. Cơ sở lí luận của vấn đề
3
2.2. Thực trạng của vấn đề
11-13
13-14
2.4. Hiệu quả của sáng kiến trong công tác giảng dạy đối với
bản thân
III. Kết luận và kiến nghị
14-15
16-17
1
I. Mở đầu
1.1 Lí do chọn đề tài:
Trong chương trình Ngữ văn 12, các tác phẩm - đoạn trích văn xuôi chiếm
một vị trí quan trọng. Trong đề thi, câu hỏi về tác phẩm văn xuôi luôn chiếm
một tỷ lệ cao. Khi làm bài văn nghị luận về một tác phẩm, một đoạn trích văn
xuôi, học sinh thường băn khoăn, thậm chí làm bài theo kiểu mò mẫm mà không
hiểu gì về đặc điểm của kiểu bài. Trong kì thi THPT quốc gia sắp tới, môn Văn
lại là một trong những môn quyết định tỉ lệ đỗ tốt nghiệp của học sinh và cũng là
môn quan trọng để học sinh lấy điểm xét tuyển vào các trường đại học, cao đẳng
và THCN... Trong khi đó, chương trình Ngữ văn 12 "Nghị luận về một tác
phẩm, một đoạn trích văn xuôi" chiếm vị trí nhỏ bé, khó hình thành cho học sinh
những kỹ năng cần thiết.
Từ những thực tế đó, qua quá trình giảng dạy ở khối 12, tôi nhận thấy cần
phải cho học sinh hiểu cặn kẽ về kiểu bài này giúp các em biết khai thác đề bài,
biết vận dụng kiến thức văn học để làm bài văn hoàn chỉnh. Đó cũng là lí do để
tôi chọn đề tài "Một số biện pháp nâng cao kĩ năng làm bài văn nghị luận về
một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi cho HS lớp 12 THPT".
Văn nghị luận là loại văn dùng lí lẽ, dẫn chứng và bằng cách lập luận xác
đáng để bàn bạc, thuyết phục người khác hiểu và tin về một vấn đề nào đó. Để
có tính thuyết phục, người viết phải có ý kiến và thái độ đúng đắn trước vấn đề
đặt ra. Do đó, muốn làm văn nghị luận người viết phải có khái niệm về một vấn
đề, có quan điểm, chính kiến, biết vận dụng khái niệm, đồng thời biết tư duy lô
gic, biết vận dụng kết hợp các thao tác như phân tích, tổng hợp, quy nạp, diễn
dịch, so sánh ... để làm rõ vấn đề.
Khác với tác phẩm trữ tình - hiện thực được tái hiện qua những cảm xúc,
tâm trạng, ý nghĩ của con người, được thể hiện trực tiếp qua những lời lẽ bộc
bạch, thổ lộ, tác phẩm tự sự phản ánh đời sống qua con người, hành vi, sự kiện
được kể lại bởi một người kể chuyện nào đó. Muốn học sinh cảm thụ và làm tốt
dạng bài văn nghị luận về một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi, giáo viên cần
trang bị cho học sinh những kĩ năng cơ bản để học sinh có thể vận dụng và sáng
tạo khi bắt gặp mỗi đề văn nghị luận về một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi
2.2. Thực trạng của vấn đề.
3
Thông thường khi làm một bài văn nghị luận văn học các em thường thích
lựa chọn những dạng đề về tác phẩm, đoạn trích văn xuôi nhiều hơn vì nhiều em
cho rằng dạng đề này dễ viết hơn chỉ cần nắm cốt truyện, nhân vật, tình tiết, sự
việc,…là có thể viết được bài văn, diễn đạt không cần nhiều sự biểu cảm (còn
các đề bài nghị luận về một bài thơ - đoạn thơ đòi hỏi sự cảm nhận phải tinh tế,
diễn đạt phải giàu tính biểu cảm).
Song trên thực tế, các câu hỏi về tác phẩm văn xuôi khá phong phú, đa
dạng, yêu cầu cao hơn về việc hiểu đề và xây dựng hệ thống luận điểm, luận cứ.
Cùng với việc đổi mới kiểm tra đánh giá như hiện nay, các dạng đề này thường
nhằm kiểm tra mức độ thông hiểu và vận dụng cao, tập trung nhiều vấn về nghị
luận khiến không ít học sinh bỡ ngỡ trong khi chương trình Ngữ văn 12 ở phân
môn Làm văn, nghị luận về một tác phẩm - đoạn trích văn xuôi chiếm dung
phẩm?.
Thông thường, nhà văn thường đặt nhan đề bằng những cách: tên tác phẩm
là tên nhân vật chính: Chí Phèo,...; tên tác phẩm lấy từ những hình ảnh, chi tiết,
tình huống chủ đạo: Rừng xà nu (Nguyễn Trung Thành), Chiếc thuyền ngoài xa
(Nguyễn Minh Châu)...; lấy từ đề tài, chủ đề: Những đứa con trong gia đình
(Nguyễn Thi)...
b. Ví dụ:
Đề bài 1: Anh (chị) hãy giải thích ý nghĩa nhan đề truyện ngắn Vợ nhặt của
Kim Lân?
Cách làm bài: cần đảm bảo các ý cơ bản sau:
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm
- Nêu xuất xứ của nhan đề:
+ Tiền thân là tiểu thuyết Xóm ngụ cư được viết ngay sau Cách mạng tháng
Tám năm 1945, nhưng dang dở và thất lạc bản thảo.
+ Sau khi hòa bình lập lại (1954), tác giả dựa vào một phần cốt truyện cũ để
viết truyện ngắn Vợ nhặt.
Ý nghĩa: "Vợ nhặt" hiểu theo nghĩa đen là nhặt được vợ. Nhan đề ấy tạo
được ấn tượng, kích thích sự chú ý của người đọc vì cái giá của con người quá
rẻ rúng. Qua nhan đề Vợ nhặt, Kim Lân đã phản ánh được tình cảnh thê thảm và
thân phận tủi nhục của người nông dân nghèo trong nạn đó khủng khiếp 1945 và
sự đen tối, bế tắc của xã hội Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám.
5
Đề bài 2: Anh (chị) hãy cho biết ý nghĩa nhan đề truyện ngắn "Rừng xà nu"
của Nguyễn Trung Thành.
Khi làm bài: cần đảm bảo ý cơ bản như sau:
Với mỗi nhà văn, đặt tên cho đứa con tinh thần của mình là việc làm hết
sức quan trọng. Cái tên của tác phẩm được ví như “chìa khoá” để giúp người
đọc mở vào tác phẩm. Nhan đề của tác phẩm thường chứa đề tài, chủ đề, tư
hôn là cách giải quyết dứt điểm được sự việc, sau anh nhận ra quan hệ của họ có
nhiều ràng buộc, do vậy phương án khuyên người đàn bà kia li dị chồng là
không ổn).
/Muốn giải quyết những vấn đề của cuộc sống, không chỉ dựa vào thiện
chí, pháp luật hoặc lí thuyết sách vở, mà phải thấu hiểu cuộc sống và cần có giải
pháp thiết thực. Pháp luật là cần thiết nhưng phải vận dụng vào từng hoàn cảnh.
* Ý nghĩa tình huống truyện.
- Tình huống truyện có ý nghĩa khám phá, phát hiện đời sống và bộc lộ
được cái nhìn nhân đạo của tác giả (mâu thuẫn giữa nghệ thuật giản đơn và cuộc
đời phức tạp, mâu thuẫn nằm ngay trong đời sống, thân phận và bản chất con
người...)
- Nhờ tình huống truyện độc đáo, tác phẩm có sức hấp dẫn (kịch tính
trong hành động và diễn biến mạch truyện, chiều sâu tâm lí...).
3.3. Dạng đề 3: Phân tích nhân vật.
Đó là dạng đề quen thuộc phổ biến có từ lâu thường gặp ở trong các đề
kiểm tra định kì và trong kỳ thi THPT quốc gia hiện nay. Trước khi phân tích
nhân vật cần cho học sinh tìm hiểu chung về nhân vật vì nhân vật gắn liền với
nội dung ý nghĩa của tác phẩm, với tư tưởng và quan niệm nghệ thuật của tác
giả. Hình tượng nhân vật thường hiện lên qua các chi tiết. Vì thế, giáo viên cần
hướng dẫn để học sinh chú ý các chi tiết, nối kết các chi tiết để thấy được đặc
điểm tính cách nhân vật. Khi phân tích nhân vật cần chú ý các khía cạnh: hình
dáng bên ngoài nhất là gương mặt, lời nói, cách nói, thế giới nội tâm, quan hệ
của nhân vật với các nhân vật khác...
Có nhiều dạng đề về phân tích nhân vật song theo xu hướng hiện nay các
đề bài lại thường yêu cầu phân tích một vài khía cạnh của nhân vật. Giáo viên
cần có biện pháp giúp học sinh có những kĩ năng cơ bản để giải quyết những
vấn đề đặt ra trong đề bài. Sau đây tôi xin trình bày một số dạng đề bài thường
gặp và hướng giải quyết:
3.3.1. Phân tích một đặc điểm về nội dung, nghệ thuật của nhân vật
8
b. Ví dụ: Trong tác phẩm Một người Hà Nội, vì sao Nguyễn Khải lại gọi
nhân vật bà Hiền là “hạt bụi vàng của Hà Nội”?.
9
Gợi ý:
- Giới thiệu về Nguyễn Khải và tác phẩm Một người Hà Nội.
- Về nhân vật bà Hiền.
- Vì sao, bà Hiền được so sánh là hạt bụi vàng của Hà Nội (cần làm rõ
"hạt bụi" và "hạt bụi vàng")
- Ý nghĩa của hình ảnh so sánh.
3.4. Dạng đề 4: Phân tích một khía cạnh của tác phẩm:
Đây là dạng đề rất thông dụng, phù hợp với cấu trúc của các đề thi có từ 2
đến 3 câu hỏi với mục đích kiểm tra mức độ vận dụng cao khi tạo lập văn bản.
3.4.1. Phân tích một khía cạnh nội dung:
a. Phân tích giá trị hiện thực:
* Cách làm bài: các ý cần phải có:
- Giới thiệu khái quát về giá trị hiện thực
- Giá trị hiện thực được thể hiện qua tác phẩm:
+ Tác phẩm đã tái hiện hiện thực gì? Của tầng lớp xã hội nào? Làm rõ hiện thực
mà nhân vật chính thể hiện.
+ Nguyên nhân của hiện thực trên?
+ Thái độ, cách giải quyết của nhà văn trước hiện thực đó.
- Đánh giá mức độ thành công, đóng góp của tác phẩm về giá trị hiện thực: Đề
tài cũ hay mới? Tư tưởng và thái độ của nhà văn? Cách viết? Ý nghĩa của hiện
thực đó đối với ngày nay.
* Ví dụ: Phân tích giá trị hiện thực trong tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân.
- Khái quát về giá trị hiện thực.
- Giá trị hiện thực được thể hiện qua tác phẩm:
+ Nạn đói khủng khiếp năm Ất Dậu (1945) được thể hiện qua hình ảnh: xóm
a. Phân tích đặc sắc nghệ thuật truyện.
b. Phân tích tình huống truyện (đã nói ở trên)
c. Phân tích khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn:
* Cách làm bài:
- Giới thiệu khái quát về khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn
- Biểu hiện của khuynh hướng sử thi trong tác phẩm, qua các phương diện:
+ Đề tài - chủ đề.
+ Hình tượng nhân vật.
11
+ Ngôn ngữ, giọng điệu.
- Biểu hiện của cảm hứng lãng mạn trong tác phẩm:
+ Cảm hứng, tình cảm, cảm xúc, giọng điệu kể chuyện, hình ảnh chi tiết lãng
mạn
+ Khẳng định, ngợi ca tin tưởng vào các giá trị cao đẹp sẽ chiến thắng
+ Cách kết thúc truyện.
* Ví dụ:
Khuynh hướng sử thi được thể hiện như thế nào trong truyện ngắn Rừng
xà nu của Nguyện Trung Thành?
- Tính sử thi được biểu lộ trước hết ở những sự kiện có tính chất toàn
dân được nhắc tới. Những chuyện xảy ra với làng Xô Man hoàn toàn không có ý
nghĩa cá biệt. Chúng là chuyện chung của cả Tây Nguyên, cả miền Nam, cả
nước trong những ngày chiến đấu chống đế quốc Mĩ. Tình thế bị o ép của làng
Xô Man trước ngày đồng khởi là bức tranh sinh động về cuộc sống đau thương
của đồng bào miền Nam trong những ngày Mĩ - Diệm thi hành luật 10/59. Khi
làng Xô Man đứng dậy thì gương mặt của làng lúc này lại chính là gương mặt
của cả nước trong những ngày quyết tâm đánh Mĩ và thắng Mĩ - một gương mặt
rạng rỡ, tự tin, điềm tĩnh đón nhận những thử thách mới.
- Biểu hiện thứ hai của tính sử thi trong Rừng xà nu là truyện ngắn đã xây
người anh hùng được tất cả ngưỡng vọng, học tập.
- Tính sử thi của Rừng xà nu cũng thể hiện ở giọng văn tha thiết, trang
trọng mà tác giả đã sử dụng khi kể về sự tích của làng Xô Man. Giọng văn ấy
cũng thấm đượm trong việc miêu tả thiên nhiên, khiến cho hình ảnh rừng xà nu
bỗng thổi tới trong lòng người đọc một cảm giác say sưa. Người đọc như bị
cuốn theo câu chuyện không gì cưỡng nổi, tưởng mình đang được tắm trên một
dòng sông mênh mang, tràn trề sinh lực, hoặc tưởng mình đang bị thôi miên bởi
một bản nhạc giao hưởng hùng tráng.
3.5. Dạng đề 5: Phân tích một chi tiết, hình ảnh, một đoạn văn.
3.5.1. Cách làm bài: các ý cơ bản cần đảm bảo
- Tái hiện chi tiết, tình tiết, hình ảnh, vị trí và tình huống mà chi tiết xuất hiện.
- Phân tích ý nghĩa biểu đạt về nội dung và nghệ thuật của chi tiết, hình ảnh.
- Đánh giá sự đặc sắc của chi tiết hình ảnh trong việc thể hiện chủ đề tư tưởng
tác phẩm, trong thành công của nghệ thuật tác phẩm.
13
3.5.2. Ví dụ:
- Phân tích ý nghĩa hình tượng cây xà nu trong tác phẩm Rừng xà nu của
Nguyễn Trung Thành
Cần làm rõ:
+ Ý nghĩa tả thực của hình tượng: Xà nu được nhắc đi nhắc lại như một
điệp khúc, gần hai mươi lần nhà văn nói đến rừng xà nu, cây xà nu, nhựa xà nu,
ngọn xà nu, đồi xà nu, khói xà nu, lửa xà nu, dầu xà nu...
+ Ý nghĩa tượng trưng: nó nói lên sức sống bền vững, quật khởi của dân
làng Xô Man, của Tây Nguyên bất khuất. Cây xà nu là biểu tượng cho những
con người là trụ cột của làng Xô Man; những con người phải chịu bao đau
thương, mất mát, tượng trưng cho các thế hệ nối tiếp làm cách mạng vv...
- Trong đoạn cuối truyện Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu,
nhân vật nghệ sĩ Phùng mỗi khi ngắm kĩ và nhìn lâu hơn tấm ảnh do mình chụp
Tỉ lệ
SL
Tỉ lệ
SL
Tỉ lệ
SL
Tỉ lệ
8
19,5
21
51,2
12
29,3
0
0%
nào bớt lúng túng khi giải quyết những đề bài nghị luận về một tác phẩm, một
đoạn trích văn xuôi trong các đề bài kiểm tra định kì, các em sẽ vững vàng hơn
trong kỳ thi THPT quốc gia sắp tới.
III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận:
- Nghị luận về một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi là kiểu bài phổ
biến, rất thiết thực cho học sinh trong các bài kiểm tra đặc biệt là trong kì thi
THPT quốc gia. Để học sinh làm tốt kiểu bài này, mỗi giáo viên cần:
- Giúp học sinh nhận diện đúng các dạng đề, xác định đúng trọng tâm yêu
cầu đề bài.
- Giúp các em chủ động xây dựng các luận điểm, luận cứ đầy đủ, sát
đúng với đáp án chấm. Tránh các hiện tượng lạc đề, lạc ý, thiếu ý, sắp xếp ý lộn
xộn, hay viết lan man, kể lể dài dòng về tác phẩm mà không đạt được các yêu
cầu đặt ra của đề bài.
- Giúp các em mạnh dạn hơn trong việc đánh giá mức độ thành công về
nội dung chủ đề và đặc sắc nghệ thuật của tác phẩm hoặc đoạn trích văn xuôi,
tránh đánh giá chung chung, xa lạ với tác phẩm hoặc đoạn trích.
2. Kiến nghị
Trên thực tế giảng dạy môn Ngữ văn nói chung và phân môn Làm văn
nói riêng của bản thân cũng như của đồng nghiệp, tôi nhận thấy còn gặp một số
những khó khăn, vì vậy tôi xin được đề xuất một số ý kiến sau:
- Nhà trường cũng như Sở giáo dục cần cung cấp giới thiệu nhiều hơn nữa
các tài liệu về đổi mới phương pháp dạy học Làm văn để giáo viên các trường
THPT trong toàn tỉnh có thể vận dụng trong quá trình giảng dạy.
15
- Mỗi giáo viên Ngữ văn cần phải tích cực tìm tòi, phát huy tính sáng tạo
giúp học sinh nâng cao kĩ năng làm bài văn nghị luận văn học nói chung, nghị
18