SỞ GD & ĐT THANH HÓA
TRƯỜNG THPT NGUYỄN XUÂN NGUYÊN
SỞ GD&ĐT THANH HÓA
TRƯỜNG THPT NGUYỄN XUÂNSÁNG
NGUYÊN
KIẾN KINH NGHIỆM
XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI DẠY ĐOẠN TRÍCH “TRAO
DUYÊN” (TRÍCH TRUYỆN KIỀU - NGUYỄN DU) THEO ĐỊNH
HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH
Người thực hiện: Nguyễn Thị Đức
Tổ công tác: Tổ Ngữ văn
Năm học: 2016 - 2017
SKKN thuộc lĩnh vực: Ngữ văn
THANH HÓA, THÁNG 5/2017
MỤC LỤC
Nội dung
I. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
1.2. Mục đích nghiên cứu
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4. Phương pháp nghiên cứu
II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
2.2. Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
2.3. Các giải pháp thực hiện để giải quyết vấn đề
7
7
8
8
9
9
9
10
10
15
16
17
17
17
2
I. MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài
Đã nhiều năm trở lại đây, việc dạy và học văn trong nhà trường đang ở tình
trạng báo động. Hiện tượng học sinh trong các trường phổ thông không thích học
môn ngữ văn ngày càng nhiều. Nhưng môn văn lại là môn học quan trọng có số giờ
học cao nhất ở trường Phổ thông. Ngoài tính chất là môn học công cụ góp phần
hình thành những kĩ năng cơ bản, thiết yếu cho học sinh. Nó còn là môn học còn
có những đặc thù riêng biệt góp phần quan trọng vào việc hình thành và phát triển
nhân cách toàn diện cho lứa tuổi học sinh. Nó trang bị cho học sinh công cụ để
giao tiếp, học tập, sinh hoạt và nhận thức về xã hội. Hơn nữa, việc dạy văn ở
trường phổ thông còn giúp cho học sinh có được những tình cảm, những
của học sinh.
- Phù hợp cho việc sử dụng công nghệ thông tin vào dạy đoạn trích này.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là hệ thống câu hỏi và cách thức sử
dụng công nghệ thông tin trong việc dạy đọc - hiểu đoạn trích “Trao duyên”
(Trích Truyện Kiều - Nguyễn Du) theo định hướng phát triển năng lực học sinh
ở trường THPT.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng chủ yếu các phương
pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Phương pháp so sánh - đối chiếu
- Phương pháp điều tra, khảo sát.
Ngoài ra, chúng tôi còn vận dụng kết hợp một số phương pháp khác.
4
II.
NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm
- Trong chương trình sách giáo khoa mới, ở môn ngữ Văn: phần Đọc hiểu
văn bản là phần quan trọng nhất không chỉ quyết định đến việc đánh giá kết quả
học tập bộ môn mà còn góp phần không nhỏ vào việc giáo dục nhân cách cho học
sinh. Từ đó ta có thể rút ra kết luận về vai trò, tác dụng của hệ thống câu hỏi
trong dạy đọc hiểu văn bản như sau:
- Câu hỏi có vai trò đặc biệt quan trọng ảnh hưởng đến sự thành công của
các tiết học. Nó làm thức tỉnh trí tò mò của học sinh, kích thích việc tư duy ở
tiếp nhận; Đặt ra yêu cầu hoặc nhiệm vụ; Đòi hỏi sự đáp ứng hoặc trả lời. Các
nhà giáo người Pháp lại quan niệm: Hệ thống câu hỏi không đơn thuần là một
loại câu hỏi được hỏi nhiều lần mà hệ thống câu hỏi gồm nhiều loại câu hỏi được
thiết kế theo một mạch lô gíc được nêu ra đúng lúc, câu nọ khởi nguồn cho câu
kia và được đan xen một cách nhịp nhàng. Trên cơ sở đó, mỗi giáo viên cần nhận
thức được rằng hệ thống câu hỏi là một phương tiện đắc lực góp phần tạo cho
việc vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học bộ môn một cách tốt nhất.
2.2. Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
- Phân tích tác phẩm văn chương là một nội dung quan trọng trong
chương trình THPT. Tuy nhiên có một thực tại khá phổ biến hiện nay ở các
trường phổ thông là học sinh thường phân tích một cách sơ lược, chung chung.
Các tác phẩm văn chương thường được giải nghĩa lại theo cách của mình thậm
chí là diễn nôm thơ văn. Việc phân tích nghệ thuật chỉ được chú ý một cách
chiếu lệ. Trong khi đó giá trị của một tác phẩm tập trung nhiều ở phương diện
này. Hệ thống câu hỏi khơi gợi nghệ thuật còn ít.
- Học sinh nhàm chán và rất ngại học môn ngữ văn bởi giờ học tẻ nhạt
khô khan, không kích thích được sự tìm tòi khám phá.
- Học sinh không say mê với những giờ học dẫn đến môn văn dần dần mất
đi vai trò độc tôn của nó. Vì thế để cho giờ văn không bị rơi vào tẻ nhạt nhàm
chán thì chúng ta cần thay đổi hệ thống câu hỏi và cách thức thực hiện khi lên
6
lớp. Cụ thể nên đặt câu hỏi một cách đa dạng để khơi gợi khám phá của học
sinh. Sử dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy.
2.3. Các giải pháp thực hiện để giải quyết vấn đề
Như chúng ta đã biết việc thiết kế một hệ thống câu hỏi khoa học phù hợp
với nội dung giờ dạy đọc hiểu văn bản và vừa sức với trình độ học sinh là điều rất
quan trọng và cần thiết đòi hỏi người giáo viên phải đặc biệt quan tâm đến những
trạng bên trong của Kiều? Biện pháp nghệ thuật nào được sử dụng trong đoạn
thơ trên?
2.3.1.2. Câu hỏi tưởng tượng
Là loại câu hỏi từ những dữ kiện vốn có hoặc lấy sự tương đồng để học
sinh hình thành ra cái mới. Loại câu hỏi này chia làm 2 loại nhỏ: Tưởng tượng tái
tạo (là tả lại bằng cảm nhận của học sinh); Tưởng tượng sáng tạo (tả lại theo lối
hình dung riêng). Kiểu câu hỏi này thường biểu hiện như sau: Qua các chi tiết,
hình ảnh hoặc cử chỉ hãy hình dung ra hoàn cảnh đó như thế nào? Ví dụ khi dạy
đoạn trích (Trao duyên – “Truyện Kiều” Nguyễn Du) GV có thể hỏi: Qua các chi
tiết, hình ảnh, từ ngữ trong đoạn trích em hãy tưởng tượng ra khung cảnh Thúy
Kiều trao duyên cho Thúy Vân là gì? Hoặc: Em hãy hình dung và tả lại cảm nhận
của mình về tâm trạng của Thúy Kiều sau khi trao duyên cho Thúy Vân? Vì sao
sau khi trao duyên cho em Thúy Kiều lại nghĩ đến chàng Kim?
2.3.1.3. Câu hỏi nêu vấn đề
Là loại câu hỏi mà qua đó học sinh được tham gia tích cực vào quá trình
giải quyết vấn đề tiềm ẩn trong tác phẩm. Loại câu hỏi này có dạng: Theo em,
nếu sự việc, hiện tượng ấy xảy ra (…) hoặc không xảy ra (…) Thì chuyện gì sẽ
đến? Hoặc; Theo em tại sao lại thế này mà không phải thế khác?
Ví dụ khi dạy đoạn trích (Trao duy ên – “Truyện Kiều” Nguyễn Du) Gv có
thể hỏi: Em hãy thử thay thế các từ “cậy” bằng “nhờ” thay từ “chịu” bằng từ
“nhận” thì hiệu quả của lời nói có đạt nh ư ban đầu không? Vì sao? Hoặc: Vì sao
khi miêu tả tâm trạng của Kiều khi trao duyên, trao kỉ vật lại tưởng tượng ra cảnh
mình “thác oan”? Việc tưởng tượng như vậy góp phần khắc họa tâm trạng gì của
8
Thúy Kiều?,…
2.3.1.4 Câu hỏi cảm xúc
Là loại câu hỏi xuất phát từ trực cảm của học sinh có tác dụng khơi gợi
những rung động của các em về một hiện tượng nào đó trong tác phẩm . Điều đó
học sinh, vừa góp phần nâng cao chất lượng giáo dục bộ môn.
2.3.2. Vận dụng hệ thống câu hỏi hết hợp với công nghệ thông tin
2.3.2.1 Xác định mục tiêu, chuẩn bị tư liệu
Trước khi, soạn giảng bài học này, cũng như đối với tất cả các bài học khác
trong chương trình. Tôi luôn luôn đọc kỹ sách giáo khoa, sách giáo viên, hướng
dẫn thực hiện chuẩn kiến thức kĩ năng Ngữ Văn lớp 10, cùng với tất cả các tài
liệu tham khảo có liên quan để nắm vững kiến thức, xác định chính xác mục tiêu
của bài học. Trong bài giảng này chúng tôi còn đưa thêm một số tư liệu bên
ngoài, cùng với các ngữ liệu sẵn có trong sách giáo khoa góp phần giúp học sinh
củng cố và khắc sâu kiến thức. Bài giảng về Truyện Kiều và các đoạn trích được
soạn thảo trên phần mềm Power Point, tôi đã khai thác kiến thức từ kho tư liệu
khổng lồ trên mạng Internet, sử dụng bằng máy chiếu thông thường và máy chiếu
hắt, để trình chiếu những nội dung quan trọng của bài học và nội dung phần thảo
luận của các nhóm học sinh.
2.3.2.2. Soạn thảo giáo án điện tử
Sau khi chuẩn bị đầy đủ các tư liệu cần thiết, tôi phác thảo một giáo án
theo cấu trúc của giáo án dạy học tích cực nhằm dự kiến cách thức tổ chức giờ
học trước khi triển khai với giáo án điện tử. Tôi soạn trước phần tiết
dạy trên
Microsoft Word. Rồi từ giáo án đó tôi lại tiến hành chuyển sang soạn và trình
chiếu trên phần mềm Power Point. Ở các bài Truyện Kiều và các đoạn trích
chúng tôi khai thác tối đa hiệu quả trình chiếu của máy móc và các trang thiết bị
hiện đại khác, vừa hạn chế tối đa việc ghi bảng. lại vừa tăng thời gian thảo luận
nội dung bài học. Những kiến thức chi tiết trong bài học cần trình chiếu lên máy
cho học sinh quan sát và ghi chép đã được tính toán chắt lọc đến mức cao nhất.
Tuy nhiên, không phải chữ nào có ở trên màn chiếu học sinh cũng phải ghi chép.
10
Hướng dẫn học sinh đọc và hiểu phần tiểu dẫn trong đoạn trích trao duyên.
Để giúp các em có cái nhìn tổng thể giáo viên có thể đặt ra những câu hỏi thuộc
các dạng phát hiện, nêu vấn đề, nêu quan điểm, nhưng nhờ vào công nghệ thông
tin giáo viên có thể đưa ra những slide rồi kết hợp với những hệ thống câu hỏi để
tránh sự nhàm chán cho học sinh.
Bước 2. Hướng dẫn kĩ năng phân tích phần đọc hiểu văn bản:
Khi dạy phần đọc hiểu văn bản yêu cầu quan trọng nhất là giúp học sinh
tiếp cận văn bản một cách tự nhiên nhất, đây là yêu cầu tối quan trọng mỗi khi
tiến hành tiết dạy đọc hiểu văn bản. Muốn vậy Gv ngoài việc chủ động tạo ra
không khí phù hợp với nội dung bài học thì còn cần phải xây dựng hệ thống câu
hỏi vừa sức, sáng tạo, gay cấn để khơi gợi sự tò mò của học sinh. Ví dụ khi dạy
đoạn Trao duyên” Gv có thể dẫn dắt: Câu chuyện tình duyên – chồng vợ là một
câu chuyện vô cùng kín đáo và tế nhị bởi duyên ai người ấy hưởng, tình ai người
ấy nhận! Vậy mà trong Truyện Kiều của Nguyễn Du lại có chuyện duyên tình
của chị lại được trao gửi cho em. Vậy câu chuyện trao duyên ấy có đặc sắc như
truyện Chí Phèo - Thị Nở của Nam Cao ly kì hấp dẫn lãng mạn như chuyện tình
của Romeo và Juliet không? Để làm rõ vấn đề chúng ta cùng đi vào tìm hiểu đoạn
trích “Trao duyên”. Hoặc khi thảo luận nhóm trong lúc dạy mục II Tâm trạng của
Kiều sau khi trao duyên: Gv chia lớp làm 4 nhóm tập trung thảo luận 2 vấn đề
lớn (tâm trạng, ngôn ngữ cử chỉ hành động của Kiều đối với chính Kiều và của
Kiều đối với Kim Trọng khi đang ngồi trước mặt Thúy Vân. Đây quả là một vấn
đề khó đối với phần đông hs lớp 10, đặc biệt là đối với đối tượng hs dân tộc thiểu
số thì lại càng nan giải hơn. Bởi vậy khi thiết kế hệ thống câu hỏi cho bài giảng
này tôi đã chủ động vận dụng linh hoạt hệ thống 5 dạng câu hỏi nêu trên. Đồng
thời khi thể hiện trên giáo án Power Point thể hiện ở Slides 19, 20 và 21.Tôi đã
cụ thể hóa các dạng câu hỏi cho bốn nhóm học sinh thảo luận trong 3 phút và ghi
kết quả ra giấy bóng kính để trình chiếu bằng máy chiếu hắt; Như: Trao duyên
xong Kiều có dự cảm gì về thân phận? Hãy tìm những từ ngữ cho thấy Kiều đã
các em chuẩn bị thật tốt cho tiết học. Ngoài việc các em phải đọc kỹ bài học, trả
13
lời hệ thống câu hỏi hướng dẫn học bài, làm các bài tập luyện tập trong sách
giáo khoa, hoặc thầy, cô đưa thêm nên hướng dẫn các em về xem lại kiến thức lí
thuyết ở lớp dưới, tìm thêm các ví dụ trong các văn bản đọc hiểu.
Khi soạn giáo án, các thầy cô nên chú trọng đến tính thực tế trong những
ví dụ, trong các bài tập sao cho vừa gần gũi với học sinh, vừa đảm bảo tính “đồng
dạng” về “chất” và “đồng đẳng” ở việc liên môn, liên nghành mới giúp các em
lĩnh hội được các vấn đề mà tác giả đề ra trong tác phẩm, mà sách giáo khoa đưa
ra. Đồng thời cũng cần linh động thực hiện cách chia nhóm để học sinh thực
hành, liên tục điều chỉnh các nhóm khi cần thiết Gv nên chủ động giao việc cho
những hs có khả năng cảm thụ tốt soạn thảo hệ thống câu hỏi về vấn đề gv đưa ra
khiến cho tất cả các học sinh đều làm việc, tránh tình trạng độc giảng, nặng nề,
ít hiệu quả và gây nhàm chán.
Trước khi lên lớp, giáo viên cần dự tính trước và cố gắng tinh gọn lượng
kiến thức cần trình chiếu lên máy, tránh trường hợp lượng câu chữ trên máy quá
dài dòng khiến học sinh quá chú tâm ghi chép mà không kịp theo dõi lời giáo
viên giảng giải hay ý kiến của các bạn. Và sẽ rất sai lầm nếu như ai đó lạm dụng
máy chiếu để phô bày hết những tư liệu mà mình tìm được về bài học. Trong vốn
tư liệu mình có, giáo viên cần chọn lọc những tư liệu cơ bản nhất, không nên đưa
ra nhiều tranh ảnh hay đoạn phim làm phân tán sự chú ý của học sinh. Khi soạn
bài, cần chú ý hệ thống đề mục, ý lớn, ý nhỏ phải thống nhất với nhau về cỡ chữ,
màu chữ và hiệu ứng trình chiếu để tạo tính mạch lạc, logíc cho bài và học sinh
tiện theo dõi. Khi sử dụng các phầm mềm thiết kế giáo án điện tử phải thận
trọng, cân nhắc để lựa chọn các hiệu ứng phù hợp về màu sắc, kiểu chữ, cỡ chữ,
cách chạy chữ, thiết kế màn hình, âm thanh phải phù hợp. Tuy nhiên, cần chú ý
không làm cho học sinh vì quá chú ý vào sự “trình diễn” của câu chữ mà mất tập
trung, lãng phí thời gian. Số lượng slide không nên quá ít hoặc quá nhiều (ví dụ
trang được thiết kế đẹp hơn, đặc biệt nhiều em muốn được tham gia các trò chơi
liên quan đến bài học. Đây chính là những gợi ý quý báu cho bản thân tôi và các
15
đồng nghiệp trong quá trình thực hiện ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
2.4.1. Kết quả vận dụng của bản thân
Thứ nhất: Năng lực nhận xét, đánh giá bài văn của học sinh có tiến bộ rõ
rệt sau khi chúng tôi yêu cầu các em thực hiện việc đánh giá, nhận xét bài văn
trên phiếu.
Thứ hai: Học sinh khá hào hứng khi tham gia thực hiện hoạt động nhận
xét đánh giá bài văn của mình và của bạn trên lớp.
Thứ ba: Quan hệ thầy - trò, trò - trò dân chủ hơn.
Thứ tư: Học sinh có sự nỗ lực hơn trong việc rèn luyện chữ viết, cách
dùng từ, đặt câu, có ý thức giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.
Thứ năm: Thông qua phiếu tự nhận xét đánh giá bài văn của học sinh, cả
học sinh lẫn giáo viên đều đánh giá được quá trình học tập, mức độ tiến bộ trong
học tập, rèn luyện của người học.
Thứ sáu: Trong các giờ trả bài ở trên lớp, học sinh được thực hành, được nói,
được trao đổi với bạn bè nhiều hơn so với các giờ trả bài truyền thống. Cho nên,
tính tích cực, tự giác, chủ động, sự sáng tạo của người học được phát huy cao độ.
- Sau 4 tiết dạy thể nghiệm ở các lớp 10A3, 10A6, và tiến hành kiểm tra
khảo sát bằng 2 bài kiểm tra ngắn, tôi thu được một số kết quả như sau:
Bảng 1: Kết quả với lớp học không vận dụng SKKN
Tên Lớp Tổng
bài
số HS
Trao 10A3 47
Tên
Lớp
Tổng
bài
số HS
Trao 10A6 50
Giỏi
Khá
SL
%
SL
%
20
40.0
27
54.0
làm văn của học sinh, giúp cho tiến trình nhận xét, đánh giá thuận lợi, nhanh chóng.
- Sử dụng phần mềm dạy học như Powpoint hoặc Lecture Macker để chụp
và trình chiếu những đoạn văn, bài văn hay hoặc đoạn văn, bài văn còn mắc lỗi của
học sinh để các em có thể thực hiện tốt hoạt động đánh giá, nhận xét, rút kinh
nghiệm.
17
III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1 Kết luận
Từ thực tế những kết quả thu được, chúng tôi tin tưởng rằng tổ chức dạy
học các dạng bài thiết kế hệ thống câu hỏi Đọc đoạn trích Trao duyên bằng công
nghệ thông tin là hoàn toàn khả thi và hiệu quả, thực sự góp phần nâng cao chất
lượng hiệu quả trong dạy học Ngữ văn 10. Tại trường THPT Nguyễn Xuân
Nguyên - huyện Quảng Xương. Với phạm vi nghiên cứu của đề tài này, những
kết quả thu được mang tính chất khẳng định tính khả thi của đề tài và khích lệ
động viên tác giả tiếp tục thực nghiệm và nghiên cứu sâu hơn trong thời gian tới
tại đơn vị mình. Tuy nhiên, những gì chúng tôi đạt được ở đây cũng chỉ là kết quả
thực nghiệm bước đầu, chưa phải là kết quả cuối cùng để đi đến một kết luận
khoa học – hi vọng các đề tài nghiên cứu rộng và sâu hơn của các bạn đồng
nghiệp và của các nhà giáo dục sẽ tìm hiểu kĩ và sâu hơn về vấn đề này.
Những thể nghiệm của bản thân tôi trong 4 tiết dạy này thực sự mới chỉ là
bước khai phá ban đầu trong một công việc còn mới mẻ và lí thú. Trong bài dạy
này, việc sử dụng vào dạy học mới chỉ dừng lại ở sự chuẩn bị của giáo viên, chưa
phát huy được năng lực về công nghệ thông tin của học sinh. Hơn nữa, đối tượng
học sinh tại trường huyện quá ít, mặt bằng đầu vào lại thấp. Do vậy, sự tích cực
chủ động của học sinh chưa được khai thác tối đa. Mặt khác, do hạn chế về thời
gian và khả năng sử dụng các phần mềm soạn giáo án điện tử nên có những ý
tưởng mà người soạn còn chưa thực hiện được. Để nâng cao hiệu quả của giờ học
Xác nhận của thủ trưởng đơn vị
Người thực hiện
Nguyễn Thị Đức
19
20