KL triết lý cải cách của nguyễn trường tộ và ý nghĩa của nó dối với sự nghiệp đổi mới ở việt nam - Pdf 43

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU...............................................................................................................
1. Tính cấp thiết của đề tài.....................................................................................
2. Lịch sử nghiên cứu của đề tài............................................................................
3. Mục đích, đối tượng và nhiệm vụ của đề tài.....................................................
4. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu .....................................
5. Đóng góp của đề tài...........................................................................................
6. Kết cấu của đề tài..............................................................................................
NỘI DUNG...........................................................................................................
CHƯƠNG I: SỰ HÌNH THÀNH TRIẾT LÝ CẢI CÁCH CỦA NGUYỄN
TRƯỜNG TỘ.........................................................................................................
1.1. Vài nét về bối cảnh kinh tê- xã hội của Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX,
đầu thế kỷ XX........................................................................................................
1.2. Nguyễn Trường Tộ: Con người và sự nghiệp.................................................
1.3. Những tiền đề lý luận đưa đến triết lý cải cách của Nguyễn Trường Tộ
...................................................................................................................13
CHƯƠNG II: NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG TRIẾT LÝ CẢI CÁCH CỦA
NGUYỄN TRƯỜNG TỘ VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP ĐỔI
MỚI Ở VIỆT NAM.........................................................................................
...................................................................................................................16
2.1. Nội dung cơ bản trong triết lý cải cách của Nguyễn Trường Tộ............
...................................................................................................................16
2.1.1 Về công nghiệp.....................................................................................
...................................................................................................................16
2.1.2 Về nông nghiệp.....................................................................................
...................................................................................................................18
2.1.3 Về thương nghiệp.................................................................................
...................................................................................................................19
1


2


KẾT LUẬN...................................................................................................
...................................................................................................................63
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO......................................................
...................................................................................................................66
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Các tư tưởng cải cách trong lịch sử dân tộc đều có những giá trị thời
đại nhất định và do đó, có mối liên hệ biện chứng với sự phát triển của Việt
Nam hiện nay. Công cuộc đổi mới đất nước đã đi được chặng đường 25
năm. Rất nhiều thành tựu về kinh tế, xã hội, văn hoá, giáo dục đạt được sau
khoảng thời gian này đã khẳng định tính đúng đắn của sự nghiệp đổi mới
đất nước. Tuy nhiên, nhiều vấn đề bất cập cũng đã xuất hiện và bộc lộ ngày
càng rõ nét, gây cản trở quá trình phát triển đất nước theo mục tiêu dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Thực tiễn ấy đòi hỏi các
nhà lý luận cần có những nghiên cứu tổng kết, đánh giá khách quan nhằm,
một mặt, khắc phục, điều chỉnh những bất cập nảy sinh trong quá trình tiến
hành công cuộc đổi mới; mặt khác, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện triết lý
phát triển của Việt Nam trong thời đại mới.
Trong quá trình xây dựng triết lý phát triển hiện nay ở nước ta, việc
nghiên cứu các giá trị tư tưởng cải cách trong lịch sử dân tộc, xem xét
những kết quả và bài học kinh nghiệm từ quá khứ nhằm tìm ra những hạt
nhân hợp lý là một điều không thể bỏ qua, bởi giữa truyền thống và hiện đại
luôn có mối quan hệ biện chứng với nhau. Trong các tư tưởng cải cách đó,
rất đáng kể là tư tưởng cải cách của Nguyễn Trường Tộ.
Từ khi nhà tư tưởng cải cách xuất sắc Nguyễn Trường Tộ qua đời cho
đến nay đã trải qua 140 năm. Đó là một thời gian đủ dài để có thể đưa ra
một sự đánh giá đầy đủ và khách quan về tư tưởng cải cách của ông, cũng

Tiêu biểu trong số đó phải kể đến “ Nguyễn Trường Tộ - con người
và di thảo” của tác giả Trương Bá Cần biên soạn. Cuốn sách đã góp phần
4


hình thành một “ chân dung” Nguyễn Trường Tộ tương đối trọn vẹn. Tác giả
Trương Bá Cần đã tập hợp được tương đối đầy đủ những “ di thảo”, những “
tư liệu thành văn” của Nguyễn Trường Tộ. Toàn tập “di thảo” này cũng
chính là toàn bộ cuộc đời và tư tưởng của Nguyễn Trường Tộ được lưu giữ
lại cho chúng ta và cho con cháu mai sau.
Ngoài ra, phải kể đến “Nguyễn Trường Tộ với vấn đề canh tân đất
nước - Kỷ yếu hội thảo khoa học” của Trung tâm nghiên cứu Hán Nôm,
cuốn sách đã tập hợp được khá đầy đủ nhiều bài viết của nhiều tác giả,
nhiều nhà phê bình và nghiên cứu trong nước về các vấn đề, khía cạnh khác
nhau trong tư tưởng canh tân đất nước của Nguyễn Trường Tộ. Đó là các
vấn đề về kinh tế, chính trị, ngoại giao, quân sự hay dưới góc nhìn của tư
duy triết học….
Và còn nhiều công trình khác viết về Nguyễn Trường Tộ như “Phê
bình tác phẩm Nguyễn Trường Tộ” của Từ Ngọc Nguyễn Lân và Nguyễn
Hữu Năng; “Những đề nghị cải cách của Nguyễn Trường Tộ cuối thế kỷ
XIX” của tác giả Đặng Duy Vận; “Qúa trình chuyển biến tư tưởng chính trị
của Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX: Qua các nhân vật tiêu biểu”
của tác giả Doãn Chính cũng đã đóng góp một cách khá đầy đủ và có hệ
thống về Nguyễn Trường Tộ cũng như tư tưởng cải cách đất nước của ông.
Những công trình nghiên cứu trên đây đã cung cấp nguồn tư liệu quý
giá để tác giả khóa luận nghiên cứu thực hiện đề tài.
3. Mục đích, đối tượng và nhiệm vụ của đề tài
- Mục đích của đề tài: Góp phần nghiên cứu một cách đầy đủ và có
hệ thống về triết lý cải cách của Nguyễn Trường Tộ và những ý nghĩa lịch
sử của nó.

Đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho những người quan tâm
đến tư tưởng cải cách của Nguyễn Trường Tộ và sự vận dụng trong công
cuộc đổi mới ở Việt Nam.
6. Kết cấu của đề tài
Ngoài Mục lục, Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, khóa luận
gồm có 2 chương và 5 tiết.
6


NỘI DUNG
CHƯƠNG I
SỰ HÌNH THÀNH TRIẾT LÝ CẢI CÁCH CỦA NGUYỄN TRƯỜNG TỘ
1.1. Vài nét về bối cảnh kinh tế - xã hội của Việt Nam vào cuối thế kỷ
XIX, đầu thế kỷ XX
Nhà Tây Sơn được thành lập là kết quả của cuộc vận động rộng lớn
của hàng triệu nông dân lật đổ các tập đoàn phong kiến thối nát trong nước
và chiến thắng bọn xâm lược bên ngoài. Nhưng tập đoàn phong kiến phản
động nhất đứng đầu là Nguyễn Ánh đã dựa vào thế lực của tư bản Pháp
đánh đổ nhà Tây Sơn, trở lại nắm chính quyền và phục hồi chế độ phong
kiến phản động. Sự khôi phục của nhà Nguyễn đã khiến xã hội phong kiến
nước ta sau ba trăm năm loạn lạc và nội chiến liên miên bị tiêu điều xơ xác
lại càng thêm khủng hoảng trầm trọng. Nông nghiệp đình đốn, công thương nghiệp bị kim hãm không phát triển được, do đó các tầng lớp nhân
dân đều bất bình với nhà Nguyễn. Những cuộc khởi nghĩa nông dân cũng đã
nổ ra ngay từ thời Gia Long. Đã thế, những người kế vị Gia Long như Minh
Mạng, Thiệu Trị lại theo nhau lao vào những cuộc chiến tranh xâm lược
Căm-pu-chia, Lào làm tổn hại không biết bao nhiêu nhân lực và tài lực của
nước ta. Do đó, các cuộc đấu tranh của nông dân lại nổ ra gay gắt không
những ở miền xuôi mà cả ở miền ngược, cả miền Bắc lẫn ở miền Nam. Theo
sự ghi chép của chính sử triều Nguyễn thì riêng thời Minh Mạng đã có tới
234 cuộc khởi nghĩa, thời Thiệu Trị có tới 58 cuộc. Đến đời Tự Đức thì sự

lối chủ hòa của triều đình, tức là phải chống giặc, đồng thời chống cả cánh
phong kiến đầu hàng.
Về đối nội, mặc dù bọn xâm lược đang mở rộng tấn công và nguy cơ
mất nước đã rõ ràng nhưng triều đình vẫn đi sâu vào con đường lụi bại. Đối
với dân Pháp chũng tỏ ra hèn yếu bao nhiêu thì về đối với việc trị nước yên
dân chúng lại hết sức phản động.

8


Về nông nghiệp, chúng đã bỏ bê trễ, không chăm sóc. Việc bảo vệ đê
điều, khơi sông đào kênh làm được rất ít, cho nên đê vỡ, hạn hán, lụt lội,
mất mùa quanh năm.
Công - thương nghiệp cũng bị đình đốn nghiêm trọng. Đầu thời
Nguyễn đã có tới 124 mỏ được khai, đến đời Tự Đức chỉ còn 54 mỏ, nhưng
số mỏ thu được thuế lại rất ít.
Về ngoại thương, nhà nước cũng độc quyền, nhưng đến bấy giờ,
phương tiện vận tải không còn nữa, phải nhờ vào Chiêu thương cục của
thương nhân Trung Quốc. Thương nghiệp trong nước cũng rất tiêu điều, đến
đời Tự Đức chỉ còn 21 sở quan tân, trước kia là 69 sở. Không những thế, do
nền tài chính của nhà nước phong kiến kiệt quệ cho nên công -thương
nghiệp ngày càng lệ thuộc vào thương nhân ngoại quốc. Thuế mỏ, thuế quan
tân và các nguồn lợi khác đều cho thương nhân Hoa kiều trưng thầu.
Tình hình kinh tế suy đốn như vậy, cho nên nền tài chính của nhà
nước cũng bị khốn quẫn. Ngay từ khi Tự Đức lên ngôi, Trương Quốc Dụng
đã tâu: “Tài lực của nhân dân không bằng 5,6 phần 10 năm trước”[5;57].
Năm 1860 Nguyễn Tri Phương than: “Quân và dân của đã hết sức
yếu”[5;57]. Dưới triều Nguyễn, thời Gia Long, Minh Mạng, nhà nước còn
đúc được tiền, nhưng đến thời Tự Đức nhà nước không đúc được tiền nữa
nên tiền đồng, tiền kẽm rất ít, phải nhờ thương nhân Trung Hoa đúc một

nhượng quyền lợi cho thực dân Pháp để rảnh tay đàn áp phong trào nhân
dân khởi nghĩa và vung tiền vào những cuộc chơi xa hoa lãng phí. Do đó,
càng làm tăng lòng căm hận của nhân dân, phong trào đấu tranh của quần
chúng càng lên mạnh khiến chúng không còn đủ sức để đàn áp nữa phải nhờ
vào quân đội nhà Thanh, quân đội Lưu Vĩnh Phúc và thậm chí cả quân đội
Pháp nữa để đàn áp nông dân khởi nghĩa và đánh dẹp thổ phỉ.
Trước sự xâm lược ngày càng trắng trợn của thực dân Pháp và sự lụn
bại của triều đình Huế ngày càng trầm trọng, hàng ngũ của giai cấp phong
kiến cũng ngày càng phân hóa sâu sắc. Trong lúc triều đình Huế đi vào con
đường chủ hòa, khuất phục, nhượng bộ Pháp và đàn áp nông dân khởi nghĩa
thì một số sĩ phu đứng về phía nhân dân, kiên quyết chống Pháp. Những
10


người sĩ phu này xuất phát từ lòng thiết tha yêu nước, muốn bảo vệ nền tự
chủ của nước nhà nhưng đồng thời cũng muốn bảo vệ ý thức hệ phong kiến,
bảo vệ nền văn hiến ngàn xưa. Họ chống Pháp là muốn bảo vệ nhà cửa
ruộng vườn, bảo vệ nhân dân nhưng họ thấy giữa họ và những người Tây
phương là khác loài và nền văn minh của địch là “man rợ”. Vì vậy đối với
họ, chỉ có một con đường là chống Pháp dù bằng bất cứ giá nào và không
thể có con đường hòa hoãn.
Bên cạnh xu hướng trên đây còn có một xu hướng muốn hòa với địch
để duy tân đất nước. Nói chung xu hướng này cho rằng nước ta trong điều
kiện bấy giờ không thể chống lại được chủ nghĩa tư bản phương Tây nếu
không duy tân đất nước. Những người sĩ phu này cũng xuất phát từ lòng
thiết tha yêu nước và rất mực trung quân nhưng họ hoặc là người công giáo,
hoặc được đi ra nước ngoài chịu ảnh hưởng của nền văn minh phương Tây
nên con đường đi của họ có khác với những người sĩ phu kháng Pháp. Họ
chủ trương hòa với Pháp vì muốn triều đình phải mở rộng ngoại giao với
các nước, phải phát triển công thương nghiệp để dân giàu, nước mạnh. Xu

tìm đến chân lý. Lúc nào ông cũng có một cuốn sách nhỏ bên mình mỗi khi
suy tư điều gì, trông thấy điều gì đều ghi chép vào đó.
Năm 1858 (tức năm Tự Đức thứ 11) nhà thờ Tân Ấp mời ông làm
giáo sư dạy chữ Hán. Giám mục Gauthier(Ngô Gia Hậu) phục ông là người
thông minh lanh lợi bèn dạy ông học tiếng Pháp, chữ Pháp và một vài môn
khoa học phổ thông. Trong hai năm sức học tiến bộ rất nhiều.
Năm 1860 (tức năm Tự Đức thứ 13) vì có lệnh cấm dân theo đạo,
Ngô Gia Hậu bèn đem ông đi Pháp, khi đi ngang qua Ý có đến yết kiến
Giáo Hoàng La Mã, rồi đến Ba Lê lưu học. Trong vòng mấy năm, ông thu
hoạch được rất nhiều, ngoài ra còn dùng thì giờ khảo cứu thêm chính trị,
học thuật và kỹ nghệ nước Pháp. Sau đó ông lại về nước. Thuyền đến
Hương Cảng, ông được gặp một giám mục người Anh. Hai bên ý tình khá
hợp. Giám mục lưu ông ở lại mấy tháng, lúc chia tay giám mục tặng ông
mấy trăm bộ sách nhưng trên đường về bị cướp biển cướp mất, chỉ còn lại
một vài quyển sách chữ Hán, bấy giờ ông đã 33 tuổi.
12


Năm 1861, Nguyễn Trường Tộ trở về Tổ Quốc, phải cập bến Sài Gòn,
khi tỉnh thành Gia Định đã bị quân viễn chinh Pháp và Tây Ban Nha chiếm
đóng.
Gần ba năm sống trong lòng địch, Nguyễn Trường Tộ bất đắc dĩ phải
làm việc với quân Pháp, phiên dịch các công hàm trao đổi giữa triều đình
Huế với Soái thủ Pháp ở Gia Định. Nhiều lần ông sửa bớt chữ nghĩa trong
các công hàm của hai bên, tránh những lời lẽ quá khích, xúc phạm tới triều
đình hoặc phương hại cho việc “tạm hòa”. Nhiều lần ông tìm cách thông báo
cho các sứ thần của triều đình như Nguyễn Bá Nghi, Phan Thanh Giản,
Phạm Phú Thứ một số âm mưu quỷ kế của giặc Pháp.
Năm 1863, Nguyễn Trường Tộ tìm cách thoát ra khỏi khu vực chiếm
đóng của quân Pháp, liên hệ được với triều đình Huế. Từ đây cho đến cuối

Ông chỉ ra những mâu thuẫn giữa Pháp với Anh và Tây Ban Nha và khuyên
triều đình nên chủ động mở rộng bang giao với nhiều nước, nhất là với nước
Anh để chế ngự bớt tham vọng và khả năng xâm lược của Pháp. Khi nước
Pháp có sự biến lớn năm 1870 – 1871, vua Napoléon III mất ngôi, chế độ
cộng hòa Pháp phục hồi, Nguyễn Trường Tộ nêu một loạt kiến nghị, hướng
dẫn triều đình xúc tiến ngoại giao trực tiếp với chính phủ Pháp, khéo léo đối
phó, ngăn chặn bọn chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Soái phủ Sài Gòn,
nhằm tìm cách thu hồi lại sáu tỉnh đã bị chiếm.
Về mặt quân sự, Nguyễn Trường Tộ tuy là một người “chủ hòa”,
nhưng không có tư tưởng “chủ hàng”, hoặc hòa bình vô nguyên tắc. Năm
1867, ông khuyên triều đình “ra sức cải tu võ bị”[1;263], đề phòng quân
Pháp từ Nam Kỳ đánh lan ra cả nước. Ông là người đầu tiên nêu lên một
chính sách quân sự có hệ thống như: trọng võ ngang trọng văn, quý trọng
người lính, ưu đãi sĩ quan, biên soạn lý luận binh pháp, đào tạo cán bộ chỉ
huy, tạo dựng một quốc thể về mặt binh bị, chuẩn bị điều kiện tác chiến
trong thành phố, tìm cách dùng người trong vùng bị địch chiếm...
Ngoài những bản điều trần tạo nên một công trình trí tuệ vĩ đại vô giá,
Nguyễn Trường Tộ còn để lại một số hoạt động thực tiễn xuất sắc như: Năm
1862 - 1863, ông thiết kế xây dựng tòa nhà nguyện của dòng tu nữ Sài Gòn.
14


Năm 1864 - 1866, ông thiết kế xây dựng bốn ngôi nhà trong giáo khu Xã
Đoài. Mấy công trình này của ông thuộc về những công trình kiến trúc đầu
tiên theo kiểu châu Âu ở Việt Nam giữa thế kỷ XIX. Cũng giữa những năm
60 thế kỷ XIX, khi hoạt động ở quê nhà, ông đã giúp Tổng đốc Nghệ An
Hoàng Tá Viêm đào Kênh Sắt, một công trình xưa kia Cao Biến rồi Hồ Qúy
Ly dự định làm mà không làm nổi. Ngoài ra, ông còn vận động dân chúng ở
Xuân Mỹ, quê hương bên nhà vợ ông, cùng nhau dời làng từ trong núi rừng
đầy lam chướng ra nơi thoáng đãng, thuận lợi canh tác.

vào chỗ nào được. Tuy nhiên, Nguyễn Trường Tộ không đậu đạt gì, một
phần có lẽ vì ông là người Công giáo nên không được đi thi, một phần có lẽ
vì ông không muốn đi theo con đường khoa cử.
Như vậy, có thể nói vốn liếng kiến thức về Hán học và những hiểu
biết về lịch sử cũng như luật lệ Đông phương là rất lớn, là cơ sở, những tiền
đề lý luận đầu tiên có ảnh hưởng đến hệ thống tư tưởng của Nguyễn Trường
Tộ sau này.
1.3.2 Ảnh hưởng từ văn hóa phương Tây
Sau khi thôi học chữ Hán, Nguyễn Trường Tộ đã có mở trường dạy
học chữ Hán trong nhà chung Xã Đoài và được giám mục người Pháp tên là
Gauthier (Ngô Gia Hậu), dạy cho học tiếng Pháp và giúp cho có một số hiểu
biết về các khoa học thường thức của Tây phương.
Trong một bài viết tháng 5 năm Tự Đức thứ 17 (tức khoảng tháng 61864), Nguyễn Trường Tộ nói: “Từ 15 năm nay, tôi đã biết rõ tất phải có
mối lo như ngày nay, nên tôi đã ra sức tìm tòi, học hỏi trí khôn của mọi
người để thêm sự hiểu biết cho mình, chứ không phải chỉ mới một
ngày”[1;26].
Như thế có nghĩa là, Nguyễn Trường Tộ đã bắt đầu tiếp xúc với văn
hóa Tây phương từ những năm 1848 – 1849 (theo như bài viết tháng 6 –
1864) và có thể đã đi ra nước ngoài từ những năm 1848 – 1849 hay chỉ từ
1859 – 1861.
Đào Duy Anh, một trong những người được tiếp xúc nhiều với các tài
liệu đầu tay về Nguyễn Trường Tộ, quả quyết rằng: “Mặc dầu là người
16


Công giáo từ lúc sinh ra, tâm hồn tiên sinh đã bị lay động mạnh bởi tiếng
bom nổ ở Đà Nẵng năm 1848 và, từ lúc đó, người thanh niên 20 tuổi ấy
quyết từ bỏ lối học cổ truyền để di theo lối học thực dụng. Tiên sinh đã được
giám mục Gauthier, giáo phận Xã Đoài, dạy cho tiếng Pháp, cung cấp các
bản dịch chữ Hán của các sách Tây phương và cho đi du lịch ở Hồng Kông

với các kế hoạch chi tiết được trình bày trong các bản văn kế tiếp, chúng ta
thấy là Nguyễn Trường Tộ có trong đầu óc cả một chương trình cải cách có
hệ thống và toàn diện. Nghĩa là tất cả những gì cần thiết cho công cuộc hiện
đại hóa đất nước từ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quân sự, ngoại giao...
đều đã được lần lượt đề cập tới như một đòi hỏi của quy luật phát triển hay
như một yêu cầu bức thiết của thời cuộc.
2.1.1 Về công nghiệp
Đối với Nguyễn Trường Tộ cũng như đối với quy luật của lịch sử và
của xã hội, kinh tế là vấn đề hàng đầu. Ông nói: “Tôi thiết nghĩ trong ngũ
phúc, phú đứng đầu, triệu dân trước tiên lo ăn”[1;64]. “Nếu bị cái nghèo đói
thúc bách thì lo kế sống cũng không xong, còn hơi đâu mà bàn lễ
nghĩa”[1;153]. Do đó, Nguyễn Trường Tộ luôn quan tâm trước tiên đến việc
làm cho dân giàu nước mạnh. Bởi vì dân có giàu, nước có mạnh mới cứu
được nước, giữ được nước.
Trong bài “Dụ tài tế cấp bẩm từ”(được viết vào giữa năm 1864), sau
khi trình bày về phương pháp làm súng đạn và khai thác mỏ than là những
điều triều đình hỏi, Nguyễn Trường Tộ đề nghị một kế sách rất đơn giản,
không cần nhiều trang thiết bị và không đòi hỏi kỹ thuật cao, điều mà chúng
ta đang làm ngày nay, đó là tổ chức xuất khẩu nông, lâm, hải và khoáng sản.
Và nông, lâm, hải sản là những nguồn hàng dồi dào và dễ khai thác nhất,
nên Nguyễn Trường Tộ đề nghị nhà nước mua và đóng tàu cũng như khuyến
khích nhân dân mua tàu chở các hàng nông, lâm, hải sản đến cảng các nước
bán, rồi lại mua các thứ hàng hóa trong nước cần dùng đem về.
Về tổ chức hàng hải, thì Nguyễn Trường Tộ có hai văn bản (Di thảo
số 6 và số 7, vào cuối năm 1864 - đầu 1865), trong đó ông đề nghị với triều
18


đình là nên gởi người sang Anh, sang Pháp học về cách điều khiển và sửa
chữa thuyền máy, trước khi mua tàu, bởi vì như thế mình mới chủ động và

2. Đặt ra khoa sơn lợi, để xét khen thưởng cho những ai tìm ra cách
phát hiện và khai thác mỏ, tìm ra phương pháp luyện kim, săn bắt thú quý,
lấy được gỗ quý...
3. Đặt ra khoa địa lợi, để khen thưởng cho ai khai khẩn được đất
hoang hóa, đầm lầy hoặc biết trồng trọt có năng suất cao...
4. Đặt ra khoa thủy lợi, để khen thưởng những ai biết đào kênh, đắp
đập, tưới tiêu, chống hạn, chống úng...
Trong “Tế cấp bát điều”, viết ngày 15-11-1867 (Di thảo số 27), khi
nói về cải cách học thuật, môn học đầu tiên được đưa vào chương trình là
khoa nông chính. Khoa nông chính này cũng chính là thu thập kinh nghiệm
của nông dân khắp nơi để soạn ra sách “Nông chính toàn thư” cho nhân dân
học tập. Trong đoạn văn ngắn ngủi về nông nghiệp của “Tế cấp bát điều”,
Nguyễn Trường Tộ cũng đề nghị lập Bộ canh nông như các nước Tây
phương. Bởi vì, ông nói: “Ngành trồng trọt chăn nuôi của nước ta đều phó
mặc tự nhiên, không có quan viên bày vẽ, giáo dục, đốc suất...”[1;74]. Nhất
là trong nhân dân có nhiều tập tục mê tín dị đoan cản trở việc khai hoang
phục hóa, tưới tiêu mà không ai dám chủ xướng cải cách. Quan nông chính
không những phụ trách về nông nghiệp mà còn phụ trách cả về thủy lâm.
Trong “Tế cấp bát điều”(Di thảo số 27) và trong bài “Về nông chính”(Di
thảo số 53) Nguyễn Trường Tộ có nhiều ý kiến về lợi ích của việc trồng cây
gây rừng và bảo vệ muông thú...
Theo ông, vấn đề chủ yếu trong nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp
là phải phổ biến rộng rãi các kiến thức trong nhân dân. Thời Nguyễn Trường
Tộ “Nước ta đối với vấn đề nông nghiệp từ lâu đã phế bỏ không giảng dạy.
Nay bỗng nhiên muốn thi hành, thì trên quan chẳng biết dạy cái gì, còn dưới
dân thì nghĩ rằng cứ mặt trời mọc thì đi làm, mưa xuống thì vác cày ra cày,
đợi gì phải dạy!”[1;78].
2.1.3 Về thương nghiệp

20

Nam bị tắc nghẽn. Nguyễn Trường Tộ đã thấy rất rõ điều đó.
21


Trong cuốn “Tế cấp bát điều” (Di thảo số 27, 15 - 11 - 1867) ông đã
nói rằng: “ Như về việc vận chuyển lương thực, triều đình đã hết sức lo liệu
mà vẫn chưa ổn. Phần nhiều một thạch lương thực đến được kinh đô đã phải
hao hụt dọc đường mất năm sáu đấu. Đó là chưa nói đến nhiều vụ bị chìm
ghe, đánh cướp. Các sản vật cũng vậy. Còn ghe thuyền của dân chìm mỗi
năm không biết bao nhiêu mà kể. Dân nghèo thì nước cũng nghèo. Cái hại
lớn đó đều do đường biển gây ra”[1;83].
Cũng trong cuốn “Tế cấp bát điều”, Nguyễn Trường Tộ đề nghị đào
một con kênh từ Hải Dương đến Huế để tránh tai nạn của đường biển. Ông
hứa là sẽ đảm nhận những chỗ khó đào.
Khoảng tháng 10 năm 1868, sau khi thấy triều đình không xét gì tới
kế hoạch đào kênh của mình, Nguyễn Trường Tộ lại gửi lên triều đình một
văn bản nữa về việc “Tiễu trừ giặc biển”(Di thảo số 38). Trong văn bản này,
Nguyễn Trường Tộ vẫn cho rằng kế hoạch đào kênh là hay nhất. Tuy nhiên
để tiễu trừ giặc biển, ông đề nghị bốn biện pháp:
1. Thương lượng với nguời Pháp ở Sài Gòn để họ cho tàu tuần tiễu
giúp dọn dẹp bọn cướp biển.
2. Đóng tiền cho hội bảo hiểm ở Sài Gòn để họ tiễu trừ giặc biển
3. Mỗi tỉnh mua một, hai thuyền máy để tự mình tiễu trừ giặc biển.
3. Bắt buộc các thuyền buôn của nguời Trung Quốc phải có giấy
thông hành, để tránh nạn thuyền buôn, thuyền giặc lẫn lộn.
2.1.4 Về tài chính
Tài chính của Nhà nước phong kiến, thời Nguyễn Trường Tộ, chủ yếu
nhờ vào thuế (thuế đinh và thuế điền).
Đối với Nguyễn Trường Tộ, thuế là nghĩa vụ của nhân dân đối với
công việc chung của đất nước. Nhưng thuế phải công bằng và hợp lý.

người nghèo, bởi vì “cướp cũng muốn cướp của nhà giàu, trộm cũng muốn
trộm của nhà giàu”[1;116]. Thế mà “trong sổ bộ trên quan một tên cùng
đinh phải đóng thuế bao nhiêu thì trong làng một tên cùng đinh cũng đóng
thuế bấy nhiêu”[1;116]. Về biện pháp thì Nguyễn Trường Tộ “xin chia
những người giàu thành ba hạng, nhà hạng nhất đóng thuế mỗi năm 100
23


quan, nhà hạng nhì 50 quan, hạng ba 20 quan”[1;116]. Như thế, đối với
Nguyễn Trường Tộ, thuế cần được chấn chỉnh, nhưng đó chỉ là một nguồn
thu có giới hạn nhất định mà thôi. Điều cần nhất là phải làm cho của cải
thêm nhiều.
Để có tiền đào thêm kênh cho các thuyền bè qua lại, khỏi đi lòng
vòng tốn kém, ông đề nghị: “Truyền rao cho các nhà giàu xuất tiền cho nhà
nước vay. Trước tiên tùy số tiền cho vay nhiều ít sẽ được ban khen. Sau đó
tiền lời sẽ được trả khi kênh đào xong và cho lập trạm thuế. Mỗi năm, quan
sở tại trả tiền lời cứ một vạn là một trăm quan. Khi nào số tiền lời được gấp
đôi số tiền đã vay thì chấm dứt và không hoàn vốn lại”[1;117].
Ông cũng đề nghị triều đình vay tiền của các công ty nước ngoài để
mua sắm khí giới, lập các nhà máy chế tạo súng đạn và hàng tiêu dùng.
2.1.5 Về chính trị
Nguyễn Trường Tộ không phải là một nhà chính trị, hiểu theo nghĩa
là người có dự án chính trị cần được thực hiện bằng con đường chính quyền.
Đọc các di thảo của Nguyễn Trường Tộ, chúng ta thấy ông chủ trương là
không nhận bất cứ một chức vụ nào trong chính quyền. Nguyễn Trường Tộ
chỉ là một nhà cải cách, nói đúng hơn là một người có những tư tưởng cải
cách và muốn thực hiện những cải cách đó thông qua những người có chức
quyền. Chính vì thế mà ông đã gửi những đề nghị cải cách của ông lên triều
đình Huế và chỉ gởi cho những người có chức có quyền trong Triều đình
Huế.

của Hồng Bảo (1858) và Hồng Tập (1864), luôn luôn sống trong một tâm
trạng sợ sệt; trong đêm 16 rạng 17 tháng 9-1866, quân nổi dậy của Đoàn
Trưng và Đoàn Trực đã vào tới tận cửa Hoàng gia… Nguyễn Trường Tộ
thấy rõ ràng chính tình trạng rối ren lo sợ đó đã làm tê liệt mọi sáng kiến của
triều đình. Ông viết: “Bậc làm vua biết rõ cái thế trường cửu đã có, không
có bụng nghi ngờ kẻ ở dưới: kẻ làm dân biết cái lợi hại của việc trị loạn nên
không có cái chí của việc phạm thượng. Trên dưới tự mình không nghi cũng
không ngờ lẫn nhau. Mọi việc gì đều có phó thác rõ ràng, người nhận lãnh
vui lòng, không có điều gì tối tăm, lo lắng cho nên hễ đi đến chỗ đúng đắn,
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status