ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
––––––––––––––––––––––––
TÔ THỊ HỒNG LIÊN
TỔ CHỨC XÃ HỘI VÀ TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO
CỦA NGƯỜI PÀ THẺN HUYỆN QUANG BÌNH,
TỈNH HÀ GIANG TỪ 1945 ĐẾN NĂM 2013
Chuyên ngành: LỊCH SỬ VIỆT NAM
Mã số: 60.22.03.13
LUẬN VĂN THẠC SĨ NHÂN VĂN
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐÀM THỊ UYÊN
THÁI NGUYÊN - 2017
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
http://www. lrc.tnu.edu.vn/
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tôi, có sự hỗ trợ từ
giáo viên hướng dẫn là PGS.TS Đàm Thị Uyên.Các nội dung nghiên cứu và kết quả
trong đề tài này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình
nghiên cứu nào trước đây.
Thái nguyên, tháng 4 năm 2017
Tác giả
Tô Thị Hồng Liên
ii
http://www. lrc.tnu.edu.vn/
MỤC LỤC
Lời cam đoan .................................................................................................................. i
Lời cảm ơn .....................................................................................................................ii
Mục lục ........................................................................................................................ iii
Danh mục các từ viết tắt ............................................................................................... iv
Danh mục các bảng ........................................................................................................ v
Danh mục các biểu đồ, hình ......................................................................................... vi
MỞ ĐẦU .......................................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài .......................................................................................................1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề .........................................................................................2
3. Mục đích nghiên cứu .................................................................................................4
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .............................................................................5
5. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu ...............................................................5
6. Đóng góp của luận văn ..............................................................................................6
7. Cấu trúc của luận văn.................................................................................................6
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN QUANG BÌNH, TỈNH HÀ GIANG ..........9
1.1. Vị trí địa lý - điều kiện tự nhiên..............................................................................9
1.2. Khái quát lịch sử hành chính huyện Quang Bình .................................................12
1.3. Các thành phần dân tộc và dân tộc Pà Thẻn ở huyện Quang Bình .......................14
1.3.1. Các thành phần dân tộc ......................................................................................14
1.3.2. Dân tộc Pà Thẻn .................................................................................................19
1.4. Khái quát về kinh tế - xã hội của người Pà Thẻn ở huyện Quang Bình ...............22
Chương 2: TỔ CHỨC XÃ HỘI CỦA NGƯỜI PÀ THẺN Ở HUYỆN
QUANG BÌNH, TỈNH HÀ GIANG TỪ NĂM 1945 ĐẾN 2013 ............................29
2.1. Tổ chức làng bản ...................................................................................................29
PHỤ LỤC
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
iv
http://www. lrc.tnu.edu.vn/
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CN
: Công nghiệp
CP
: Chính phủ
DTGT
: Diện tích gieo trồng
NXB
: Nhà xuất bản
PGS
: Phó giáo sư
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
v
http://www. lrc.tnu.edu.vn/
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, HÌNH
Biểu đồ 1.1: Cơ cấu dân tộc huyện Quang Bình .........................................................15
Biểu đồ 1.2: Quy mô dân số người Pà Thẻn từ năm 1979 đến 2009 ...........................21
Hình 2.1: Mô hình nhà ở có kết cấu giá chiêng ở giữa ................................................32
Hình 2.2: Mặt bằng sinh hoạt gia đình bà Sìn Thị Tả, thôn Nậm Xú, xã Tân Bắc .....34
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
vi
http://www. lrc.tnu.edu.vn/
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hà Giang là một tỉnh biên giới miền núi phía Bắc của Việt Nam, đây là địa
điểm cộng cư của nhiều dân tộc anh em: Kinh, Tày, Nùng, H’Mông, Dao, Pà Thẻn,
Pu Péo… Các dân tộc này sinh sống xen kẽ nhau tạo thành một khối đoàn kết thống
nhất mang đến cho Hà Giang một nền văn hoá tộc người đa dạng, đặc sắc.
Trong số các dân tộc cư trú ở Hà Giang thì dân tộc Pà Thẻn chiếm 0,8% dân
số. Đây là một dân tộc có số dân ít và hiện nay chỉ cư trú tập trung chủ yếu ở hai tỉnh:
Hà Giang và Tuyên Quang. Ở Hà Giang dân tộc Pà Thẻn chỉ cư trú ở một vài xã của
hai huyện: Bắc Quang và Quang Bình, trong đó tập trung nhiều ở huyện Quang Bình.
hoá, tổ chức xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo… Nhìn nhận vai trò của tộc người này trong
lịch sử phát triển của dân tộc. Đây chính là cơ sở để tăng cường tính đoàn kết của các
dân tộc trong cùng một địa phương và cao hơn là sự gắn bó giữa các dân tộc trong
một quốc gia, góp phần tạo nên sức mạnh to lớn trong sự nghiệp xây dựng và phát
triển đất nước.
Với những lí do trên, tôi chọn “Tổ chức xã hội và tín ngưỡng, tôn giáo của
người Pà Thẻn ở huyện Quang Bình, tỉnh Hà giang từ 1945 đến năm 2013” làm đề
tài luận văn thạc sĩ của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Dân tộc Pà Thẻn là chủ đề đã được các nhà nghiên cứu đề cập đến các vấn đề
khác nhau.
Trong bài viết Pà Thẻn và mối quan hệ Mèo- Dao ở Việt Namcủa tác giả Phan
Hữu Dật, trong Thông báo khoa học sử học, năm 1973, đã so sánh 3 tộc người Pà
Thẻn, Mèo, Daotrên các phương diện: tên tự gọi, tiếng nói và văn hóa. Trong bài viết
Người Pà Thẻn và mối quan hệ giữa họ với người Mèo, người Daotrong tạp chí dân
tộc học số 3, xuất bản năm1974, Việt Bàng và cộng sự đã giới thiệu những nét khái
quát từ địa vực cư trú, tên gọi và kí ức về nguồn gốc của người Pà Thẻn. Tác giả đưa
ra sự so sánh về ngôn ngữ và mối quan hệ thân thiết, tình cảm của người Pà Thẻn với
người H’Mông, đồng thời so sánh các thành tố trang phục của phụ nữ, các mô típ
trang trí và kỹ thuật dệt hoa văn giữa người Pà Thẻn và người Dao.
Với bài viết Người Pà Thẻn, đăng trên Tạp chí Dân tộc và Thời đại, số 342001, tác giả Tố Oanh đã giới thiệu sơ lược về tộc danh, địa bàn cư trú và những tộc
người cận cư có ảnh hưởng đến đời sống văn hóa của người Pà Thẻn.
Năm 2002, Đỗ Đức Lợi trong cuốn sách Tập tục chu kì đời người của các tộc
người - ngôn ngữ Mông - Dao ở Việt Nam, Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc, tác giả đã
nghiên cứu từ nguồn gốc lịch sử đến hoạt động kinh tế, môi trường, đặc trưng văn
hóa của các tộc người H’Mông, Dao, Pà Thẻn. Tác giả tập trung giới thiệu, phân tích,
lý giải về các tập tục liên quan đến sinh đẻ, nuôi dạy con cái, đánh dấu sự trưởng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
2
cư, bản làng, nhà ở, những nét tiêu biểu, đặc sắc trong văn hoá Pà Thẻn qua những
bức ảnh nghệ thuật.
Năm 2014, Đặng Thị Quang và các cộng sự cho ra đời cuốn Vănhóa dân gian
dân tộc Pà Thẻn ở Việt Nam, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin. Cuốn sách gồm hai
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
3
http://www. lrc.tnu.edu.vn/
quyển, chia làm 11 chương, cung cấp cho người đọc một cái nhìn khá tổng quát về
người Pà Thẻn. Trong đó: Quyển 1: Tìm hiểu địa bàn sinh sống, các nghề thủ công, văn
hoá ẩm thực và cung cách ứng xử trong sinh hoạt hàng ngày của người Pà Thẻn ở nước
ta. Quyển 2: Tìm hiểu về nghệ thuật dân gian Pà Thẻn, phong tục tập quán liên quan
đến chu kì đời người, các hình thức tôn giáo, tín ngưỡng của người Pà Thẻn.
Ngoài ra, liên quan đến dân tộc Pà Thẻn còn có một số nghiên cứu ở những
khía cạnh khác nhau, có thể giúp tác giả luận văn có thêm nhận thức trong quá trình
thực hiện luận văn của mình. Có thể kể đến các nghiên cứu: Đề tài cấp trường Tìm
hiểu những tục lệ liên quan đến chu kì đời người của dân tộc Pà Thẻn (Xã Tân Trịnh
-huyện Quang Bình - Hà Giang) của tác giả Nguyễn Thị Toán, Trường Đại học văn
hoá Hà Nội, năm 2007.
Luận văn Tình hình sử dụng ngôn ngữ của người Pà Thẻn ở Hà Giang của tác
giả Nguyễn Thị Hằng Nga, Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, năm 2011.
Luận văn Bước đầu tìm hiểu từ ngữ xưng gọi trong tiếng Pà Thẻn, tác giả
Nguyễn Thu Quỳnh, Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, năm 2013.
Luận văn Tập quán ăn uống của người Pà Thẻn qua khảo sát tại huyện Lâm
Bình, tỉnh Tuyên Quang của tác giả Lâm Thị Trang Nguyên, Trường Đại học Văn hoá
Hà Nội, năm 2014.
Luận văn Thơ ca của người Pà Thẻn của tác giả Chảo Thị Tâm, Trường Đại
5.1. Nguồn tư liệu
Tư liệu thành văn: Bao gồm các tác phẩm nghiên cứu của các học giả đã công
bố và xuất bản, tạp chí dân tộc học, các đề tài nghiên cứu khoa học cũng là nguồn tư
liệu để tác giả kế thừa và sử dụng cho đề tài.
Tư liệu địa phương: Gồm các nghị quyết của Đảng bộ huyện Quang Bình; các
báo cáo, các sách, các thống kê của huyện Quang Bình.
Tư liệu điền dã: Quá trình đi thực tế tại địa phương, tiếp xúc với các cụ cao
niên để khai thác nguồn tư liệu truyền miệng, các bài ca thơ ca, tham dự vào các hoạt
động tôn giáo, tín ngưỡng của đồng bào Pà Thẻn ở địa phương… Trên cơ sở đó có
được cái nhìn sâu sắc, toàn diện về tổ chức xã hội và tín ngưỡng, tôn giáo của dân tộc
Pà Thẻn ở huyện Quang Bình , tỉnh Hà Giang.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp chuyên nghành khoa học lịch sử gồm phương pháp lịch sử và
phương pháp logic được vận dụng để nhìn nhận vấn đề một cách khái quát, khách quan.
Trong nghiên cứu về huyện Quang Bình, luận văn còn sử dụng phương pháp
hệ thống- cấu trúc. Với phương pháp này, đối tượng nghiên cứu được coi như một hệ
thống gồm những yếu tố hợp thành nhằm làm rõ các yếu tố như: làng bản và nhà cửa,
ăn uống, các tục lệ, tín ngưỡng, tôn giáo… Từ đó rút ra được những mối liên hệ
tương tác giữa các yếu tố trong hệ thống.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
5
http://www. lrc.tnu.edu.vn/
Phương pháp so sánh được vận dụng nhằm so sánh chọn điểm cùng vấn đề giữa
hai thời điểm lịch sử.Trong luận văn, chúng tôi đã so sánh về tổ chức xã hội và quan hệ
giữa các thành viên trong gia đình của người Pà Thẻn trước và sau năm 1960.
Trong quá trình thực hiện, một số phương pháp khác được sử dụng nhằm thu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
7
http://www. lrc.tnu.edu.vn/
BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH HUYỆN QUANG BÌNH
Nguồn: Tác giả biên vẽ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
8
http://www. lrc.tnu.edu.vn/
Chương 1
KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN QUANG BÌNH, TỈNH HÀ GIANG
1.1. Vị trí địa lý - điều kiện tự nhiên
Huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang nằm ở vị trí địa lý 22°02’13’’- 22°34’41”
vi ̃ độ Bắ c 22°12’13’’ - 22°34’41’’ kinh độ Đông, cách trung tâm tỉnh lỵ Hà Giang
85 km về phía Tây Nam, cách cửa khẩu Thanh Thủy của tỉnh Hà Giang 110 km, cách
cửa khẩu Hà Khẩu của tỉnh Lào Cai 120 km, phía Bắc giáp huyện Xín Mần và huyện
Hoàng Su Phì, phía Đông giáp huyện Bắc Quang và tỉnh Yên Bái, phía Tây giáp huyện
Bảo Yên, tỉnh Lào Cai. Huyện có diện tích đất tự nhên là 79.188,04 ha[4, tr10].
Là huyện vùng núi thấp nhưng cấu trúc địa hình của huyện Quang Bình tương
đối phức tạp với ba loại địa hình chính:
năm, 90% lượng mưa tập trung vào mùa hè đã dẫn đến tình trạng khô hạn vào mùa
đông, mưa lũ thường xảy ra vào mùa hè gây ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất và
đời sống của nhân dân.
Bảng 1.1: Khí hậu ở huyện Quang Bình năm 2013
STT
Yếu tố
Trạm Hà Giang
1
Nhiệt độ bình quân năm (0°C)
21,6°C ~23,9 °C
2
Nhiệt độ tối cao tương đối
40°C
3
Nhiệt độ thấp tương đối
2,2°C
4
Lượng bốc hơi (mm)
2345,2 mm
(Nguồn: Trạm khí tượng tỉnh Hà Giang)
Hệ thống sông suối ở Quang Bình phân bố tương đối đồng đều ở các xã, trong
đó có hai sông lớn là sông Chừng và sông Bạc. Sông Chừng bắt nguồn từ các xã Nà
Chí, Khuôn Lùng của huyện Xín Mần chảy qua các xã Tân Nam, Tân Bắc, Tân
Trịnh, Yên Hà và xã Hương Sơn. Sông Bạc bắt nguồn từ xã Thông Nguyên của
huyện Hoàng Su Phì, chảy qua các xã Xuân Minh, Tân Trịnh, ngoài ra còn có nhiều
suối nhỏ phân bố ở hầu khắp các xã, thị trấn. Hệ thống sông suối đa dạng là điều kiện
thuận lợi cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và phát triển
thuỷ điện phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân. Tuy nhiên, do địa hình
phức tạp hầu hết các sông, suối trên địa bàn huyện có lòng hẹp, độ dốc và độ uốn
khúc lớn, dòng chảy mạnh, nhiều thác ghềnh, không thuận lợi cho giao thông đường
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
10
http://www. lrc.tnu.edu.vn/
thủy và thường xuyên xảy ra hiện tượng lũ ống, lũ quét và sạt lở đất vào mùa mưa
gây ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất và đời sống của nhân dân [4, tr12].
Tổng diện tích đất tự nhiên ở huyện Quang Bình là 79.188,04 ha, trong đó đất
sản xuất nông, lâm nghiệp là 71.792,91 ha, chiếm 90,66%. Đất phi nông nghiệp là
2.946,2 ha, chiếm 3,72%.Đất chưa sử dụng 4.448,93 ha, chiếm 5,61%.Trong tổng
diện tích đất sản xuất nông lâm nghiệp, đất sản xuất lâm nghiệp là 59.876,56 ha,
chiếm 75,61%.Đất sản xuất nông nghiệp là 11.523,13 ha, chiếm 14,55%.Đất nuôi
trồng thủy sản là 339,52 ha, chiếm 0,42%. Đất đai ở Quang Bình gồm nhiều loại đất
33,185
27,326
23,967
100
100
100
30,094
23,093
18,317
90,69
84,54
76,42
0,095
0,733
1,124
11
http://www. lrc.tnu.edu.vn/
Hiện nay trên địa bàn huyện vẫn còn một số diện tích rừng nguyên sinh với thảm thực
vật tương đối phong phú, đa dạng với nhiều loại động, thực vật quý hiếm như: lợn
rừng, hoẵng, khỉ, sơn dương, các loại bò sát, các loại gỗ quý như: nghiến, đinh, sến…
Rừng nguyên sinh vừa có tác dụng bảo vệ sự đa dạng của sinh học, bảo vệ môi
trường sinh thái, chống xói mòn, sạt lở, đồng thời là tiềm năng để khai thác phát triển
du lịch sinh thái. Tuy nhiên, rừng ở các xã vùng thấp hiện nay chủ yếu là rừng tái
sinh, diện tích đất chưa có rừng còn lớn, việc khai thác lâm sản trái phép chưa được
giải quyết triệt để đã tác động tiêu cực đến thảm thực vật, ảnh hưởng không nhỏ đến
cảnh quan, môi trường sinh thái và biến đổi tiêu cực của khí hậu.
Theo kết quả điều tra, khảo sát của các đoàn điạ chấ t thì tài nguyên khoáng sản
của huyện Quang Bình hiện nay phân bố rải rác ở một số xã như: Mỏ Chì, Kem
̃ ở xã
Yên Thành, đang đươ ̣c đầ u tư khai thác với trữ lượng khoảng 1,3 triệu tấ n, ngoài ra
còn một số mỏ như mỏ Mê Ka ở xã Bản Ria,̣ mỏ Quặng sét ở xã Tân Bắ c, mỏ Vàng
sa khoáng ở xã Bằ ng Lang tuy nhiên do điề u kiện khó khăn nên chưa tiế n hành xúc
tiế n đầ u tư thăm dò khai thác. Ngoài ra trên điạ bàn còn có nguồ n vật liệu cát, sỏi, đá
xanh đang đươ ̣c khai thác đáp ứng một phầ n nhu cầ u về vật liệu xây dựng trên điạ
bàn huyện. Đây chính là tiề m năng phát triể n công nghiệp khai khoáng và công
nghiệp chế biế n trên điạ bàn huyện.
1.2. Khái quát lịch sử hành chính huyện Quang Bình
Lịch sử hành chính của huyện Quang Bình cũng gắn liền với lịch sử của tỉnh
Hà Giang. Vào thời Hùng Vương, mảnh đất Hà Giang đã là một trong 15 bộ của quốc
gia Lạc Việt.Thời Thục Phán An Dương Vương lập nước Âu Lạc, Hà Giang thuộc bộ
lạc Tây Vu.
Ngày 20/08/1891, tỉnh Hà Giang được thành lập, bao gồm phủ Tương Yên và
huyện Vĩnh Tuy (tỉnh Tuyên Quang).
Năm 1893, trong dịp cải tổ trong các quân khu, Hà Giang trở thành trung tâm
của một quân khu và cùng với Tuyên Quang hợp thành Đạo quan binh thứ ba .
Ngày 17/09/1895, Toàn quyền Đông Dương ra Quyết định số 1432 chia khu
quân sự thứ ba thành ba tỉnh: Tuyên Quang, Bắc Quang và Hà Giang. Trong đó, Hà
Giang bao gồm huyện Vị Xuyên (trừ tổng Phú Loan và Bằng Hành), cộng thêm các
tổng Phương Độ và Tương Yên [46].
Ngày 28/04/1904, Toàn quyền Đông Dương lại ra quyết định sáp nhập tỉnh
Bắc Quang và tỉnh Hà Giang thành Đạo quan binh Hà Giang.Đến thời điểm này, Hà
Giang đã được xác định ranh giới tương đối ổn định.
Trước cách mạng tháng tám năm 1945, Hà Giang có 4 châu và 01 thị xã (Bắc
Quang, Vị Xuyên, Đồng Văn, Hoàng Su Phì, thị xã Hà Giang)
Sau Cách mạng tháng 8 - 1945, dưới chính thể mới của nước Việt Nam Dân
chủ Cộng hoà, ngày 30-04-1962, một số xã của Hoàng Su Phì được chia thành nhiều
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
13
http://www. lrc.tnu.edu.vn/
xã nhỏ, trong đó xã Tụ Nhân chia thành 5 xã gồm: Tụ Nhân, Đản Ván, Thèn Chú
Phùng, Pố Lồ, Chiên Phố, xã Bản Máy chia thành 5 xã gồm: Bản Phùng, Bản Máy,
Bản Pắng, Nàn Xỉn, Thàng Tín; xã Chí Cà chia thành 2 xã: Chí Cà, Pà Vầy Sủ [49].
Đến ngày 13-12-1962, xã Thèn Chú Thùng đổi tên là Thèn Chu Phìn; đồng
thời chia các xã Trung Thịnh thành 6 xã: Việt Thái, Trung Thịnh, Ngán Chiên, Thu
Tà, Nàng Đôn, Pờ Ly Ngài; xã Chế Là thành 4 xã: Cốc Rế, Tả Nhìu, Chế Là, Nấm
Dẩn; xã Cốc Pài thành 3 xã: Cốc Pài, Nàn Ma, Bản Ngò.
Ngày 01/04/1965, Chính phủ ra Quyết định số 49-CP về việc chia tách huyện
toàn huyện có 13,736 hộ với 62,189 nhân khẩu, được phân bố theo các dân tộc như
trong biểu đồ dưới đây:
Biểu đồ 1.1: Cơ cấu dân tộc huyện Quang Bình
(Nguồn: Chi cục thống kê huyện Quang Bình, 2013)
Trên cơ sở tư liệu và khảo sát thực tế tại 14 xã và 1 thị trấn của huyện Quang
bình, có thể khái quát về các thành phần dân tộc của huyện như sau:
- Dân tộc Tày
Dân tộc Tày là một cộng đồng thuộc ngôn ngữ Tày - Thái. Ở Hà Giang, dân
tộc Tày có khoảng 180.670 người, chiếm 23,19% dân số trong tỉnh. Người Tày ở Hà
Giang được chia làm 2 nhóm, nhóm Tày Đen (Tày Đăm) cư trú ở huyện Hoàng Su
Phì, Xín Mần, nhóm Tày Trắng (Tày Khao) cư trú ở huyện Bắc Quang, Quang Bình,
Vị Xuyên, Bắc Mê .
Tại Quang Bình dân tộc Tày có số lượng đông nhất (28.634 người) chiếm tới
46,01% dân số toàn huyện, sinh sống chủ yếu ở các xã vùng thấp như: xã Xuân Giang
(4.550 người), thị trấn Yên Bình, xã Tiên Yên, xã Vĩ Thượng (trên 3.000 người) với
nguồn sống chính là trồng lúa và chăn nuôi hộ gia đình ven các sông, suối lớn, trên
những cánh đồng màu mỡ trong các thung lũng chân núi, đồng thời còn giỏi nghề thủ
công như: đan lát. Người Tày ở Quang Bình còn lưu giữ được nhiều nét văn hóa đặc
sắc và có nhiều tri thức dân gian còn được lưu truyền.
Dân tộc Tày ở Quang Bình có ba bộ phận hợp thành bao gồm: Tày bản địa
(Thổ), Tày gốc Kinh từ miền xuôi lên, Tày có nguồn gốc từ Trung Quốc (Ngạn).
Trong đó thì bộ phận Tày bản địa vẫn chiếm ưu thế.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
15
http://www. lrc.tnu.edu.vn/
Giang. Sau năm 1954, một số cán bộ, bộ đội và những gia đình tản cư trở lại miền
xuôi, bên cạnh đó một bộ phận không nhỏ đã ở lại lập nghiệp trên mảnh đất Hà
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
16
http://www. lrc.tnu.edu.vn/
Giang. Trong quá trình sinh sống, người Kinh đã có ảnh hưởng ít nhiều bởi các dân
tộc thiểu số cùng cộng cư trên địa bàn, tuy nhiên vẫn bảo tồn được những nét văn hóa
của dân tộc mình, tiêu biểu là ngôn ngữ và một số tập quán.
- Dân tộc La Chí
Dân tộc La Chí tập trung chủ yếu ở tỉnh Hà Giang với 12.072 người, chiếm
91,7% tổng số người La Chí tại Việt Nam (theo số liệu tổng điều tra dân số và nhà ở
năm 2009). Đây là dân tộc cư trú lâu đời ở khu vực miền núi phía Bắc nước ta. Theo
truyền thuyết của người La Chí thì họ là con cháu của Hoàng Dân Thùng (một số
khác gọi là Hoàng Văn Đồng) là một tù trưởng ở xã Tụ Long, tỉnh Tuyên Quang từ
cuối thế kỉ XVIII.
Tại Quang Bình dân tộc La Chí có 3.111 người (chiếm 5% dân số toàn huyện),
tập trung ở các xã: Nà Khương, thị trấn Yên Bình, Yên Thành, Vĩ Thượng, Xuân
Giang, đặc điểm canh tác của người La Chí ở huyện Quang Bình là trồng lúa nước
trên ruộng bậc thang, trồng ngô và hoa màu trên nương. Ngoài ra còn lưu giữ các
nghề thủ công như: dệt vải bông, đan lát. Ở xã Yên Thành và xã Xuân Giang còn có
thêm nghề rèn. Người La Chí có đời sống tinh thần phong phú. Những ngày lễ tết trai
gái thường hát đối đáp, chơi đàn tính 3 dây và sử dụng lá cây làm đàn môi.
- Dân tộc Mông
Dân tộc Mông nằm trong nhóm các dân tộc nói ngôn ngữ Mông - Dao. Trước
đây còn gọi là người Mèo, ở Trung Quốc Mông được gọi là người Miêu, ở Lào gọi là
người Mẹo.