quan niệm của i kant về vật tự nó trong phê phán lý tính thuần túy tiểu luận cao học - Pdf 43

MỞ ĐẦU
Hêghen đã tổng kết “triết học là sự tổng kết lịch sử tư duy”. Mà lịch sử
phát triển của tư duy lại được tổng kết trong lịch sử triết học, vì thế việc
nghiên cứu lịch sử triết học là rất cần thiết. Nhưng ở nước ta hiện nay, việc
nghiên cứu lịch sử triết học còn ít. Hầu như chỉ tập trung ở một một số
trường đại học lớn mang tính chất đặc thù, chuyên ngành. Vì thế, nghiên cứu
lịch sử triết học là hết sức cần thiết nhằm đi tìm hiểu cội nguồn lịch sử tư
tưởng triết học thế giới.
Trong dòng chảy lịch sử triết học nhân loại, nổi lên những triết gia vĩ đại
đó là I.Kant, Hêghen, Phơbách của triết học cổ điển Đức …I.Kant được tôn
vinh là người sáng lập ra nền triết học cổ điển Đức và đã có ảnh hưởng rất lớn
đối với các trào lưu triết học phương Tây. Trong tác phẩm “Phê phán lý tính
thuần túy” của I.Kant chứa đựng những luận điểm phức tạp, đầy mâu thuẫn
như những vấn đề về đạo đức, siêu hình học, triết học thực tiễn…hiện nay vẫn
còn gây nhiều bàn cãi chưa đi đến hồi kết. Tính tích cực của chủ thể nhận thức,
năng lực, giới hạn và cấu trúc của lý tính, mâu thuẫn trong quá trình nhận thức,
sự tồn tại và bất tử của Linh hồn, Thượng đế, Thế giới luôn là những nan đề có
rất nhiều kiến giải khác nhau xoay quanh và luôn tìm về triết học I.Kant như là
những luận điểm khai phá có tính lịch sử. I.Kant đã phân biệt hai lĩnh vực nhận
thức: lĩnh vực mà con người có thể nhận thức được đó là thế giới hiện tượng,
và lĩnh vực mà lý tính con người dù đã làm cuộc bạo động xâm nhập vào nó
nhưng vẫn bất lực, không thể nhận thức được – thế giới vật tự nó. Với những tư
tưởng đó, I.Kant đã phê phán mạnh mẽ sự bất lực của siêu hình học truyền
thống, khi nó sử dụng phương pháp tiếp cận của khoa học tự nhiên để nhận
thức “Vật tự nó”. Theo I.Kant, triết học có sứ mệnh cao cả là cứu nguy cho siêu
hình học truyền thống, cần phải tiến hành phê phán chính lý tính. Lý tính đã
mắc phải những mâu thuẫn không thể giải quyết, chính những mâu thuẫn đó là
động lực để I.Kant chuyển sang lĩnh vực thực hành.
1



công nghiệp mà trở thành quốc gia tư bản lớn mạnh nhất, nước Pháp nhờ
Cách mạng Tư sản 1789, giai cấp tư bản đã tiêu diệt chế độ phong kiến,
đang tiến nhanh trên con đường tư bản chủ nghĩa, cả châu Âu đang
phát triển nhanh và mạnh mẽ, nhưng trái lại nước Đức vẫn triền miên
trong giấc ngủ Đông – vẫn còn là một nước phong kiến lạc hậu, với chế

3


độ quân chủ chuyên chế phân quyền, bị phân hóa cả về kinh tế lẫn chính
trị. Triết học I.Kant đã ra đời trong hoàn cảnh đó, nước Đức hết sức phức
tạp và đầy những mâu thuẫn không thể dung hòa. Bức tranh toàn cảnh của
xã hội Đức đương thời phủ một màu xám, đúng như lời khắc họa của
Ăngghen:“Không ai cảm thấy mình dễ chịu…Mọi cái đều tồi tệ và tâm
trạng bất mãn bao trùm cả nước. Không có giáo dục…không có tự do báo
chí, không có dư luận xã hội - không có gì cả ngoài sự đê tiện và tự tư tự lợi,
lề thói con buôn hèn mạt, xum xoe nịnh hót thảm hại, đã xâm nhập toàn dân.
Mọi thứ đều nát bét, lung lay, xem chừng sắp sụp đổ, thậm chí chẳng còn lấy
một tia hy vọng chuyển biến tốt lên, vì dân tộc thậm chí không còn đủ sức vứt
bỏ cái thây ma rữa nát của chế độ đã chết rồi”[1, 754].Trong tầng lớp trí
thức Đức thời bấy giờ xuất hiện tình trạng bi quan, bất mãn và bất lực.
Đây là nguyên nhân chính d ẫn tới tư tưởng cải lương, thỏa hiệp, phủ
nhận sự cải tạo xã hội cũ bằng bạo lực cách mạng, biện hộ cho sự tồn tại
của nhà nước Phổ và xã hội đương thời. Họ sử dụng triết học vũ khí phê
phán và chuyển tải tư tưởng cách mạng, là nơi gửi gắm, thể hiện khát
vọng cải tạo hiện thực của con người. Tính chất cải lương thỏa hiệp về tư
tưởng chính trị của tầng lớp trí thức Đức đương thời đã có ảnh hưởng lớn
đến I.Kant. Dưới sự tác động của cả hai sức ép: một bên là sự cổ vũ
mạnh mẽ của các nhà khai sáng, cách mạng tư sản Pháp- những tư tưởng
tiến bộ; một bên là sức ép chính trị của chính quyền chuyên chế Phổ

quan trọng bậc nhất.
Như vậy, những thành tựu của khoa học tự nhiên đạt được đã đem đến
cho I.Kant quan niệm mới về sức mạnh và khả năng trí tuệ của con người
trong việc nhận thức và cải tạo thế giới. Đó là tiền đề tạo nên diện mạo triết
học cổ điển Đức nói chung và triết học I.Kant nói riêng, đặc biệt là quan
niệm về Vật tự nó độc đáo và riêng biệt trong tác phẩm Phê phán lý tính
thuần túy.
1.1.3. Tiền đề lý luận

5


Một trong những bậc tiền bối ảnh hưởng mạnh mẽ đến tư tưởng của
I.Kant, nhất là quan niệm về “Vật tự nó” mà I.Kant đã nêu lên trong tác
phẩm “Phê phán lý tính thuần túy” chúng ta phải kể đến Đavit Hium.
Đavit Hium (D.Hium ) (1711 – 1776) là một nhà triết học nổi tiếng
người Anh, đại biểu điển hình của thuyết không thể biết “bất khả tri
luận” và chủ nghĩa hoài nghi, một đại biểu của chủ nghĩa chủ quan
điển hình – chủ nghĩa duy ngã. D.Hium tách rời giữa cảm giác của con
người với thế giới bên ngoài, ông cho rằng nhận thức có nguồn gốc từ cảm
giác của con người và không cần đến sự tác động của thế giới bên ngoài - sự
vật là sự phức hợp của cảm giác. Từ đó, D.Hium cho rằng chúng ta không thể
biết được gì về thế giới này cả, không thể biết được thế giới này thức hay ngủ
nữa? Ông nghi ngờ về sự tồn tại của thế giới bên ngoài “Ông cho rằng: Giới
tự nhiên đã đặt chúng ta ở một khoảng cách khá xa với các điều bí ẩn của nó,
và nó chỉ thể hiện ra cho chúng ta những tri thức về một số đặc tính, vẻ bề
ngoài” [11, 346]. Và “Giới tự nhiên tựa như một người phụ nữ cực kỳ đỏng
đảnh nó biểu hiện ra bên ngoài như thế nào thì chúng ta biết về nó chừng ấy,
còn bản chất vô cùng vô tận của giới tự nhiên thì mãi mãi cách biệt với chúng
ta”. D.Hium không thừa nhận sự tồn tại khách quan của các sự vật, hiện

nay ông lại đề cao tín ngưỡng. I.Kant phủ nhận khả năng nhận thức bản chất
của sự sống, ông cho rằng thực thể và tinh thần, hiện thực và tư tưởng là hai
lĩnh vực hoàn toàn khác nhau, không có liên quan gì với nhau. Từ đó, I.Kant
hoài nghi khả năng nhận thức thế giới nói chung của con người. Với phương
châm “thời đại chúng ta là thời đại phê phán đích thực mà mọi thứ đều phải
phục tùng”[4, 26], Về tác phẩm “Phê phán lý tính thuần túy”
“Phê phán lý tính thuần túy” của I.Kant được mọi người thừa nhận là tác
phẩm nền tảng của triết học cổ điển Đức. Nó là chỗ kết tinh những nhận định
có tính phê phán đối với nhiều trào lưu triết học trước đó (từ Platôn cho tới
Wolff), đồng thời là điểm xuất phát và điểm quy chiếu của triết học cổ điển
Đức và có ảnh hưởng sâu đậm đến sự phát triển của triết học phương Tây cho
tới ngày nay.

7


Trong ba quyển “Phê phán” nổi tiếng của I.Kant (Phê phán lý tính thuần
túy; Phê phán lý tính thực hành và Phê phán năng lực phán đoán), tác phẩm
này có vị trí đặc biệt, nó là kết tinh những kết quả nghiên cứu trong cả một
quá trình lâu dài và đầy trăn trở của I.Kant.Ngoài Lời tựa và Lời dẫn nhập,
“Phê phán lý tính thuần thúy” gồm có hai phần chính:
Phần I: Cảm năng học siêu nghiệm gồm hai chương: về không gian và
thời gia; về hai vật liệu chính bên trong của cảm năng, tức hai mô thức
thuần túy của trực quan cảm tính, trụ cột thứ nhất của nhận thức.
Phần II: Lôgic học siêu nghiệm nghiên cứu về hai nhóm vật liệu khác:
a. Phân tích pháp siêu nghiệm
b. Biện chứng pháp siêu nghiệm
2.NỘI DUNG TRONG QUAN NIỆM CỦA I.KANT VỀ "VẬT TỰ NÓ"
Dưới ảnh hưởng mạnh mẽ của khoa học tự nhiên lý thuyết cuối thế kỷ
XVII – XVIII, cũng như nhiều nhà triết học cận đại, I.Kant đòi hỏi tri thức

cách. Khái niệm “Vật tự nó” nghĩa là vật cần phải được nhận thức không phải
như đối tượng cảm tính mà như vật tồn tại tự nó, và để nhận thức được “Vật
tự nó” thì con người cần phải có trực quan trí tuệ phi cảm tính, nhưng trên
thực tế con người lại không có khả năng đó vì thế con người không thể nhận
thức được nó. Còn lý tính thuần túy của con người không thể đạt được “Vật
tự nó”. Suy cho cùng, nhận thức của con người chỉ là hữu hạn và chỉ dừng lại
ở hiện tượng chứ không thể đạt đến bản chất. Đây chính là giới hạn không thể
vượt qua được của nhận thức con người. “Con người không thể đạt đến thế
giới đó bằng trực quan cảm tính, bởi trực quan chỉ là biểu tượng về hiện
tượng, còn những sự vật mà chúng ta trực quan, tự chúng như thế nào, chúng
ta không thể biết được. Điều này có nghĩa là, các sự vật nó nằm ngoài giới
hạn của trực quan cảm tính, chúng không phải là đối tượng của triết học lý
luận (nhận thức luận) mà là đối tượng của “tự nhiên thần luận” [9, 102].
Trong cuốn Phê phán lý tính thuần túy, I.Kant đã đưa ra giải pháp để
khắc phục sự hạn chế của lý tính bằng cách, ông cho nhận thức của con
người quay trở về với cái Tôi, và dùng tiên nghiệm để tiến vào vùng mà lý
tính không thể tới được, nhờ đó mà thấu hiểu sâu hơn bản chất của sự vật.
9


Để hiểu đúng được bản chất của “Vật tự nó” điều đó không hề dễ. “Vật
tự nó” của I.Kant thực chất nó thuộc “điểm mù của lý tính” và con người chỉ
có thể hiểu nó bằng apriori (tiên nghiệm).
Tiên nghiệm: trong triết học kinh viện, khái niệm tiên nghiệm là những
khái niệm chung rộng nhất, vượt ra ngoài giới hạn của tất cả các khái niệm
chung khác, nói lên những tính phổ biến mà người ta nhận thức được bằng
trực giác trước khi có mọi kinh nghiệm. Kant viết: “Tôi gọi bất kỳ nhận
thức nào, không phải là về đối tượng mà là về những hình thức của nhận
thức về đối tượng là tiên nghiệm, bởi vì nhận thức đó chỉ có một cách tiên
thiên” (12). Và cái mà con người “không biết được” đó chính là lĩnh vực

nên ông lại là nhà duy tâm. Khi nghiên cứu các hình thức và giới hạn của nhận
thức, ông cho rằng vật tự nó là siêu nghiệm, không nhận thức được, cảm giác là
cơ sở của tri thức, nhưng không một loại tri thức nào tiếp cận tới vật tự nó, ông
là nhà bất khả tri.
Mặt khác, “Vật tự nó” được I.Kant hiểu như là những tồn tại tinh thần,
nhưng lại là cái bản chất của thế giới, là căn nguyên của mọi sự tồn tại
khách quan bên ngoài con người, tinh thần của thế giới tinh thần, nó thuộc
thế giới siêu nghiệm. Chính vì lẽ đó, chúng ta cần xem xét “Vật tự nó” trên
phương diện thứ hai là phương diện đạo đức.
Về phương diện đạo đức học, Nếu như giai đoạn nhận thức cảm tính
và giác tính liên quan trực tiếp tới thế giới hiện tượng, thì đối với thế giới
“Vật tự nó” chúng lại bị cấm cửa, còn nhận thức lý tính thì hoàn toàn khác.
Lý tính dám làm cuộc bạo động đó, kết quả là nó vươn tới ba ý niệm cơ
bản bao trùm và chi phối toàn bộ đời sống tự nhiên cũng như đời sống
tâm linh của con người, đó là: Linh hồn bất tử, Thế giới và Thượng đế chúng thuộc về thế giới “Vật tự nó”. Đây là ba loại ý tưởng siêu nghiệm
và cũng chính là đối tượng của siêu hình học dẫn I.Kant đến quan niệm
cho rằng triết học có thể giải quyết được nhiệm vụ của mình nếu nó đạt mục
đích thuyết phục con người tin vào sự tồn tại của Thượng đế, Thế giới và
Linh hồn bất tử. Nhưng khi đề cập đến việc triết học thực hiện nhiệm vụ đó
như thế nào thì I.Kant lại tỏ ra lúng túng. Một mặt, I.Kant cho rằng nếu
11


thiếu niềm tin vào sự tồn tại của Thượng đế, Thế giới, Linh hồn bất tử thì
nhiệm vụ triết học không giải quyết được. Mặt khác, giống như các nhà triết
học thế kỷ XVII – XVIII, ông khẳng định khoa học không thể chứng minh
được sự tồn tại của các đối tượng trên. Vì vậy, mà I.Kant có ý định xây dựng
niềm tin trên một số cơ sở mới nhằm cứu vãn tôn giáo cũng như tránh cho
khoa học và triết học khỏi sự dao động.
Bác bỏ việc nghiên cứu lý tính để chứng minh cho lý tính, về khả năng

Như vậy, I.Kant đã chỉ ra "Vật tự nó" nghĩa là một phương diện của sự
vật và có nghĩa là một thực tại độc lập như trong trường hợp các tinh thần. Do
đó, "tự nó" còn có hai nghĩa: một nghĩa tiêu cực và một nghĩa tích cực. Theo
nghĩa tiêu cực thì "Vật tự nó" chỉ là một quan niệm giới hạn, không cho phép
trí năng ta vượt qua và vươn tới nó. Chẳng hạn "con người" là một quan niệm
giới hạn, vì từ cổ chí kim chúng ta vẫn tìm hiểu con người mà đến nay
chúng ta vẫn chưa thể hiểu hết được con người một cách tận cùng. Còn theo
nghĩa tích cực, thì "Vật tự nó" là những thực tại siêu việt: Thượng đế - Thế
giới - Linh hồn bất tử, chỉ có những chủ thể có trực giác trí tuệ mới nhận
thức được.
2.2. Giá trị và hạn chế trong quan niệm của I.Kant về “Vật tự nó”
Theo Hêghen, “Vật tự nó – cái trừu tượng rất đơn giản…Vật tự nó là sự
trừu tượng khỏi mọi sự quy định (tồn tại cho cái khác), khỏi mọi quan hệ với
cái khác, nghĩa là hư vô. Vậy “Vật tự nó” chỉ là một trừu tượng trống rỗng
không có chân lý” [8, 115 – 116]. V.I.Lênin đã đánh giá sự phê phán đó của
Hêghen là rất sâu sắc, và ông chỉ rõ: “Vật tự nó nói chung là một sự trừu
tượng trống rỗng và chết. Trong sự sống và sự vận động, tất cả mọi vật thể
là “tự do” và cũng là “vì những cái khác”, trong mối quan hệ với cái khác,
vì nó chuyển hóa từ một trạng thái này sang một trạng thái khác” [7, 116].
Và, theo V.I.Lênnin “Phoiơbắc chê trách I.Kant không phải vì I.Kant thừa
nhận vật tự nó mà vì I.Kant không thừa nhận tính hiện thực của vật tự nó,
nghĩa là tính hiện thực khách quan. Vì I.Kant chỉ coi vật tự nó là tư tưởng
đơn thuần, là “bản chất tưởng tượng” chứ không phải là “bản chất có thực

13


tồn”, nghĩa là những bản chất thực tại, tồn tại thực sự, Phoiơbắc chỉ trích
I.Kant vì I.Kant đã xa rời chủ nghĩa duy vật” [7, 243].
Trong tác phẩm “Phê phán lý tính thuần túy”, I.Kant đã chỉ ra phạm vi

mà chỉ tin được bằng niềm tin tuyệt đối vô điều kiện mà thôi.
Hai là, cho đến thế kỷ XVIII, bản thân vấn đề mối quan hệ giữa hiện
thực và tinh thần, hiện tượng và bản chất, cái riêng và cái chung, chủ thể và
khách thể, nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính, vẫn là một vấn đề khá nan
giải. Vào thời I.Kant, Ph.Ăngghen viết: “Sự hiểu biết của chúng ta về những
sự vật tự nhiên hãy còn khá vụn vặt, đến nỗi ở đằng sau một sự vật ấy người
ta còn có thể cho rằng có một sự vật tự do bí ẩn đặc biệt nữa” [2, 539]. Chính
I.Kant đã coi bí ẩn đó là bản chất, căn nguyên của sự vật, là nguyên nhân tối
thượng tồn tại thực sự.
Ba là, Cũng như các nhà tư tưởng của nước Đức bấy giờ triết học I.Kant
không thoát khỏi áp lực từ phía chính thể Nhà nước và quyền lợi, địa vị cá
nhân. Axmux, một nhà nghiên cứu về I.Kant nhận xét I.Kant là một nhà duy
tâm trong đạo đức học và triết học lịch sử không phải vì lý luận nhận thức
của ông là duy tâm. Ngược lại, lý luận nhận thức của là ông là duy tâm bởi
vì quan điểm đạo đức và triết học lịch sử của ông mang tính duy tâm. Hiện
thực lịch sử nước Đức thế kỷ XVIII – XIX đã dẫn các nhà tư tưởng đương
thời, trong đó có I.Kant đến chỗ tìm cách hòa giải giữa chế độ cũ và chế độ
mới, mong muốn thay đổi trật tự cũ bằng con đường cải lương chứ không
phải bằng con đường cách mạng.
Tuy còn một số hạn chế nhất định, song triết học I.Kant nói chung và học
thuyết về “Vật tự nó” nói riêng đã có những giá trị to lớn, đóng góp đáng kể cho
kho tàng văn hóa nhân loại. Quan niệm về “Vật tự nó” đã đặt ra giới hạn nhất
định đối với khả năng nhận thức của con người, song nó vẫn chứa đựng nhiều
ý nghĩa tích cực. Nó khẳng định sự tồn tại của các sự vật khách quan, bên
ngoài chúng ta, khẳng định sự phức tạp, đầy nghịch lý trong quá trình nhận thức
thế giới của con người cũng như mối quan hệ “con người – thế giới” nói chung.
Thế giớ này là vô cùng vô tận, đó là ngọn nguồn để con người khám phá và tìm
hiểu.
15


mâu thuẫn của quá trình nhận thức thế giới của con người, cũng như mối
quan hệ con người với thế giới nói chung. Vấn đề này hiện nay vẫn là vấn đề
16


gây nhiều tranh luận. Quan niệm của I.Kant cũng là cơ sở cho nhiều quan
niệm mới có giá trị nảy sinh.
Với hệ thống triết học của mình, I.Kant thực sự là người đặt nền móng
cho sự ra đời nền triết học cổ điển Đức. Khi đưa ra quan niệm về “Vật tự nó”
thì I.Kant đã tách rời thế giới hiện thực và nhận thức của loài người, loài
người không thể nhận thức được thế giới vốn có, còn các kiến thức có
được chỉ là những hình thức tiên nghiệm. Chính kết quả này là một chấm phá
của ông trong lý luận nhận thức, nó vừa phản ánh khả năng hạn chế trong lý
giải khoa học sự thống nhất biện chứng giữa sự tồn tại khách quan của thế
giới tự nhiên và khả năng nhận thức của con người. Khai thác những giá trị
trong hệ thống triết học I.Kant để nhận thức và phát triển hơn nữa triết học
Mác – Lênin là nhiệm vụ cần thiết trong giảng dạy và nghiên cứu triết học ở
nước ta hiện nay.
Như vậy, quan niệm của I.Kant về "Vật tự nó" không phải không có
những điểm hợp lý. Bởi thế giới này vô cùng tận, con người chưa thể khám
phá hết được. Có những hiện tượng mà hiện nay con người vẫn chưa thể lý
giải được như hiện tượng lên đồng, hay những gì thuộc về thế giới tâm linh,
những gì thuộc về vũ trụ bí ẩn, thực chất con người hiện nay vẫn chưa thể
hiểu hết, và càng đi sâu tìm hiểu, con người càng khám phá ra rằng mình
càng bất lực trước những hiện tượng tự nhiên đó. I.Kant đã có lý khi đặt ra
vấn đề "Vật tự nó", một nan đề mà cho đến tận ngày nay khoa học hiện đại
vẫn phải công nhận, ông chỉ sai lầm trong cách giải quyết vấn đề của "Vật tự
nó" mà thôi. Một phần hạn chế của I.Kant là do ảnh hưởng của khoa học tự
nhiên được thời, của hoàn cảnh hiện thực nước Đức lúc bầy giờ và lối tư duy
thời bấy giờ. Nhưng ngày nay chúng ta càng đi sâu phân tích lý thuyết “Vật tự

khách quan và toàn diện để thấy được những giá trị trong triết học I.Kant.
Chính những giá trị trong triết học I.Kant, mà những tư tưởng triết học của
ông vẫn còn sống mãi với thời gian và còn giá trị cho tới hiện nay.

18


Thời đại của I.Kant đã lùi vào dĩ vãng, hiện nay chúng ta đang sống
trong thời kỳ bùng nổ như vũ bão của khoa học tự nhiên, có nhiều phát
minh vĩ đại tác động không nhỏ tới mọi mặt đời sống của con người chúng
ta. Điều đó đã chứng minh rằng lý tính của con người có sức mạnh kỳ diệu,
tri thức của loài người giống như những mê cung, vô cùng bí ẩn và phức tạp,
chứa nhiều uẩn khúc và nghịch lý. Nhiều vấn đề của cuộc sống hiện đại đặt ra
mà cho đến nay khoa học vẫn chưa có lời giải đáp một cách thỏa đáng, chưa
cắt nghĩa một cách rõ ràng. Vì thế việc nghiên cứu khả năng và giới hạn nhận
thức của con người trong triết học I.Kant có ý nghĩa to lớn, nó góp phần giải
đáp một số vấn đề nan giải mà khoa học hiện nay vẫn chưa giải đáp được.
Việc nghiên cứu triết học I.Kant nhất là quan niệm "Vật tự nó" trong
"Phê phán lý tính thuần túy" của ông hiện nay ở Việt Nam chưa thực sự
nhiều, có chăng là những nghiên cứu tản mạn cùng với những nghiên cứu
nhận thức luận trong quan niệm của I.Kant. Vì thế, việc nghiên cứu vấn đề
"Vật tự nó" trong quan niệm của I.Kant là một điều có ý nghĩa rất lớn, giúp
chúng ta không những hiểu được những tinh hoa tri thức vượt thời đại của
loài người, mà còn giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện hơn về thế giới, về
sự vật hiện tượng xung quanh chúng ta. Chúng không chỉ là những gì hiện
hữu cho chúng ta nhìn thấy, mà ẩn sau bên trong đó còn rất nhiều điều bí ẩn
cần con người khám phá, tìm hiểu - thế giới này là vô cùng vô tận – Vì thế
trước mọi khó khăn trong quá trình nhận thức con người cũng không nên vội
vàng nản chí, bỏ cuộc.



/>
20


MỤC LỤC

21




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status