Chấn chỉnh Ngân sách Nhà nước 1945-1950
Sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hoà được thành lập, các ngân sách
cũ được tiếp tục thi hành trong thời gian đầu, để tránh sự xáo trộn không cần
thiết. Tháng 7 năm 1946 một hệ thống ngân sách mới đã được hình thành bao
gồm: ngân sách Nhà nước, ngân sách quốc phòng, ngân sách hoả xa, ngân sách
của ba kỳ: Bắc, Trung, Nam và ngân sách của hai thành phố Hà nội - Hải phòng.
Năm 1947 do chiến sự lan rộng, không có điều kiện lập ngân sách nên Bộ
Tài chính chỉ lập một quỹ chi tiêu cho cả nước và phân cấp công quỹ cho mỗi
tỉnh để tránh việc địch chia cắt, phong tỏa. Sau chiến thắng Việt Bắc thu đông
1947, tình hình đã sáng sủa và tương đối ổn định hơn, nên cần phải lập ngân
sách để Chính phủ có phương tiện quản lý thu chi của Nhà nước, tránh chi tiêu
tùy tiện, lãng phí.
Hệ thống ngân sách thời chiến được đơn giản, chỉ gồm hai cấp: ngân sách
Nhà nước và ngân sách xã. Ngân sách Nhà nước chia làm hai phần: phần chi thu
thường do các nguồn thu thường xuyên bảo đảm (thuế, công trái, các quỹ) và
phần chi tiêu quốc phòng, phần lớn dựa vào phát hành giấy bạc. Ngân sách xã
đảm bảo những chi tiêu của xã, thăng bằng do những nguồn thu riêng của xã và
nếu thiếu thì quỹ hỗ trợ xã hoặc ngân sách Nhà nước trợ cấp.
Trong phần chi thu thường của ngân sách Nhà nước có ba loại chi quan
trọng nhất là: chi hành chính (nội chính; ngoại giao, tư pháp, quốc hội, bộ máy
chính quyền các cấp...), chi kinh tế (canh nông, giao thông, thủy lợi) và chi văn
hóa xã hội (giáo dục, y tế, thương binh, cứu tế...).
Để giảm bớt chi tiêu về bộ máy Nhà nước, năm 1950 Chính phủ đã thực
hiện việc tinh giảm biên chế, chuyển bớt nhân viên hành chính sang các ngành
quân sự và sản xuất. Nhưng để đảm bảo đời sống cho cán bộ, bộ đội, công nhân
viên chức, chế độ lương bổng được tính theo gạo (mức tối thiểu là 35kg, tối đa
là 72kg). Gia đình công nhân viên chức cũng được trợ giúp một phần (vợ 11 kg,
con dưới 16 tuổi 5kg rưỡi một tháng). Vì vậy quỹ lương chiếm một vị trí rất
đột biến: mức thuế động viên vừa thấp, vừa chưa đánh mạnh vào tầng lớp có
nhiều thóc, nhiều tiền. Thuế lại thu bằng tiền nên chỉ bảo đảm được một phần
nhỏ yêu cầu chi của Nhà nước. Thuế điền thổ và quỹ công lương từ năm 1950
đã chuyển sang thu bằng hiện vật, theo lũy tiến nhưng mức huy động còn chưa
sát.
Cách xây dựng ngân sách không phản ánh được hoạt động của các ngành
kinh tế và sự đóng góp của các tầng lớp nhân dân.
Ngân sách cũng không làm cho các địa phương thấy rõ nhiệm vụ của
mình đối với Nhà nước, nặng về trông chờ, ỷ lại vào trung ương. Quá trình xây
dựng và xét duyệt ngân sách lại quá giản đơn. Việc quản lý ngân sách thiếu chặt
chẽ. Nhiều khoản quyên góp và khoản thu của địa phương nằm ngoài ngân sách
Nhà nước, làm cho tài chính bị phân tán, nhân dân kêu ca đóng góp nhiều
nhưng tiền không vào trong ngân khố quốc gia.
Thời kỳ 1950 - 1951 là thời kỳ kinh tế tài chính gặp nhiều khó khăn to lớn
do hoàn cảnh khách quan của cuộc kháng chiến và do nguyên nhân chủ quan
của ta, trong đó có khuyết điểm về công tác quản lý kinh tế tài chính còn nhiều
lúng túng, bị động và việc tổ chức thực hiện cũng có nhiều thiếu sót.
Vì cần phải chuẩn bị chu đáo nên thuế nông nghiệp không thể thực hiện
ngay từ vụ chiêm năm 1951 mà phải làm công tác tạm vay ở các địa phương từ
Liên khu 4 trở ra. Trong công tác tạm vay, do thiếu kinh nghiệm và thiếu kiên
quyết ở một số địa phương nên chưa thực hiện được đúng mức kế hoạch nhưng
đã có tác dụng rõ rệt và quan trọng. Nhờ có thóc tạm vay mà vấn đề cung cấp
trong hai mùa chiến dịch thu và đông năm 1951 đã được giải quyết. Đời sống
nông dân vẫn được bảo đảm. Giá cả bước đầu được ổn định. Tài chính giảm
được một phần nhịp độ phát hành tiền. Rút kinh nghiệm công tác tạm vay, các
địa phương chuẩn bị tốt hơn công tác thuế nông nghiệp vụ mùa năm 1951 nên
thuế đã thu được kết quả tốt, vượt xa mức thuế điền thổ năm 1950. Nhờ số thóc
và số tiền quan trọng mà thuế nông nghiệp mang lại Nhà nước đã giải quyết dễ
ăn bất chính. Chấn chỉnh chi tiêu, thống nhất quản lý thu chi: Đi đôi với tăng
thu cần phải chấn chỉnh công việc chi tiêu, thực hiện chế độ thống nhất quản lý
thu chi tài chính Nhà nước. Công tác mấu chốt, có hiệu quả thiết thực là chỉnh
đốn biên chế, đặt ra điều lệ biên chế thống nhất để các ngành và các địa phương
có căn cứ sắp xếp lại bộ máy, bố trí lại cán bộ, nhân viên. Sau một thời gian
thực hiện, khoảng 40% công nhân viên chức được chuyn sang sản xuất hoặc vào
quân đội. Làm cho bộ máy Nhà nước được gọn, nhẹ, có hiệu suất cao hơn. Việc
quy định tiêu chuẩn cung cấp cũng được xúc tiến nhằm bảo đảm sinh hoạt hợp
lý cho quân đội và cán bộ công nhân viên chức Nhà nước. Các loại chi tiêu có
tính chất thường xuyên cũng có tiêu chuẩn, định mức thống nhất làm cơ sở cho
việc lập và chấp hành ngân sách Nhà nước, đưa việc quản lý tài chính Nhà nước
dần dần vào chế độ và kỷ luật. Để quản lý hai loại tài sản rất quan trọng trong
thời kỳ kháng chiến là tiền bạc và thóc gạo. Nhà nước ban hành chế độ thống
nhất quản lý kho bạc và chế độ thống nhất quản lý kho thóc, chấm dứt tình trạng
công quỹ phân tán, sử dụng tùy tiện, tạo sơ hở cho tham ô, lãng phí. Thống nhất
quản lý kho bạc và kho thóc là một việc rất phức tạp, khó khăn: vừa phải đấu
tranh chống những tư tưởng và hành vi địa phương chủ nghĩa, cục bộ, bản bộ,
muốn tự do, thoải mái, vừa phải chống tập trung quan liêu, khắc phục những
thiếu sót chậm trễ, lề lối làm việc máy móc, cứng đờ làm lỡ công việc. Chế độ
dự toán, quyết toán mới cũng được ban hành trong năm 1951 nhằm thiết lập
một phương thức quản lý tài chính mới, bảo đảm cho các cấp, các ngành lãnh
đạo toàn diện, trên cơ sở một k lut tài chính chặt chẽ nhưng linh hoạt, thích hợp
với hoàn cảnh chiến tranh. Chế độ tài chính xã cũng được chỉnh đốn. Biên chế
xã không có cán bộ thoát ly sản xuất để làm cho cán bộ ở cơ sở không xa rời
quần chúng, tách rời sản xuất. Để thực hiện chính sách thống nhất quản lý thu
chi tài chính, bộ máy ngành tài chính từ Trung ương đến địa phương đã được
kiện toàn mạnh theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Hàng loạt cán bộ ưu tú của
Đảng và các ngành được chuyển sang làm công tác tài chính sau một thời gian
ổn vật giá thì điều chủ yếu là phải đình chỉ việc phát hành để chi tiêu cho ngân
sách Nhà nước. Vì vậy Chính phủ quyết định phải thực hiện cho bằng được.
Việc thăng bằng thu chi ngân sách Nhà nước. . . Đây là một yêu cầu mới, cao
hơn và khó thực hiện hơn cả việc thống nhất quản lý thu chi đề ra năm 1951.
Thực hiện thăng bằng thu chi trong hoàn cảnh chiến tranh còn đang tiếp diễn ác
liệt là việc hầu như chưa từng thấy, nhưng do nó có tác dụng quyết định đến
toàn bộ nền kinh tế tài chính của ta nên toàn Đảng toàn dân ta quyết tâm phấn
đấu hoàn thành cho bằng được. Để thực hiện thăng bằng thu chi ngân sách, cần
quán triệt nguyên tắc là: có thu mới có chi,và phải thu để mà chi nhưng trên
thực tế, việc thực hiện nguyên tắc đó gặp rất nhiều khó khăn, trở ngại như: Thu thì nhiều thóc, ít tiền nhưng chi thì nhiều tiền, ít thóc (năm 1951 số tiền thu
được chỉ bảo đảm một phần mười (1/lO) số phải chi bằng tiền, số thóc phát ra
chỉ bằng một phần ba (l/3) số thóc thu được). . - Có địa phương thu ít mà chi
nhiều, có địa phương thu nhiều mà chi ít. - Thu thì theo thời vụ mà chi thì
thường xuyên: có lúc phải chi nhiều nhưng không đúng vào lúc thu nhiều. - Thu
thì phân tán mà chi lại tập trung; - Giá cả chênh lệch nhiều giữa nơi này với nơi
khác, giữa lúc này với lúc khác. Để giải quyết khó khăn thu chi thóc và thu chi
tiền không cân đối ta đã đề ra nhiều biện pháp:
- Tranh thủ chi bằng thóc: trả lương, phụ cấp gia đình của nhân công làm
kho, chuyển vận, đường xá, cầu công, nhân viên các xí nghiệp quốc doanh một
phần bằng thóc, một phần bằng tiền.
- Tranh thủ thu bằng tiền: đẩy mạnh việc thu thuế công thương nghiệp và
thuế xuất nhập khẩu, phát động phong trào quần chúng bao vây kinh tế địch và
kiểm soát thuế. Đối với thuế nông nghiệp cũng vận động nhân dân nộp một
phần thuế bằng tiền, cụ thể là động viên và tổ chức nhân dân thu nhặt lâm thổ
sản đẩy mạnh chăn nuôi, trồng trọt rau quả để bán lấy tiền nộp thuế nông
nghiệp.
- Đối với khó khăn nơi thu ít lại chi nhiều, nơi thu nhiều lại chi ít, Nhà
nước điều hòa khối lượng tiền tệ nơi này sang nơi khác, kết hợp công tác nghiệp
hưởng tích cực đến việc ổn định tài chính và tiền tệ. Về mặt công tác ngân hàng:
Ra đời theo sắc lệnh số 25 ngày 6 tháng 5 năm 1951 Ngân hàng quốc gia Việt
nam được giao nhiệm vụ:
- Quản lý ngân quỹ quốc gia và phụ trách việc phát hành công trái quốc
gia;
- Cho vay vốn, góp vốn và huy động vốn của nhân dân để phát triển sản
xuất;
- Quản lý tiền ngoại quốc và thanh toán các khoản giao dịch với nước
ngoài;
- Quản lý kim cương (các thứ vàng và giấy phiếu ngân hàng dùng để định
giá tr tài sản) bằng thể lệ hành chính.
- Đấu tranh tiền tệ với địch. Ngân hàng Quốc gia Việt Nam có hệ thống tổ
chức đến các khu các tỉnh và đặt chi nhánh ở các cửa khẩu và những nơi có
luồng trao đổi hàng hoá với vùng tạm bị chiếm.
Riêng ở Nam Bộ, do tình hình đặc biệt nên tổ chức ngân hàng nhân dân
Nam Bộ chịu sự chỉ đạo của Ngân hàng Quốc gia Việt nam nhưng được rộng
quyền tiến hành các nghiệp vụ cụ thể cho sát với hoàn cảnh địa phương. Ngân
hàng mở đầu hoạt động của mình bằng việc phát hành giấy bạc ngân hàng để
thay thế cho tiền tài chính. Đồng bạc do ngân hàng phát hành được định giá
bằng 10 đồng bạc tài chính cũ vừa có tác dụng củng cố nền tài chính, tiền tệ,
vừa hợp với nguyện vọng của nhân dân và tình hình kinh tế xã hội lúc ấy. Đi đôi
với việc phát hành tiền mới, thu đổi tiền cũ, việc quản lý lưu thông tiền tệ dần
dần được thực hiện. Công tác tín dụng được chấn chỉnh lại, làm có kế hoạch, có
trọng tâm, có đối tượng rõ ràng. Việc phát hành tiền được tiếp tục, có mức độ,
chủ yếu để phục vụ sản xuất, hạn chế dần việc phát hành để chi tiêu cho tài
chính: Đến cuối năm 1953 tỷ trọng tiền phát hành cho chi tiêu ngân sách Nhà
nước từ 99,4% tụt xuống chỉ còn 01,8% trong tổng số tiền phát hành, ngược lại
tỷ trọng phát hành cho tín dụng từ 0,6% năm 1951 tăng lên 30,6% năm 1952 và
hợp chặt chẽ giữa mậu dịch, ngân hàng và tài chính nên tuy lượng tiền phát
hành năm 1951 tăng 7 lần so với năm 1950, nhưng tiền phát ra lại được thu về
qua thuế và qua mậu dịch. Đồng thời thuế nông nghiệp thu bằng thóc nên Nhà
nước không phải mua ở thị trường như trước đây. Vì vậy, từ những tháng cuối
năm 1951 trở đi mức độ tăng giá hàng đã có phần chậm lại. Tính chung, nếu
năm 1951 vật giá tăng 4 lần so với năm 1950 thì đến 1953 chỉ tăng 1,15 lần so
với năm 1952, "đã giữ được mức giá không lên quá cao so với số giấy bạc đã
phát hành" (Báo cáo trình bày trước Hội nghi lần thứ tư của Trung ương Đảng
khóa II). Như vậy là ngay trong thời kỳ đầu, số cửa hàng mậu dịch quốc doanh
còn ít, hàng hóa chưa nhiều, mặt hàng chưa phong phú, song đã có tác dụng
nhất định trong việc đấu tranh với tư thương, hạn chế đầu cơ nâng giá, làm cho
vật giá đi dân vào thế ổn định, góp phần vào việc giữ giá đồng tiền, đồng thời
tạo một nguồn thu ngày càng lớn cho ngân sách Nhà nước. Tóm lại, từ khi thi
hành chính sách kinh tế tài chính mới, tuy không thêm một loại thuế nào, thuế
suất cung không tăng (mà thuế nông nghiệp năm 1952 còn hạ thấp tỷ lệ động
viên) nhưng do sản xuất phát triển (có phần do tác dụng khuyến khích sản xuất
của thuế) và do công tác quản lý thu có tiến bộ nên số thu cho ngân sách Nhà
nước ngày càng tăng, thuế nông nghiệp lấy năm 1951 là 100, thì 1952: 277,
1953: 430; 1954: 326; thuế công thương năm 1952: 700; 1953: 1720; 1954:
2797. Thu chi ngân sách Nhà nước được thăng bằng là cơ sở vững chắc để quản
lý tiền tệ, bình ổn vật giá. phạm vi lưu hành đồng tiền của ta được mở rộng
thêm, việc quản lý phát hành tiền ngày càng có kế hoạch. Mậu dịch quốc doanh
đẩy mạnh thu mua và bán hàng, tiền tệ thâm nhập sâu hơn vào thôn quê và miền
núi. Chính sách tín dụng cũng góp phần thúc đẩy sản xuất và làm vốn luân
chuyển nhanh hơn. Nhờ có các kết quả đó, ta đã từng bước ngăn chặn được vật
giá leo thang và lạm phát. Tiền tệ vật giá ổn định lại tạo điều kiện thăng bằng
thu chi ngân sách và thúc đẩy sản xuất phát triển. Kết quả phấn đấu thực hiện
chính sách kinh tế tài chính mới đã đảm bảo cung cấp cho hai nhiệm vụ đánh
6% năm 1957 so với thu nhập của nông dân một phần quan trọng do kê khai sụt
diện tích và sản lượng sau cải cách ruộng đất. Tình hình trên nói lên khả năng to
lớn của thuế trong điều kiện kinh tế sản xuất nhỏ, cá thể còn rộng lớn, vừa nói
lên tích chất phức tạp, khó khăn trong việc đấu tranh thực hiện chính sách. Cả
hai nguồn thu trong nước và ngoài nước đều tăng, nhưng tỷ trọng nguồn thu
ngoài nước giảm xuống, tỷ trọng nguồn thu trong nước tăng đã thể hiện sự phát
triển tích cực, lành mạnh của tình hình kinh tế và tài chính trong giai đoạn khôi
phục kinh tế. Cả hai nguồn thu trong nước và ngoài nước đều tăng, nhưng tỷ
trọng nguồn thu ngoài nước giảm xuống, tỷ trọng nguồn thu trong nước tăng đã
thể hiện sự phát triển tích cực, lành mạnh của tình hình kinh tế và tài chính
trong giai đoạn khôi phục kinh tế. Về chi thì quy mô, phương hướng và kết cấu
thay đổi rõ rệt so với thời kỳ kháng chiến, phản ánh đúng và đáp ứng tốt đòi hỏi
của nhiệm vụ mới. Tốc độ chi tăng hàng năm: năm 1956 so với năm 1955 tăng
58%, năm 1957 so với năm 1956 tăng 12,7%. Nét nổi bật là nếu trong chiến
tranh, ngân sách chủ yếu phục vụ cho chiến đấu, phần dành cho xây dựng kinh
tế rất ít, thì nay khoản chi cho xây dựng kinh tế và phát triển văn hoá chiếm tỷ
trọng tuyệt đối lớn, năm sau cao hơn năm trước, tính bình quân trong ba năm
(1955-1957) chiếm khoảng 60% tổng số chi ngân sách, còn chi quốc phòng
giảm nhiều so với trước, đặc biệt là chi cho quản lý hành chính được Nhà nước
tăng cường quản lý, quy định tiêu chuẩn, định mức chặt chẽ nên tỷ trọng giảm
nhanh qua từng năm. Ngân sách đã dành trên 45% tổng số chi cho kiến thiết cơ
bản, trong đó chi kiến thiết cho khu vực sản xuất chiếm gần 80%, với tốc độ
tăng chi bình quân hàng năm là 56%. Từ số vốn này, ngành công nghiệp đã
được đầu tư khoảng 30% trong ba năm, tăng từ 6,9% năm 1955 lên 30,6% năm
1956 và 41,8% năm 1957, để khôi phục các xí nghiệp cũ, xây dựng một số cơ
sở mới chú trọng trước hết công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng đồng thời quan
tâm đúng mức đến các ngành công nghiệp nặng quan hệ trực tiếp đến công
nghiệp nhẹ và nông nghiệp: ngành nông nghiệp nhận được 13,3% để phục hồi
của năm cao nhất trước chiến tranh, giao thông vận tải không còn bị ách tắc, lưu
thông hàng hoá được mở rộng trên toàn miền Bắc, thị trường giá cả, tiền tệ đi
vào thế ổn định, đời sống nhân dân bớt khó khăn có mặt được cải thiện, nhất là
nông dân. Tài chính đã quán triệt chủ trương quan điểm của Đảng, vươn lên cân
bằng được thu chi ngân sách một cách tích cực, đáp ứng tốt nhu cầu về vốn to
lớn hơn trước và sử dụng vốn đúng hướng, có hiệu quả góp phần xứng đáng vào
thắng lợi của những nhiệm vụ kinh tế xã hội trong giai đoạn này, đạt được bước
phát triển rõ rệt về lượng cũng như về chất và từ những thành tựu của công cuộc
khôi phục kinh tế tài chính đã có cơ sở vững chắc hơn để tiếp tục phát huy vai
trò và tác dụng của mình trên con đường tiến lên xây dựng chủ nghĩa xa hội ở
miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Ba năm cải tạo
Xã hội Chủ nghĩa và bước đầu phát triển kinh tế và văn hoá (1958-1960) Ngân
sách Nhà nước được tiếp tục củng cố và phát triển Phục vụ nhiệm vụ cải tạo xã
hội chủ nghĩa và phát triển một bước kinh tế và văn hoá miền Bắc, đồng thời
dựa vào kết quả thực hiện nhiệm vụ đó, ngân sách Nhà nước đã được tiếp tục
củng cố và phát triển Trong ba năm 1958 - 1960, nhờ những cố gắng về mọi mặt
thực hiện thắng lợi kế hoạch cải tạo xã hội chủ nghĩa và phát triển kinh tế văn
hoá nền sản xuất xã hội của miền Bắc với tốc độ nhanh. Bình quân hàng năm
sản phẩm xã hội tăng 14,1% thu nhập quốc dân càng tăng với nhịp độ cao. Trên
cơ sở thu nhập quốc dân tăng và với các chính sách tài chính được hoàn thiện,
bổ sung thêm, đã cố gắng tổ chức công tác động viên nguồn vốn trong nước,
tranh thủ nguồn vốn ngoài nước nên thu ngân sách Nhà nước tăng nhanh qua
từng năm với tốc độ cao, đáp ứng nhu cầu của nhiệm vụ cách mạng trong giai
đoạn mở đầu công cuộc xây dựng kinh tế xã hội chủ nghĩa. Mặc dầu nguồn viện
trợ của các nước anh em ngày càng nhiều, tỷ trọng số thu trong nước tong tổng
số thu ngân sách vẫn tăng lên năm sau cao hơn năm trước, nhất là thu từ kinh tế
quốc doanh . Nhịp độ tăng thu từ kinh tế quốc doanh, nhanh hơn nhiều so với
nhịp độ tăng thu ngân sách nói chung, so với nhịp độ tăng nguồn thu trong nước
1959, về giáo dục, số học sinh phổ thông tăng lên bằng 1,5 lần năm 1957, gấp
11 lần hồi Pháp thuộc, sinh viên đại học bằng 2,1 lần năm 1957, gấp 14 lần thời
Pháp thuộc; về văn hoá nghệ thuật, các loại hình đều phát triển, tiêu biểu là số
sách xuất bản gấp 11 lần hồi Pháp thuộc và số thư viện tăng, đặc biệt là các tủ
sách phát triển khá phổ biến đến tất cả các cơ quan xí nghiệp, khu phố và nông
thôn; về y tế, số giường bệnh tăng gần 60% so với năm 1957, tất cả các xã đều
có ban phòng bệnh và nhiều cán bộ y tế cũng như nữ hộ sinh xã. Bám sát và
phục vụ đắc lực nhiệm vụ chính trị, ngân sách Nhà nước trong những năm
1958-1960 đã được tổ chức và quản lý với tinh thần cân đối thu chi một cách
tích cực, chẳng những đáp ứng nhu cầu vốn tăng lên mà còn có một số kết dư,
thực sự thể hiện tính chất là ngân sách của nền kinh tế quốc dân phát triển theo
chủ nghĩa xã hội. Đại hội lần thứ ba của Đảng với vấn đề công nghiệp hoá xã
hội chủ nghĩa và nhiệm vụ Tài chính Thắng lợi to lớn của giai đoạn khôi phục
kinh tế, cải tạo xã hội chủ nghĩa và bước đầu phát triển kinh tế, văn hóa từ 1954
đến 1960 đã tạo điều kiện tiền đề cho miền Bắc khởi đầu sự nghiệp công nghiệp
hóa xã hội chủ nghĩa, xây dựng sơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội.
Tháng 9 năm 1960 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ ba của Đảng đã đề ra
đường lối và nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới, như Hồ Chủ Tịch đã chỉ
rõ trong lời khai mạc là "Đại hội lần này là đại hội xây dựng chủ nghĩa xã hội ở
miền Bắc và đấu tranh hòa bình thống nhất nước nhà". Căn cứ vào tình hình và
đặc điểm nước ta, Đại hội đã xác định rằng cách mạng Việt Nam trong giai đoạn
mới có hai nhiệm vụ chiến lược khác nhau, tiến hành đồng thời ở hai miền:
Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân
dân ở miền Nam, trong đó, "Tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền
Bắc là nhiệm vụ quyết định nhất đối với sự phát triển của toàn bộ cách mạng
Việt nam, đối với sự nghiệp thống nhất nước nhà". Đại hội đã chỉ rõ cải tạo xã
hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội là hai mặt của cuộc cách mạng xã
hội chủ nghĩa. ở miền Bắc, công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trung
Sau nông nghiệp và công nghiệp, Đảng đã chú ý đến lĩnh vực lưu thông phân
phối. Vì thế tháng 12 năm 1964, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp hội nghị
lần thứ X chuyên bàn về công tác thương nghiệp và giá cả, đã đề ra những
nhiệm vụ công tác trong các lĩnh vực này là:
+ Tăng cường lực lượng của thương nghiệp quốc doanh và hợp tác xã mua
bán, tiếp tục hoàn thành cải tạo xã hội chủ nghĩa trong thương nghiệp, tổ chức
quản lý tốt cho nông thôn, củng cố và mở rộng thị trường xã hội chủ nghĩa
thống nhất để phục vụ và thúc đẩy sản xuất phát triển, phục vụ tốt đời sống
nhân
dân.
+ Hướng ngoại thương vào phục vụ nhiệm vụ trung tâm là công nghiệp hóa xã
hội chủ nghĩa, phấn đấu tăng nhanh xuất khẩu để đảm bảo yêu cầu nhập khẩu
ngày càng tăng, ra sức khai thác những khả năng to lớn về nông nghiệp nhiệt
đới, tài nguyên thiên nhiên phong phú và sức lao động dồi dào để tăng nhanh
khối lượng và nâng cao chất lượng hàng xuất khẩu, tranh thủ nhập khẩu kỹ
thuật tiên tiến, thích hợp với hoàn cảnh nước ta, bảo đảm nhập khẩu thiết bị toàn
bộ và thiết bị lẻ cần cho việc trang bị kỹ thuật mới và đổi mới kỹ thuật sản xuất
cho
toàn
bộ
nền
kinh
tế
Để đáp ứng yêu cầu bước đầu công nghiệp hóa, xây dựng cơ sở vật chất kỹ
thuật của chủ nghĩa xã hội và thực hiện các chỉ tiêu phát triển kinh tế như đã nêu
trên. Đại hội lần thứ III của Đảng đã đặt ra nhiều vấn đề Tài Chính phải giải
quyết
cho
phù
hợp
với
tình
hình
và
nhiệm
vụ
mới.
Trước hết là vấn đề cải tiến chế độ thu tài chính sao cho phù hợp với tình hình
kinh tế quốc doanh đã lớn mạnh, nền kinh tế tập thể đã hình thành và phát triển
sau cải tạo xã hội chủ nghĩa. Đại hội đã quyết định: "Về phía Nhà nước, cần
nghiên cứu sớm các chính sách thu đối với kinh tế quốc doanh, đối với kinh tế
hợp tác xã, chính sách thuế nông nghiệp cho phù hợp với tình hình quan hệ sản