ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐÀO THỊ THU HƢƠNG
PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ ĐỘNG VẬT RỪNG
NGUY CẤP, QUÝ, HIẾM TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2016
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐÀO THỊ THU HƢƠNG
PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ ĐỘNG VẬT RỪNG
NGUY CẤP, QUÝ, HIẾM TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số
: 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. DOÃN HỒNG NHUNG
Hà Nội – 2016
1.3.2. Sự cần thiết phải bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm bằng pháp luật Error!
Bookmark not defined.
1.3.3. Các yếu tố tác động đến pháp luật về bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và tiêu
chí đánh giá hiệu quả thực thi pháp luật về bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm ...Error!
Bookmark not defined.
1.3.4. Nội dung của pháp luật về bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm tại Việt Nam
.......................................................................................................Error! Bookmark not defined.
1.4. Pháp luật về bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm ở một số quốc gia trên
thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.........Error! Bookmark not defined.
1.4.1. Kinh nghiệm của Ấn Độ ..................................Error! Bookmark not defined.
1.4.2. Kinh nghiệm của Namibia ...............................Error! Bookmark not defined.
1.4.3. Bài học kinh nghiệm từ Ấn Độ và Namibia đối với Việt Nam trong việc bảo vệ
động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm ...........................Error! Bookmark not defined.
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ ĐỘNG VẬT RỪNG
NGUY CẤP, QUÝ, HIẾM TẠI VIỆT NAM ........ Error! Bookmark not defined.
2.1. Thực trạng quy định pháp luật về quản lý động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm
tại Việt Nam ..............................................................Error! Bookmark not defined.
2.1.1 Thực trạng quy định pháp luật về quản lý động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm
tại Việt Nam ..............................................................Error! Bookmark not defined.
2.1.2. Thực trạng quy định pháp luật về gây nuôi động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm
tại Việt Nam ...............................................................Error! Bookmark not defined.
2.1.3. Thực trạng quy định pháp luật về xuất, nhập khẩu động vật rừng nguy cấp,
quý, hiếm tại Việt Nam ..............................................Error! Bookmark not defined.
2.1.4. Thực trạng quy định pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ động
vật rừng nguy cấp, quý, hiếm tại Việt Nam ...............Error! Bookmark not defined.
2.2. Thực trạng thực hiện pháp luật về bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm tại
Việt Nam ...................................................................Error! Bookmark not defined.
2.2.1. Thực trạng thực hiện pháp luật về quản lý động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm
cấp, quý, hiếm ........................................................... Error! Bookmark not defined.
3.3.4. Giải pháp tăng cường thực hiện pháp luật ..... Error! Bookmark not defined.
KẾT LUẬN ........................................................... Error! Bookmark not defined.
TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................................. 21
PHỤ LỤC
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Việt Nam là một trong những quốc gia giàu tài nguyên đa dạng sinh học nhất
thế giới. Với diện tích chỉ 331.698 km2[83], chiếm chưa đến 1% diện tích trái đất, Việt
Nam sở hữu hơn 10% số loài sinh vật được biết đến [61]. Trong đó, các loài động vật
rừng là một mắt xích quan trọng của nguồn tài nguyên đa dạng sinh học này.
Mặc dù vậy, trong thời gian qua, những loài động vật rừng như hổ, tê giác, tê
tê … đang dần dần biến mất. Việt Nam xếp hạng thứ 16 trong số 152 quốc gia được
nghiên cứu về tỷ lệ của các loài ĐVHD có nguy cơ bị đe dọa cao nhất và nằm trong
15 nước có số loài thú bị đe dọa [81]. Nguyên nhân chính là do nạn săn bắn, buôn
bán, nuôi nhốt, tàng trữ, tiêu thụ bất hợp pháp động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm,
các bộ phận và dẫn xuất của chúng, và do nhu cầu tiêu dùng rất lớn các sản phẩm từ
động vật ở nước ta.
Đánh giá được tầm quan trọng của việc bảo vệ các loài động vật rừng nguy
cấp, quý, hiếm đối với bảo tồn ĐDSH, Việt Nam đã thể hiện nhiều nỗ lực trong việc
ngăn cấm, xử lý các hành vi vi phạm, và tăng cường thực thi pháp luật, trong đó
phải kể đến việc xây dựng một hệ thống văn bản pháp luật khá đầy đủ để điều chỉnh
như các quy định trong Bộ luật Hình sự số 15/1999/QH10, sửa đổi, bổ sung năm
2009; Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 ngày 27/11/2015; Luật Bảo vệ và Phát triển
Rừng năm 2004; Luật Đa dạng sinh học năm 2008; và hàng loạt các Nghị định,
Thông tư quy định vấn đề quản lý và xử lý vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ động vật
rừng. Ngoài ra, Việt Nam cũng tham gia vào các Công ước quốc tế trong lĩnh vực
Anh Tuấn, Tạp chí Môi Trường số 7-2015; bài nghiên cứu “Nghiên cứu một số quy
định pháp luật về bảo vệ và phát triển thực vật, động vật hoang dã ở Việt Nam” của
Nguyễn Thanh Huyền, tạp chí Nông nghiệp và phát triển Nông thôn, tháng 6/2011;
“Công tác phòng chống vi phạm pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã ở nước ta và
một số khó khăn, vướng mắc và giải pháp khắc phục” của Đặng Thu Hiền, tạp chí
Dân chủ và Pháp luật, số 5/2011; “Vướng mắc cần giải quyết trong việc áp dụng
Điều 190 Bộ luật Hình sự về tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật hoang dã
quý hiếm” của Nguyễn Duy Giảng, Tạp chí Kiểm sát, số 4/2009; bài nghiên cứu
“Một số vấn đề về pháp lý trong xử lý các tội phạm liên quan đến động vật hoang dã,
2
quý, hiếm” của Kiểm sát viên Trịnh Ngọc Chính đăng trên Viện Kiểm sát nhân dân
tỉnh Lạng Sơn, thứ Năm, 15/10/2015 09:14:53 (GMT+7).
Trong lĩnh vực bảo vệ Đa dạng sinh học, có thể kể tên một số công trình nghiên
cứu như: Luận văn thạc sĩ Luật học của Đặng Thị Thu Hải, Đại học Quốc gia Hà Nội,
năm 2006: “Pháp luật về bảo vệ Đa dạng sinh học ở Việt Nam”; Luận văn thạc sĩ Luật
học của Lương Thị Huyền Trang, Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2014: “Pháp luật về
bảo tồn đa dạng sinh học và thực tiễn áp dụng tại Vườn quốc gia Pù Mát, huyện Con
Cuông, tỉnh Nghệ An”. Ngoài ra còn có các bài viết như “Pháp luật về bảo tồn đa dạng
sinh học, thực trạng và tồn tại trước khi có Luật Đa dạng sinh học” của TS. Nguyễn
Văn Tài đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 133 năm 2008;
Có thể thấy, các công trình nghiên cứu trên đã phân tích về pháp luật bảo vệ
động vật hoang dã và đa dạng sinh học, trong đó có một số vấn đề liên quan như
định giá tài sản trong tố tụng hình sự liên quan đến động vật thuộc danh mục loài
nguy cấp, quý, hiếm; phân tích việc thực thi pháp luật liên quan đến các loài động
vật hoang dã, nguy cấp, quý, hiếm. Các bài viết này chủ yếu tập trung vào pháp luật
bảo vệ các loài động vật hoang dã, bảo tồn đa dạng sinh học và phân tích một trong
những khía cạnh nằm trong lĩnh vực pháp luật bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý,
hiếm
Đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo vệ động vật rừng nguy
cấp, quý, hiếm tại Việt Nam
Để đạt được mục đích nghiên cứu, đề tài sẽ giải quyết những nhiệm vụ sau:
Làm rõ những vấn đề lí luận của pháp luật về bảo vệ động vật rừng
nguy cấp, quý, hiếm tại Việt Nam
Đánh giá thực trạng quy định của pháp luật và thực trạng thực hiện
pháp luật về bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm
Đề xuất định hướng và giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật và tổ chức
thực hiện pháp luật về bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong quá trình tiếp cận và giải quyết những vấn đề mà luận văn đặt ra, luận
văn đã sử dụng phương pháp biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác- Lênin, dựa trên
đường lối quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về chính sách kinh tế- xã hội và các
nội dung khác có liên quan. Trong những trường hợp cụ thể, luận văn kết hợp sử
4
dụng các phương pháp nghiên cứu phù hợp như thống kê, so sánh, tổng hợp, phân
tích…nhằm kết hợp nhuần nhuyễn giữa kiến thức lý luận và thực tiễn để góp phần
làm sáng tỏ những vấn đề cần nghiên cứu. Trong đó, phương pháp phân tích để làm
rõ những hạn chế trong quy định pháp luật hiện hành về bảo vệ động vật rừng nguy
cấp, quý, hiếm; phương pháp so sánh giữa pháp luật của Việt Nam với pháp luật quốc
tế về bảo vệ ĐVHD nói chung và các loài nguy cấp, quý, hiếm nói riêng, giữa nội tại
các quy định trong hệ thống pháp luật Việt Nam để chỉ ra những mặt tích cực và hạn
chế của các quy định pháp luật hiện hành; phương pháp tổng hợp, thống kê các số
liệu thực tế về thực trạng bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm của Việt Nam,
thực trạng bảo vệ ĐVHD của một số quốc gia trên thế giới, cũng như thực tiễn áp
dụng các quy định pháp luật làm dẫn chứng minh họa cho luận văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, kết
cấu của luận văn gồm 3 chương như sau:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của pháp luật về bảo vệ động vật rừng nguy
cấp, quý, hiếm.
- Chương 2: Thực trạng pháp luật về bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm tại
Việt Nam.
- Chương 3: Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm tại
Việt Nam.
6
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ
ĐỘNG VẬT RỪNG NGUY CẤP, QUÝ, HIẾM
1.1. Một số vấn đề lý luận cơ bản về động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và bảo
vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm
1.1.1. Khái niệm động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm
Hiện nay, các văn bản pháp luật Việt Nam đưa ra nhiều khái niệm liên quan
đến động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm.
Khoản 14 Điều 3 Luật Bảo vệ và Phát triển Rừng năm 2004 định nghĩa: “Loài
động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm là loài động vật có giá trị đặc biệt về kinh tế,
khoa học và môi trường, số lượng còn ít trong tự nhiên hoặc có nguy cơ bị tuyệt
chủng thuộc Danh mục các loài động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm do Chính phủ
quy định chế độ quản lý, bảo vệ” [25, Điều 3]. Định nghĩa này cũng được nhắc lại
tại Điều 2 Nghị định của Chính phủ số 32/2006/NĐ-CP ngày 30 tháng 3 năm 2006
về Quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm [5, Điều 2].
Qua định nghĩa trên về động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm, có thể thấy bốn
vấn đề như sau:
Một là sự phân bố môi trường sống của loài động vật rừng.
vẫn được coi là động vật rừng. Ví dụ: Cá cóc Tam Đảo, có danh pháp khoa học là
Paramesotriton deloustali, là một loài động vật lưỡng cư đặc hữu sống tại các khe suối
rậm rạp sâu trong rừng Tam Đảo, Việt Nam [22]. Cá cóc Tam Đảo nằm trong Danh
mục IIB – Danh mục các loài động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm thuộc Nghị định số
32/2006/NĐ-CP ngày 30 tháng 3 năm 2006 về Quản lý thực vật rừng, động vật rừng
nguy cấp, quý, hiếm. Tương tự như vậy, các loài chim như bồ câu, yến, vẹt… có môi
trường sống trong rừng vẫn được coi là động vật rừng, khác với các loài chim di cư.
Khi nhắc đến các loài chim di cư là nhắc đến tập tính di chuyển đều đặn theo mùa hàng
năm của chúng, việc di cư nhằm mục đích đáp ứng sự thay đổi thức ăn, sinh cảnh hoặc
thời tiết. Thông thường sự di cư ở chim là sự di chuyển từ phía bắc xuống phía nam
dọc theo đường bay giữa vùng sinh sản và vùng trú đông [72]. Chúng không sinh sống
tại một khu vực cố định, ngược lại chúng có thể bay liên tục trong rất nhiều ngày
để tìm nguồn thức ăn mới, hoặc theo tập quán sinh sản, hoặc tìm một nơi có điều kiện
8
khí hậu thích nghi với chu kỳ sinh trưởng của chúng, do môi trường sống đa dạng và
linh hoạt như vậy, chúng cũng không được xếp loại nhóm động vật rừng.
Thứ hai, khái niệm “nguy cấp” được dùng để chỉ khả năng tuyệt chủng của
một loài trong tương lai. Khái niệm này được đề cập đến trong Sách đỏ của IUCN
(International Union for Conservation of Nature and Naturajjl Resources) hay gọi
tắt là Sách Đỏ IUCN (IUCN Red List of Threatened Species) – Danh sách về tình
trạng bảo tồn và đa dạng của các loài động vật và thực vật trên thế giới. Một loài bị
coi là Nguy cấp khi nó phải đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng trong tự nhiên rất cao
trong một tương lai rất gần nhưng kém hơn mức cực kỳ nguy cấp [46]. Các yếu tố
như số lượng cá thể còn lại trong tự nhiên, sự suy giảm quần thể theo thời gian, tỷ lệ
sinh sản, khu phân bố của loài, các mối đe dọa từ bên ngoài sẽ được xem xét khi
đánh giá tính nguy cấp của một loài.
Thứ ba, các giá trị đặc biệt mà loài động vật rừng mang lại trong lĩnh vực kinh
của pháp luật Việt Nam, các loài động vật được coi là động vật rừng nguy cấp, quý,
hiếm nếu nằm trong Danh mục Động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm được ban hành
kèm theo Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30 tháng 3 năm 2006 về Quản lý thực
vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm.
Từ những phân tích trên, ta có thể hiểu: “Động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm
là những loài động vật có môi trường sống nằm trong hệ sinh thái rừng, số lượng
còn ít và đang phải đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng rất cao trong tự nhiên trong
một tương lai rất gần, mang nguồn gen quý, hiếm để bảo tồn và chọn tạo giống; có
khả năng sinh lợi cao khi được thương mại hóa; và có vai trò quyết định trong việc
duy trì sự cân bằng của các loài khác trong quần xã; hoặc có tính đại diện hay tính
độc đáo của khu vực địa lý tự nhiên, được pháp luật Việt Nam công nhận”.
Cũng cần làm rõ khái niệm “động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm” với khái niệm
“loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ”. Luật đa dạng sinh học năm 2008 định
nghĩa về “loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ” như sau: Một là, các loài đó bao
gồm: loài hoang dã, giống cây trồng, giống vật nuôi, vi sinh vật và nấm đặc hữu, Hai là,
có giá trị đặc biệt về khoa học, y tế, kinh tế, sinh thái, cảnh quan, môi trường hoặc văn
hóa - lịch sử, Ba là, số lượng loài còn ít hoặc bị đe dọa tuyệt chủng [26, Điều 3]. Danh
mục các loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ được ban hành kèm theo Nghị
10
định số 160/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 về tiêu chí xác định loài và chế độ
quản lý loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm, được ưu tiên bảo vệ. Thuật ngữ
“được ưu tiên bảo vệ” trong khái niệm trên đã cho thấy đây là nhóm loài có chế độ bảo
vệ cao nhất trong pháp luật Việt Nam.
So sánh khái niệm Loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ và Động vật
rừng nguy cấp, quý, hiếm:
Bảng 1.1: Bảng so sánh
Tiêu chí
Phân bố đa dạng ở nhiều môi Chỉ phân bố ở rừng
phân bố
trường sống khác nhau
Tình trạng Mức độ nguy cấp, số lượng cá Mức độ nguy cấp, số lượng còn ít
loài
thể còn ít, hoặc đang bị đe dọa trong tự nhiên hoặc có nguy cơ bị
tuyệt chủng
tuyệt chủng
Giá trị đặc Có giá trị đặc biệt về một trong Có giá trị đặc biệt về một trong
biệt
các lĩnh vực sau: khoa học, y tế, các lĩnh vực kinh tế, khoa học, và
kinh tế, sinh thái, cảnh quan, môi môi trường
trường hoặc văn hóa - lịch sử
11
Mức độ
Được ưu tiên bảo vệ - mức độ Được bảo vệ ở mức độ thấp hơn
bảo vệ
bảo vệ cao nhất
của BNN-PTNT: Hướng dẫn xử lý tang vật là động vật rừng sau khi xử lý tịch thu,
Mục II Giải thích một số từ ngữ có nhắc đến khái niệm “động vật rừng thông
thường”. Theo đó, các nhà làm luật đã dùng phương pháp loại trừ để định nghĩa
khái niệm động vật rừng thông thường, cụ thể: động vật rừng thông thường là các
loài động vật không nằm trong Danh mục động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và các
Phụ lục I, II của Công ước về Buôn bán quốc tế các loài ĐVHD nguy cấp (sau đây
viết tắt là Công ước CITES [1].
1.1.2. Tiêu chí xác định động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm tại Việt Nam
Như đã phân tích ở trên, Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30 tháng 3 năm
2006 của Chính phủ về Quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm
không đưa ra tiêu chí xác định thế nào là động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm. Tuy
nhiên, dựa trên khái niệm động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm, có thể hiểu một loài
động vật để được xếp vào nhóm động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm, cần phải thỏa
mãn một số tiêu chí như sau:
Thứ nhất, môi trường sống của loài động vật thuộc hệ sinh thái rừng.
Thứ hai, loài động vật rừng đang nằm trong tình trạng nguy cấp. Dựa theo
tiêu chuẩn của sách đỏ IUCN thì: Một taxon được coi là nguy cấp khi chưa phải là rất
nguy cấp nhưng đang đứng trước một nguy cơ rất lớn sẽ bị tuyệt chủng ngoài thiên
nhiên trong một tương lai gần, được xác định bởi một tiêu chuẩn bất kỳ nào dưới đây:
Một là, suy giảm quần thể dưới bất kỳ dạng nào dưới đây dựa trên (và xác định
được) một trong những điểm như sau: quan sát trực tiếp; chỉ số về sự phong phú
thích hợp đối với taxon đó; sự suy giảm nơi cư trú, khu phân bố và/hay chất lượng
nơi sinh cư; mức độ khai thác hiện tại hoặc khả năng, tác động của các taxon di
nhập, lai tạo, dịch bệnh, chất ô nhiễm, vật cạnh tranh hoặc ký sinh.
-
Suy giảm ít nhất 50%, theo quan sát, ước tính, suy đoán hoặc phỏng đoán
trong 10 năm cuối hoặc 3 thế hệ cuối (lấy khoảng thời gian nào dài nhất)
(lấy khoảng thời gian nào dài nhất) hoặc:
-
Suy giảm liên tục, theo quan sát, dự đoán hoặc suy đoán về số lượng cá thể
trưởng thành và cấu trúc quần thể dưới một trong các dạng sau: Bị chia cắt
nghiêm trọng (nghĩa là không một tiểu quần thể nào ước tính có trên 250 cá
thể trưởng thành); tất cả các cá thể chỉ ở trong một tiểu quần thể duy nhất.
Bốn là, quần thể ước tính chỉ dưới 250 cá thể trưởng thành.
Năm là, phân tích định lượng cho thấy xác suất bị tuyệt chủng ngoài thiên nhiên ít
nhất là 20% trong 20 năm tới hoặc 5 thế hệ tới (lấy khoảng thời gian nào dài nhất) [46].
Dựa trên các tiêu chuẩn của Sách đỏ IUCN trên, Nghị định số 160/2013/NĐCP ngày 12/11/2013 của Chính phủ về Tiêu chí xác định loài và chế độ quản lý loài
thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm, được ưu tiên bảo vệ cũng nêu ra tiêu chí
xác định loài có số lượng cá thể còn ít hoặc đang bị đe dọa tuyệt chủng phù hợp với
các điều kiện tự nhiên ở Việt Nam. Các tiêu chí đó là [9, Điều 5]:
- Có sự suy giảm quần thể ít nhất 50% theo quan sát hoặc ước tính trong mười
năm gần nhất hoặc ba thế hệ cuối tính đến thời điểm đánh giá; hoặc được dự
báo suy giảm ít nhất 50% trong 10 năm hoặc ba thế hệ tiếp theo tính từ thời
điểm đánh giá;
14
- Nơi cư trú hoặc phân bố ước tính dưới 500 km2 và quần thể bị chia cắt nghiêm
trọng hoặc suy giảm liên tục về khu vực phân bố, nơi cư trú;
- Quần thể loài ước tính dưới 2.500 cá thể trưởng thành thuộc một trong các
trường hợp: suy giảm liên tục theo quan sát hoặc ước tính số lượng cá thể từ
20% trở lên trong năm năm gần nhất hoặc hai thế hệ cuối tính đến thời điểm
đánh giá; suy giảm liên tục số lượng cá thể trưởng thành, cấu trúc quần thể
Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30 tháng 03 năm 2006 của Chính phủ về Quản
lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm, do vậy, chế độ quản lý đối với
69 loài động vật này được áp dụng theo quy định tại Nghị định số 160/2013/NĐ-CP
ngày 12 tháng 11 năm 2013, tức là được áp dụng theo quy chế của loài nguy cấp,
quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ [9, Điều 19]. Như vậy, trên thực tế, động vật rừng
nguy cấp, quý, hiếm được phân chia thành 3 nhóm: Nhóm được ưu tiên bảo vệ theo
Nghị định số 160/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ về Tiêu
chí xác định loài và chế độ quản lý loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm
được ưu tiên bảo vệ, nhóm IB và nhóm IIB theo Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày
30 tháng 03 năm 2006 của Chính phủ về Quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy
cấp, quý, hiếm.
Ở rất nhiều quốc gia trên thế giới, người ta không phân loại động vật rừng nguy
cấp, quý, hiếm như ở Việt Nam mà phân loại ĐVHD theo mức độ nguy cấp tương
ứng với các tiêu chí của IUCN. Theo tiêu chí đánh giá của IUCN cho Sách đỏ, các
loài sinh vật thiên nhiên được xếp vào 9 bậc theo các tiêu chí về mức độ đe dọa
tuyệt chủng như tốc độ suy thoái (rate of decline), kích thước quần thể (population
size), phạm vi phân bố (area of geographic distribution), và mức độ phân tách quần
thể và khu phân bố (degree of population and distribution fragmentation), cụ thể
như sau [46]:
- Tuyệt chủng (Extinct, EX): Một loài bị coi là tuyệt chủng khi có những bằng
chứng chắc chắn rằng cá thể cuối cùng đã chết.
- Tuyệt chủng trong tự nhiên (Extinct in the Wild, EW): Một loài bị coi là tuyệt
chủng trong tự nhiên khi các cuộc khảo sát kỹ lưỡng ở sinh cảnh đã biết và
hoặc sinh cảnh dự đoán, vào những thời gian thích hợp (theo ngày, mùa,
năm) xuyên suốt vùng phân bố lịch sử của loài đều không ghi nhận được cá
16
thể nào. Các khảo sát nên vượt khung thời gian thích hợp cho vòng sống và
mang ý nghĩa lịch sử thuộc tài sản chung), không để bị tổn thất, mất mát [23].
Khoản 1 Điều 3 Luật ĐDSH số 20/2008/QH12 ngày 13 tháng 11 năm 2008 đã đưa
ra khái niệm về “bảo tồn ĐDSH” như sau: “Bảo tồn ĐDSH là việc bảo vệ sự phong
phú của các hệ sinh thái tự nhiên quan trọng, đặc thù hoặc đại diện; bảo vệ môi
trường sống tự nhiên thường xuyên hoặc theo mùa của loài hoang dã, cảnh quan môi
trường, nét đẹp độc đáo của tự nhiên ; nuôi, trồng, chăm sóc loài thuộc Danh mục
loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ; lưu giữ và bảo quản lâu dài các mẫu
vật di truyề n ” [26, Điều 3]. Từ điển Wikipedia Bách khoa toàn thư mở định nghĩa
“Bảo tồn loài hoang dã là hoạt động bảo vệ các loài thực vật, ĐVHD và môi trường
sống của chúng. Mục đích của việc bảo tồn loài hoang dã là để đảm bảo môi trường
thiên nhiên cho thế hệ tương lai và giúp thế hệ tương lai nhận thức rõ được tầm quan
trọng của việc bảo vệ các loài hoang dã, các khu vực hoang dã đối với con người và
các giống, loài khác” [79]. Tuy nhiên, hiện nay trong các văn bản luật chưa có khái
niệm về “bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm” mà chỉ nêu ra các quy định quản
lý hoạt động này. Cụ thể, Điều 5 Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30 tháng 03 năm
2006 về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm quy định:
Một là, những khu rừng có động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm phân bố tập
trung thì được đưa vào xem xét thành lập khu rừng đặc dụng theo quy định của
pháp luật. Đối với động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm sinh sống ở ngoài các khu
rừng đặc dụng phải được bảo vệ theo quy định của Nghị định này và quy định hiện
hành của pháp luật.
Hai là, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân tiến hành hoạt động sản xuất, xây dựng
công trình, điều tra, thăm dò, nghiên cứu, tham quan, du lịch và các hoạt động khác trong
khu rừng có động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm phải thực hiện các quy định tại Nghị
định này và pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, pháp luật về bảo vệ môi trường.
Ba là, nghiêm cấm những hành vi sau đây:
- Săn, bắn, bẫy, bắt, nuôi nhốt, giết mổ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm
trái quy định tại Nghị định này và quy định hiện hành của pháp luật.
giới hạn về mặt không gian. Khi nguy cơ cho các loài động vật rừng nguy cấp, quý,
hiếm ngày càng lớn thì hoạt động bảo vệ cần phải được diễn ra liên tục, đồng bộ,
đòi hỏi những nỗ lực mạnh mẽ và kịp thời, không bị giới hạn về mặt thời gian.
19