A.
1.
PHẦN MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài
Ngày nay, chính sách tiền tệ ngày càng khẳng định được tầm quan trọng
của nó đối với nền kinh tế. Như chúng ta đã biết, chính sách tiền tệ là một công cụ
chủ yếu để giải quyết các vấn đề ổn định kinh tế vĩ mô, tăng trưởng, lạm phát.
Từ thực tế cho thấy, đứng trước thực trạng lạm phát các năm gần đây đã
có rất nhiều biến động. Cụ thể là năm 2008, tình hình lạm phát đã diễn ra rất cao.
Chính vì thế, nước ta đã chuyển mục tiêu tăng trưởng kinh tế sang chính sách ưu
tiên kiềm chế lạm phát. Từ đó lạm phát đã có xu hướng giảm dần và kinh tế vĩ mô
có dấu hiệu ổn định hơn. Như vậy, việc kiểm soát hợp lý tình hình lạm phát của
một nền kinh tế là vô cùng quan trọng. Thực trạng khủng hoảng tài chính và suy
thoái kinh tế thế giới đã tác động tiêu cực đến kinh tế nước ta trong năm 2009. Tuy
nhiên, việc thực hiện kịp thời các giải pháp kinh tế, nền kinh tế nước ta đã vượt qua
khủng hoảng, duy trì tăng trưởng kinh tế ở mức cao (5,32%), kiểm soát lạm phát ở
mức thấp (6,52%), các cân đối kinh tế lớn về cơ bản được giữ vững, hệ thống tài
chính ngân hàng duy trì và tiếp tục phát triển. Kết quả này có sự đóng góp tích cực
của việc thực thi chính sách tài khoá mở rộng và chính sách tiền tệ nới lỏng, thận
trọng. Trong năm 2010 và những năm tiếp theo, thời kỳ hậu suy giảm kinh tế, kinh
tế nước ta tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức do diễn biến phức tạp
của kinh tế thế giới và trong nước, việc nghiên cứu và đề xuất các giải pháp chính
sách tiền tệ nhằm kiểm soát lạm có ý nghĩa quan trọng và rất cần thiết.
Cho nên, việc điều chỉnh chính sách tiền tệ cho phù hợp với nhu cầu của
nền kinh tế là một vấn đề thiết yếu. Cho nên, Việt Nam xác định mục tiêu tang
trưởng kinh tế và công bằng xã hội là cần phải có những giải pháp để điều chỉnh và
xây dựng chính sách tiền tệ của đất nước một cách có hiệu quả. Vấn đề này thực sự
là một vấn đề khó khăn đối với tất cả các nước trên thế giới nói chung và đối với
3.
Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
-
Về không gian đề tài được nghiên cứu trong phạm vi của Việt Nam.
-
Về thời gian nghiên cứu từ năm 2007 đến 2013.
4.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
-
Làm rõ lý luận của chính sách tiền tệ.
-
Làm rõ thực trạng tác động của chính sách tiền tệ trong vấn đề kiểm
soát lạm phát ở Việt Nam từ 2007 đến 2013.
-
Đưa ra các giải pháp nhằm kiểm soát lạm phát ở Việt Nam thông qua
Nam từ 2015 đến 2020.
CHƯƠNG 1
Cơ sở lý luận, thực tiễn của chính sách tiền tệ và tác động của nó đối với
kiểm soát lạm phát
1.1.
Tổng quan về chính sách tiền tệ
1.1.1. Khái niệm về chính sách tiền tệ và vai trò của chính sách tiền tệ
Khái niệm về chính sách tiền tệ:
Chính sách tiền tệ là quá trình quản lý cung tiền của cơ quan quản lý tiền tệ
(có thể là ngân hàng trung ương), thường là hướng tới một lãi suất mong muốn để
đạt được những mục đích ổn định và tăng trưởng kinh tế như kiềm chế lạm phát,
duy trì ổn định tỷ giá hối đoái, đạt được toàn dụng lao động hay tăng trưởng kinh
tế. Chính sách lưu thông tiền tệ bao gồm việc thay đổi các loại lãi suất nhất định,
có thể trực tiếp hay gián tiếp thông qua các nghiệp vụ thị trường mở; qui định
mức dự trữ bắt buộc; hoặc trao đổi trên thị trường ngoại hối.
Vai trò của chính sách tiền tệ:
Kinh tế thị trường thực chất là một nền kinh tế tiền tệ. Trong đó, chính sách
tiền tệ bao giờ cũng là một trong những công cụ quản lý kinh tế vĩ mô quan trọng
nhất của nhà nước, bên cạnh chính sách tài khóa, chính sách phân phối thu nhập,
chính sách kinh tế đối ngoại.
Ngân hàng trung ương sử dụng chính sách tiền tệ nhằm gây ra sự mở rộng
hay thắt chặt lại trong cung ứng tiền tệ, để ổn định giá trị đồng tiền, đưa sản lượng
và việc làm của quốc gia đến mức mong muốn.
Trong một quãng thời gian nhất định nào đó, chính sách tiền tệ của một quốc
gia có thể được hoạch định theo một trong hai hướng sau đây:
Một là, chính sách tiền tệ mở rộng nhằm tăng lượng tiền cung ứng, khuyến
cuộc sống của một bộ phận người lao động, mất ổn định nền kinh tế - xã hội. Tình
trạng đó gây khó khăn trong việc hoạch định các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội,
gây ra sự xung đột quyền lợi giữa một số nhóm dân cư. Do vậy, kiểm soát lạm phát
nhằm ổn định giá cả hàng hóa và dịch vụ là tiền đề cho việc phát triển kinh tế lâu
bền, bảo đảm ổn định đời sống cho người lao động.
Thông qua chính sách tiền tệ, Ngân hàng trung ương có thể góp phần quan
trọng vào việc kiểm soát lạm phát. Nếu chính sách tiền tệ của Ngân hàng trung
ương nhằm mở rộng cung ứng tiền tê thì giá cả hàng hóa và dịch vụ sẽ tăng lên, tất
yếu sẽ dẫn đến tình trạng lạm phát. Ngược lại, chính sách tiền tệ Ngân hàng trung
ương nhằm thắt chặt cung ứng tiền tệ thì sẽ làm cho giá cả của hàng hóa và dịch vụ
giảm xuống, như vậy tỷ lệ lạm phát giảm xuống. Kiểm soát lạm phát được biểu
hiện trược hết ở chỗ ổn định giá trị đối nội của đồng tiền, tức là sực mua của nó đối
với hàng hóa và dịch vụ trên thị trường trong nước. Mặt khác, nó được biểu hiện sự
ổn định giá trị đối ngoại của đồng tiền, được đo bằng tỷ giá hối đoái thả nổi. Trong
nền kinh tế mở, cùng với sự phát triển của thương mại quốc tế, tỷ giá đồng tiền trở
thành mối qua tâm của các quốc gia. Bởi vì, một sự tăng lên trong giá trị đồng bản
tệ so với ngoại tệ sẽ hạn chế cạnh tranh trên thị trường quốc tế, hạn chế xuất khẩu.
Ngược lại, giá trị đồng bản tệ giảm xuống so với ngoại tệ sẽ khuyến khích xuất
khẩu, hạn chế nhập khẩu.
Giá trị đối nội và giá trị đối ngoại của đồng tiền có quan hệ mật thiết với
nhau. Muốn ổn định tiền tệ và phát triển kinh tế - xã hội, nhà nước phải có biện
pháp ổn định giá trị hàng hóa và dịch vụ trong nước và ổn định tỷ giá hối đoái.
Tuy nhiên, theo đuổi mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền cũng không đồng
nghĩa với việc tỷ lệ lạm phát bằng không. Bởi vì, trong thực tế để có một tỷ lệ lạm
phát giảm xuống thì thường phải chấp nhận một tỷ lệ thất nghiệp gia tăng nhất định
nào đó. Trong các chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước, không thể có được một
sự ổn định giá trị đồng tiền, khi nền kinh tế đang có một tỷ lệ lạm phát vừa đủ
(thường một con số mỗi năm) là cần thiết cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Nhưng
lịch… và khi họ quyết định gia nhập trở lại thị trường lao động, họ phải mất một
thời gian để tìm đúng công việc mà họ mong muốn. Mặt khác, thông thường để có
một tỷ lệ công ăn việc làm cao thì phải chấp nhận một tỷ lệ lạm phát gia tăng nhất
định nào đó. Hai mục tiêu này luôn triệt tiêu nhau trong quá trình thực thi chính
sách tiền tệ.
1.1.2.3.
Tăng trưởng kinh tế
Mục tiêu tăng trưởng kinh tế luôn gắn với mục tiêu việc làm cao. Chính sách
tiền tệ có thể tác động đồng thời đến hai mục tiêu này. Khi cung ứng tiền tệ tăng
lên, trong ngắn hạn lãi suất tín dụng giảm sẽ khuyến khích đầu tư, mở rộng sản
xuất kinh doanh, nhà nước và doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng lao động nhiều
hơn, làm tăng sản lượng và tăng trưởng kinh tế. Ngược lại, khi cung tiền tệ giảm,
trong ngắn hạn lãi suất tăng sẽ hạn chế đầu tư, thu hẹp hoạt động sản xuất kinh
doanh, nhà nước và doanh nghiệp cần ít lao động hơn, làm cho mức sản lượng
giảm, tăng trưởng kinh tế chậm lại.
1.1.2.4.
Quan hệ giữa các mục tiêu
Nhìn tổng quát và các chiến lược lâu dài thì các mục tiêu chính sách tiền tệ
có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, hỗ trợ và thúc đẩy lẫn nhau. Điều đó cho thấy
rằng, trong quá trình thực thi chính sách tiền tệ không thể tuyệt đối hóa một mục
tiêu nào, không thể giải quyết các mục tiêu một cách độc lập trên tầm vĩ mô. Tuy
nhiên, có nơi có lục, trong thời gian ngắn có thể xảy ra sự xung đột, thậm chí triệt
tiêu lẫn nhau giữa các mục tiêu. Điều thường gặp và dễ thấy nhất là sự mâu thuẫn
giữa tỷ lệ lạm phát với tỷ lệ thất nghiệp. Tuy vẫn còn nhiều quan niệm khác nhau,
tài chính quốc tế, như Ngân hàng thế giới, quỹ tiền tệ quốc tế, Ngân hàng phát triển
Châu Á…
1.1.3. Công cụ của chính sách tiền tệ
1.1.3.1.
Nghiệp vụ thị trường mở
Nghiệp vụ thị trường mở là việc Ngân hàng trung ương mua và bán chứng
khoán có giá, mà chủ yếu là tín phiếu kho bạc Nhà nước, nhằm làm thay đổi lượng
tiền cung ứng. Sở dĩ Ngân hàng trung ương tiến hành đại bộ phận nghiệp vụ thị
trường tự do của mình với tín phiếu kho bạc nhà nước là vì thị trường tín phiếu kho
bạc nhà nước có dung lượng lớn, tính lỏng cao, rủi ro thấp.
Ngân hàng trung ương mua bán chứng khoán trên thị trường sẽ làm thay đổi
cơ số tiền tệ (tiền đang lưu hành ngoài hệ thống ngân hàng và tiền dự trữ trong hệ
thống ngân hàng). Đó là nguồn gốc chính gây nên sự biến động trong cung ứng
tiền tệ.
Khi Ngân hàng trung ương mua chứng khoán, làm tăng cơ số tiền tệ, qua đó
làm tăng lượng tiền cung ứng.
Khi Ngân hàng trung ương bán chứng khoán, thu hẹp cơ số tiền tệ, qua đó
làm giảm lượng tiền cung ứng.
Thị trường mở là công cụ quan trọng nhất của Ngân hàng trung ương trong
việc điều tiết lượng tiền cung ứng, bởi những ưu thế vốn có của nó như:
Một là, Ngân hàng trung ương có thể kiểm soát được hoàn toàn lượng
nghiệp vụ thị trường tự do.
Hai là, linh hoạt và chính xác có thể được sử dụng ở bất cứ mức độ nào, điều
chỉnh một lượng tiền cung ứng lớn hay nhỏ.
Ba là, Ngân hàng trung ương dễ dàng đảo ngược lại tình thế của mình.
Bốn là, thực hiện nhanh chóng, ít tốn kém về chi phí và thời gian.
cơn hoảng loạn tài chính cho các ngân hàng thương mại.
Bởi vì, tiền dự trữ bắt buộc được lập tức điều đến các ngân hàng nào cần
thêm dự trữ hơn cả. Ngân hàng trung ương sử dụng công cụ chiết khấu để tránh
những cơn sụp đổ của tài chính bằng cách thực hiện vai trò người cho vay cuối
cùng là một yêu cầu cực kỳ quan trọng để tiến hành chính sách tiền tệ thành công.
Ví dụ ngân hàng dự trữ liên bang Hoa Kỳ cho vay chiết khấu đối với ngân hàng
Franklin National tháng 5 năm 1974, với số tiền 1,75 tỷ đô la (khoảng 5 % tổng số
dự trữ trong hệ thống ngân hàng) đã tránh cho ngân hàng này khỏi sụp đổ. Hay
ngân hàng dự trữ liên bang Hoa Kỳ cho vay chiết khấu đối với ngân hàng
Continental Illiois năm 1984, với số tiền trên 5 tỷ đô la, đã ngăn chặn sự sụp đổ
của ngân hàng này.
Chính sách chiết khấu là một công cụ rất quan trọng trong việc thực thi
chính sách tiền tệ của Ngân hàng trung ương. Nó không chỉ điều tiết lượng tiền
cung ứng, mà còn thực hiện vai trò người cho vay cuối cùng đối với các tổ chức tín
dụng và tác động đến điều chỉnh cơ cấu đầu tư đối với nền kinh tế.
Tuy nhiên, với công cụ này, Ngân hàng trung ương bị động trong việc điều
tiết lượng tiền cung ứng. Bởi vì, Ngân hàng trung ương chỉ có thể thay đổi lãi suất
chiết khấu nhưng không thể bắt buộc các ngân hàng thương mại phải vay chiết
khấu ở Ngân hàng trung ương.
1.1.3.3.
Dự trữ bắt buộc
Dự trữ bắt buộc là số tiền mà các tổ chức tín dụng phải giữ lại, mà không
được dùng để cho vay hoặc đầu tư, mức dự trữ này do Ngân hàng trung ương quy
định và bằng một tỷ lệ nhất định so với tổng sổ tiền gửu của khách hàng tại các tổ
chức tín dụng. Chế độ dự trữ bắt buộc ở các nước khác nhau, ở các thời kỳ khác
nhau thì có thể khác nhau. Nhưng nhìn chung, dự trữ bắt buộc đều mang tính pháp
khả năng cho vay của các ngân hàng thương mại và theo đó lượng tiền cung ứng
tăng lên.
Hiện nay, công cụ dự trữ bắt buộc đóng vai trò kém phần quan trọng trong
quá trình thực thi chính sách tiền tệ của Ngân hàng trung ương, bởi nó phức tạp,
kém linh hoạt, ảnh hưởng đến lợi nhuận các ngân hàng kinh doanh.
Ba công cụ trên đây của chính sách tiền tệ thường được các nước phát triển
theo cơ chế thị trường sử dụng có hiệu quả. Ở các nước chưa phát triển, khi các
công cụ chính sách tiền tệ trên đây sử dụng còn nhiều hạn chế thì trong quá trình
thực thi chính sách tiền tệ, các nước đó có thể sử dụng một số công cụ hỗ trợ khác
như: kiểm soát hạn mức tín dụng, kiểm soát lãi suất của các ngân hàng thương
mại.
1.1.3.4.
Kiểm soát hạn mức tín dụng
Hạn mức tín dụng được xác định trên cơ sở chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế và
chỉ tiêu lạm phát dự kiến hàng năm, ngoài ra còn dựa vào một số tín hiệu thị
trường khác: tỷ lệ thất nghiệp, tỷ giá, thâm hụt ngân sách nhà nước, tốc độ lưu
thông tiền tệ… Trên cơ sở đó, hạn mức tín dụng được phân bổ cho các ngân hàng
thương mại, cho từng thời kỳ phù hợp với mục tiêu chính sách tiền tệ.
Để hạn chế việc tạo tiền quá mức của ngân hàng thương mại làm tăng khối
lượng tiền tệ trong nền kinh tế, Ngân hàng trung ương quy định hạn mức tín dụng
tối đa cho từng ngân hàng thương mại. Trong phần lớn các trường hợp, những hạn
mức riêng này được các định căn cứ vào tỷ trọng cho vay của nó trong quá khứ so
với tổng mức cho vay của hệ thống ngân hàng. Ngân hàng thương mại chỉ được
cấp tín dụng cho nền kinh tế tối đa bằng hạn mức tín dụng được quy định.
Hạn mức tín dụng được ngân hàng trung ương sử dụng như một công cụ
quan trọng của chính sách tiền tệ, khi mà các công cụ truyền thống kém hiệu quả.
Tác động của chính sách tiền tệ đối với kiểm soát lạm phát
1.2.1. Khái quát lý luận về lạm phát
1.2.1.1.
Khái niệm về lạm phát
Theo những lý thuyết về lạm phát trước đây và thực tế cho thấy rằng có rất
nhiều cách hiểu, định nghĩa về lạm phát khác nhau giữa các trường phái kinh tế.
Chẳng hạn từ điển kinh tế của Liên Xô ghi: Lạm phát là tình trạng khối lượng
tiền giấy tràn đầy các kênh lưu thông tiền tệ vượt quá mức nhu cấu kinh tế thực tế,
làm cho tiền tệ mất giá, là phương tiện phân phối lại thu nhập quốc dân.
Nhưng theo J.M.Keynes và trường phái tiền tệ ở Đức và Mỹ thì quan niệm:
lạm phát là sự vi phạm quá trình tái sản xuất nằm trong lĩnh vực lưu thông tiền tệ, là
sự phát hành tiền quá mức tạo ra cầu dư thừa thường xuyên.
Chandeler và Cliner với trường phái lạm phát giá cả thì khẳng định: lạm phát là
sự tăng giá hàng bất kỳ kể cả dài hạn hay ngắn hạn, chu kỳ hay đột xuất. Trong khi đó
Matrukhin lại cho rằng: trong đời sống, tổng mức giá cả tăng trước hết thông qua việc
tăng giá không đồng đều ở từng nhóm hàng hóa và rút cuộc dẫn đến việc tăng trưởng
mức giá cả nói chung. Với ý nghĩa như vậy, có thể xem sự mất giá của đồng tiền là
lạm phát. Ông cũng chỉ rõ: lạm phát là hình thức tràn trề tư bản một cách tiềm tàng, là
sự phân phối lại sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân thông qua giá cả giữa các khu
vực của quá trình tái sản xuất xã hội, các ngành kinh tế và các giai cấp, các nhóm dân
cư xã hội. Ở mức bao quát hơn, Samuelson và Nordhaus cho rằng: lạm phát xảy ra khi
mức chung của giá cả và chi phí tăng lên.
Lạm phát đã được đề cập đến rất nhiều trong các công trình nghiên cứu của các
nhà kinh tế. Trong mỗi công trình của mình, các nhà kinh tế đã đưa ra khái niệm về
lạm phát. Karl Marx cho rằng: Lạm phát là sự phát hành tiền mặt quá mức cần thiết.
Vào thập niên 1960, Milton Friedman khẳng định lại rằng: Lạm phát bao giờ và ở đâu
của nó được thể hiện ở tính chất của sự tăng giá là giá tăng cao kéo dài hay chỉ tạm
thời. Như vậy, tất cả các luận thuyết, các quan niệm về lạm phát đã nêu trên và đã
có cho đến nay mặc dù, hoặc chỉ dựa vào hiện tượng biểu hiện bề ngoài của lạm
phát, hoặc tiếp cận lạm phát từ một hay vài nguyên nhân nào đó của lạm phát,
nhưng đều phải thừa nhận lên đặc tính cơ bản chung về lạm phát là hiện tượng giá
cả chung tăng lên và giá trị của đồng tiền giảm xuống,
Tóm lại, từ những lý luận trên tác giả rút ra kết luận về lạm phát như sau:
lạm phát là sự gia tăng phổ biến và với thời gian dài tổng mức giá cả được đo bằng
chỉ số giá của nhóm hàng hóa và dịch vụ cơ bản (rổ hàng hóa). Sự gia tăng liên tục
của giá cả làm suy yếu sức mua của đồng tiền và các tài sản tài chính khác có giá
trị cố định, gây ra những méo mó nghiêm trọng và tạo ra tình trạng không chắc
chắn trong môi trường kinh tế vĩ mô và vi mô.
1.2.1.2.
Phân loại lạm phát
Có nhiều cách phân loại lạm phát dựa trên các tiêu thức khác nhau:
Căn cứ vào tốc độ lạm phát được chia làm ba loại:
Một là, lạm phát vừa phải: là loại lạm phát xảy ra với tốc độ gia tăng giá cả
chậm, chỉ ở mức một con số hay dưới 10%/năm. Đây là loại lạm phát phổ biến
nhất và tồn tại gần như thường xuyên, một căn bệnh kinh niên, cố hữu và đặc trưng
ở hầu hết các nền kinh tế thị trường trên thế giới.
Hai là, lạm phát phi mã: được nhận dạng khi mức tăng giá cả đạt tới ngưỡng
thường là từ 2 đến 3 con số một năm.
Ba là, siêu lạm phát: là hiện tượng rất hiếm chỉ xảy ra vào thời chiến tranh
hay chuyển đổi cơ chế kinh tế, khi có tốc độ tăng giá vượt xa mức lạm phát phi mã
và vô cùng không ổn định. Đã từng có những siêu lạm phát mà tốc độ mất giá của
đồng tiền cũng như tăng giá hàng năm tới 8 – 10 chữ số không trong một năm. Ví
dụ như ở Đức thời kỳ 1922 – 1923, ở Trung Quốc và Hungari thời kỳ sau chiến
chế về
Phân loại theo định lượng: Dựa trên độ lớn nhỏ của tỷ lệ phần trăm lạm phát
tính theo năm, trong đó có: Lạm phát một con số hay gọi là lạm phát vừa phải.
Loại lạm phát này xảy ra khi giá cả tăng chậm và tỷ lệ lạm phát dưới 10%/ 1 năm
và nền kinh tế chấp nhận được với mức lạm phát này. Lạm phát hai con số thể hiện
khi tỷ lệ tăng giá đã tăng đến hai con số mỗi năm. Nếu ở mức thấp của loại lạm
phát này (> 10% mỗi năm), tác động tiêu cực của nó đến nền kinh tế không lớn.
Nhưng khi tỷ lệ tăng giá ở mức hai con số cao lạm phát này gây tác hại nghiêm
trọng trong nền kinh tế. Lạm phát phi mã và siêu lạm phát là loại lạm phát ba con
số trở lên với tốc độ nhanh. Tác động tiêu cực đến đời sống và tính ổn định của nền
kinh tế.
Phân loại theo định tính: Lạm phát cân bằng và không cân bằng (cân bằng ở
đây là cân bằng với thu nhập), trên thực tế, lạm phát không cân bằng hay xảy ra.
Lạm phát thuần túy là trường hợp đặc biệt khi giá cả hàng hóa tiêu dùng và hàng
hóa sản xuất đều tăng lên gần như cùng một tỷ lệ trong cùng một đơn vị thời gian,
lúc này nhu cầu cần tiền thực tế tăng cùng chiều và khá tương đương với cung ứng
tiền thực tế. Lạm phát bất thường xảy ra có tính đột biến, loại lạm phát này gây ra
những cú sốc nền kinh tế và sự thiếu tin tưởng của người dân vào chính quyền.
Lạm phát dự đoán trước là việc người ta nhìn thấy trước về lạm phát và tin rằng nó
sẽ xảy ra bởi các nguyên nhân của nó đã lộ diện.
Ngoài ra, căn cứ vào mức độ biểu hiện giá cả trên thị trường có lạm phát
ngầm, lạm phát công khai; căn cứ vào phạm vi ảnh hưởng về mặt không gian: có
lạm phát quốc gia và thế giới; căn cứ vào tính lịch sử, có lạm phát cổ điển gắn với
xung đột chiến tranh và lạm phát hiện đại gắn liền với hòa bình.
1.2.1.3.
Đo lường lạm phát
thực tế) là toàn diện hơn chỉ số giá tiêu dùng CPI vì bao quát được tất cả giá các
loại hàng hóa và dịch vụ trong GDP.
Ở Việt Nam, bắt đầu từ tháng 1 năm 1998, Tổng cục Thống kê chính thức
công bố chỉ số giá tiêu dùng CPI của toàn quốc tính theo phương pháp cải tiến:
Chỉ số giá tiêu dùng chung của toàn quốc được tính trên cơ sở chỉ số giá tiêu
dùng của các tỉnh, thành phố trong cả nước.
Chỉ số giá tiêu dùng của các tỉnh, thành phố được tính theo công thức
LASPARYE với quyền số cố định là cơ cấu chi tiêu hộ gia đình đa mục tiêu do
Tổng cục thống kê tiến hành năm 1995. Danh mục mặt hàng đại diện thu nhập giá
gồm 296 mặt hàng, được phân chia theo 10 nhóm tiêu dùng cấp I, 34 nhóm cấp II
và 86 nhóm cấp III, trong mỗi nhóm đều bao gồm cả hàng hóa và dịch vụ. Giá tiêu
dùng bình quân của năm 1995 được dùng làm giá kỳ gốc cố định.
Hàng tháng, chỉ số giá tiêu dùng được công bố với 4 gốc so sánh:
+ Kỳ gốc ( so với giá tiêu dùng bình quân năm 1995);
+ Tháng trước (hàng tháng);
+ Cùng tháng năm trước ( sau 12 tháng);
+ Tháng 12 năm trước ( sau 1,2,..., 11 tháng).
Chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ cũng được công bố hàng tháng với 4
gốc so sánh như trên, nhưng tính riêng, không nằm trong những chỉ số giá tiêu
dùng.
1.2.1.4.
Những tác động của lạm phát
Lạm phát tác động trực tiếp đến nền kinh tế, làm thay đổi mức độ và hình
thức sản lượng, đồng thời tạo ra sự phân phối lại thu nhập và của cải xã hội. Hơn
nữa, lạm phát tác động đến nền kinh tế theo cả hai hướng tích cực và tiêu cực.
Các tác động tiêu cực của lạm phát:
chóng, và ngược lại, những người có các hàng hóa, tài sản mà giá cả không tăng
hoặc tăng chậm bị nghèo đi, mức lương thực tế cũng sụt giảm làm tổn hại đến mức
sống thực tế của người có thu nhập thấp và cố định. Phúc lợi xã hội dành cho tầng
lớp nghèo trong xã hội cũng bị suy giảm rõ rệt, thậm chí đổ vỡ, mất tác dụng. Hơn
nữa, việc phân phối lại của chính phủ từ những người tiêu dùng nhiều đến người
tiết kiệm nhiều thông qua tài trợ lạm phát chỉ có thể có hiệu quả trong những giai
đoạn đầu của lạm phát; còn sau đó sẽ mất tác dụng do cơ chế tự vệ và thích nghi
của các đối tượng tiêu dùng này ( chẳng hạn, họ sẽ đòi tăng lương, tăng trợ cấp
hoặc tự động điều chỉnh các chi phí sinh hoạt theo kịp với lạm phát). Việc chính
phủ kiểm soát mức tăng giá hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng bằng cách quy định giá
trần sẽ kéo theo việc lạm sia lệch sự phân bố các nguồn lực và thường dẫn đến sự
thiếu hụt, chợ đen, tham nhũng...
Lạm phát làm tăng nguy cơ phá sản do vỡ nợ và làm tăng chi phí dịch vụ nợ
nước ngoài tính bằng ngoại tệ của các doanh nghiệp lẫn chính phủ, do lạm phát
thường kéo theo việc điều chỉnh nâng tỷ giá và lãi suất đồng bản tệ với tư cách là
giải pháp nhằm thích nghi và kiềm chế lạm phát ( đồng thời, có trường hợp chính
sự điều chỉnh phá giá bản tệ là nguồn gốc trực tiếp làm gia tăng lạm phát do áp lực
chi phí đẩy đổi với hàng hóa, vật tư nhập ngoại và tăng cầu đối với sản phẩm nội
địa; và sự tương tác qua lại giữa chúng nếu vượt quá khả năng kiểm soát của chính
phủ, sẽ tạo ra vòng xoáy bất tận: phá giá – lạm phát – phá giá ... tàn phá nền kinh tế
và đời sống kinh tế - xã hội của quốc gia).
Sự mất ổn định của giá cả và tiền tệ còn làm môi trường kinh doanh trong
nước xấu đi, khiến dòng đầu tư nước ngoài đổ vào bị chậm, chững lại, thậm chí
suy giảm, đi đôi với sự ra đi của những dòng vốn trong nước. Lạm phát kéo theo
giá cả hàng nhập khẩu trở nên đắt đỏ hơn, hạn chế việc nhập những hàng hóa, vật
tư cần thiết. Lạm phát cao ( thường trên 40%) luôn gắn với thâm hụt tài chính lớn
và làm thâm hụt đó trở nên nặng nề hơn, nhất là thâm hụt ngân sách.
Một nghiên cứu mới đây của Ngân hàng Thế giới (WB) về quan hệ giữa lạm
dường như là những căn bệnh đặc trưng vốn có của mọi nền kinh tế thị trường và
giữa chúng có mối quan hệ hữu cơ với nhau. Năm 1960, A.W. Phillips, nhà kinh tế
học Mỹ, đã đưa ra biểu đồ thể hiện mối tương quan tỷ lệ nghịch giữa tăng giá –
tăng tiền lương và thất nghiệp như sau:
Cụ thể của tương quan này là :
+ Lạm phát tỷ lệ nghịch với thất nghiệp.
+ Lạm phát tỷ lệ thuận với tăng lương.
(Trong đó tỷ lệ tiền lương trên trục thẳng đứng bên phải cao hơn tỷ lệ lạm
phát trên cột thẳng đứng bên trái 2% là tỷ lệ tăng giả định của năng suất lao động
trung bình).
Athur Okun (1924-1979), nhà kinh tế nổi tiếng hàng đầu của Mỹ, từng là cố
vấn cho Tổng thống Kennedy ( 1964) và Tổng thổng Johnson (1968) đã đưa ra
công thức: Khi GNP giảm 2% so với GNP tiềm năng, thì mức thất nghiệp tăng 1%,
với cách tính đó, để giảm tỷ lệ lạm phát đi 1%/năm thì GNP của nước Mỹ phải
giảm đi tới 4%.
Cho phép chính phủ có thêm khả năng lựa chọn các công cụ kích thích đầu
tư vào những lĩnh vực kém ưu tiên thông qua mở rộng tín dụng và tài trợ lạm phát.
Giúp phân phối lại thu nhập và các nguồn lực xã hội theo định hướng mục tiêu và
trong khoảng thời gian nhất định có chọn lọc. Điều này sẽ càng cần thiết khi có sự
suy thoái chung và lạm phát đang ở mức thấp như tình hình kinh tế thế giới thời
gian 1997-1998. Chính vì vậy, sáng kiến lớn nhất của Mỹ trong chống khủng
hoảng tài chính – tiền tệ ở châu Á mới được Tỏng thống Bill Clinton đưa ra tháng
9 – 1998 là kêu gọi các nước lớn không nên sợ lạm phát ( vì hiện đang có xu
hướng giảm phát toàn cầu) để kích thích tăng trưởng kinh tế chung. Tuy nhiên, cần
khẳng định, đây là một công việc khó, đầy mạo hiểm, nếu không đủ thực lực và
bản lĩnh làm chủ được “công nghệ điều tiết ” lạm phát sẽ gây ra hậu quả nghiêm
trọng, thậm chí trái ngược với mục tiêu đề ra. Theo Palu Krugman, nhà kinh tế Mỹ,