SKKN: Rèn Kỹ Năng Giải Bài Toán Bằng Cách Lập PT - Pdf 43

Sáng kiến kinh nghiệm Rèn kỹ năng giải bài toán bằng cách lập phơng trình
Sáng kiến kinh nghiệm
Reõn Kyọ Nựng Giaói Baõi Toaỏn Bựỗng Caỏch Lờồp
Phỷỳng Trũnh
A. Phần mở đầu
I. Lí do chọn đề tài.
1. Cơ sở lý luận
Để giúp các em học tập môn toán có kết quả tốt, có rất nhiều tài liệu sách báo
đề cập tới. Giáo viên không chỉ nắm đợc kiến thức, mà điều cần thiết là phải biết vận
dụng các phơng pháp giảng dạy một cách linh hoạt, truyền thụ kiến thức cho học sinh
dễ hiểu nhất.
Chơng trình toán rất rộng, các em đợc lĩnh hội nhiều kiến thức, các kiến thức lại
có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Do vậy khi học, các em không những nắm chắc lý
thuyết cơ bản, mà còn phải biết tự diễn đạt theo ý hiểu của mình, từ đó biết vận dụng
để giải từng loại toán. Qua cách giải các bài toán rút ra phơng pháp chung để giải mỗi
dạng bài, trên cơ sở đó tìm ra các lời giải khác hay hơn, ngắn gọn hơn.
Tuy thực tế một số ít giáo viên chúng ta chỉ chú trọng việc truyền thụ kiến thức
đầy đủ theo từng bớc, cha chú ý nhiều đến tính chủ động sáng tạo của học sinh.
Thông qua quá trình giảng dạy môn toán lớp 8, 9, đồng thời qua quá trình kiểm
tra đánh giá sự tiếp thu của học sinh và sự vận dụng kiến thức để giải bài toán bằng
cách lập phơng trình của bộ môn đại số lớp 8, 9. Tôi nhận thấy học sinh vận dụng các
kiến thức toán học trong phần giải phơng trình và giải bài toán bằng cách lập phơng
trình còn nhiều hạn chế và thiếu sót.
Đặc biệt là các em rất lúng túng khi vận dụng các kiến thức đã học để lập phơng
trình của bài toán. Đây là một phần kiến thức rất khó đối với các, bởi lẽ từ trớc đến
nay các em chỉ quen giải những dạng toán về tính giá trị của biểu thức hoặc giải những
phơng trình cho sẵn. Mặt khác do khả năng t duy của các em còn hạn chế, các em gặp
khó khăn trong việc phân tích đề toán, suy luận, tìm mối liên hệ giữa các đại lợng, yếu
tố trong bài toán nên không lập đợc phơng trình.
Đối với việc giải bài toán bằng cách lập phơng trình các em mới đợc học nên
cha quen với dạng toán tự mình làm ra phơng trình. Xuất phát từ thực tế đó nên kết

Đặc biệt bộ môn toán, các em đợc tiếp thu kiến thức xây dựng trên tinh thần toán học
hiện đại. Trong đó có nội dung xuyên suốt quá trình học tập của các em đó là phơng
trình. Ngay từ khi cắp sách đến trờng các em đã đợc làm quen với phơng trình dới
dạng đơn giản đó là điền số thích hợp vào ô trống và dần dần cao hơn là tìm số cha
biết trong một đẳng thức và cao hơn nữa ở lớp 8, lớp 9 các em phải làm một số bài
toán phức tạp.
Ngời thực hiện: Lơng Công Tạo Trờng THCS Hải Phúc
2
Sáng kiến kinh nghiệm Rèn kỹ năng giải bài toán bằng cách lập phơng trình
* ở lớp 1 các em đã đợc làm quen với phơng trình ở dạng tìm số thích hợp vào
ô trống:
9 - = 4
* Tới lớp 2, lớp 3 các em đã đợc làm quen với dạng phức tạp hơn:
x + 1 +5 = 8
* Lên lớp 4, 5, 6, 7 các em bớc đầu làm quen với dạng tìm x biết:
x : 4 = 8 : 2
x . 3 - 4 = 12
3x + 58 = 25
x -
4 11
5 7
=
Đối với các bài toán trên chỉ cần học sinh thành thạo các phép toán, một số các
quy tắc . là có thể giải và tìm đ ợc ẩn số là hoàn thành nhiệm vụ.
* Lên đến lớp 8, lớp 9, các đề toán trong chơng trình đại số về phơng trình
không đơn giản nh vậy nữa, mà có hẳn một loại bài toán có lời. Các em căn cứ vào lời
bài toán đã cho phải tự mình thành lập lấy phơng trình và giải phơng trình. Kết quả
tìm đợc không chỉ phụ thuộc vào kỹ năng giải phơng trình mà còn phụ thuộc rất nhiều
vào việc thành lập phơng trình.
Việc giải bài toán bằng cách lập phơng trình ở bậc THCS là một việc làm mới

bài tập này tránh những sai lầm của học sinh hay mắc phải. Do đó, khi hớng dẫn học
sinh giải loại toán này phải dựa trên quy tắc chung là: Yêu cầu về giải bài toán, quy
tắc giải bài toán bằng cách lập phơng trình, phân loại các bài toán dựa vào quá trình
tham gia của các đại lợng làm sáng tỏ mối quan hệ giữa các đại lợng, từ đó học sinh
tìm ra lời giải cho bài toán đó.
Thực tế đã có rất nhiều giáo viên nghiên cứu về phơng pháp giải các dạng ph-
ơng trình và giải bài toán bằng cách lập phơng trình song mới chỉ dừng lại ở việc vận
dụng các bớc giải một cách nhuần nhuyễn chứ cha chú ý đến việc phân loại dạng toán
- kỹ năng giải từng loại và những điều cần chú ý khi giải từng loại đó
Ngời thực hiện: Lơng Công Tạo Trờng THCS Hải Phúc
4
Sáng kiến kinh nghiệm Rèn kỹ năng giải bài toán bằng cách lập phơng trình
Bằng những kinh nghiệm rút ra sau một số năm giảng dạy tôi đã mạnh dạn viết
đề tài ''Rèn kỹ năng giải bài toán bằng cách lập phơng trình'' cho học sinh lớp 8,
lớp 9 trờng THCS.
B. Giải quyết vấn đề
Chơng I : Cơ sở lý luận của giải toán
bằng cách lập phơng trình
Giải toán bằng cách lập phơng trình là :Phiên dịch bài toán từ ngôn ngữ thông thờng
sang ngôn ngữ đại số rồi dùng các phép biến đổi đại số để tìm ra đại lợng cha biết
thoả mãn điều kiện bài cho.
- Để giải bài toán bằng cách lập phơng trình phải dựa vào quy tắc chung gồm
các bớc nh sau:
* Bớc 1: Lập phơng trình (gồm các công việc sau):
- Chọn ẩn số (ghi rõ đơn vị) và đặt điều kiện cho ẩn
- Biểu diễn các đại lợng cha biết qua ẩn và các đại lợng đã biết.
- Lập phơng trình biểu thị mối quan hệ giữa các đại lợng.
* Bớc 2: Giải phơng trình:
Tuỳ từng phơng trình mà chọn cách giải cho ngắn gọn và phù hợp
* Bớc 3: Trả lời:

Nếu gọi tử số của phân số đã cho là x ( điều kiện x > 0, x

N)
Thì mẫu số của phân số đã cho là x + 3
Theo bài ra ta có phơng trình:

2 1
5 2
x
x
+
=
+


2. (x+2) = x +5


2x +4 = x +5
x = 1(thoả mãn điều kiện bài toán).
Vậy tử số là 1, mẫu số là 3 + 1 = 4
Phân số đã cho là:
1
4
2. Yêu cầu 2: Lời giải bài toán lập luận phải có căn cứ chính xác.
Đó là trong quá trình thực hiện từng bớc có lô gíc chặt chẽ với nhau, có cơ sở lý
luận chặt chẽ. Đặc biệt phải chú ý đến việc thoả mãn điều kiện nêu trong giả thiết.
Ngời thực hiện: Lơng Công Tạo Trờng THCS Hải Phúc
6
Sáng kiến kinh nghiệm Rèn kỹ năng giải bài toán bằng cách lập phơng trình

nghiệm x
1
= 30
Vậy chiều rộng là: 30 (m)
Chiều dài là: 30 +4 = 34(m)
Chu vi là: 2.(30 +34) = 128 (m)
ở bài toán này nghiệm x
2
= -34 có giá trị tuyệt đối bằng chiều dài hình chữ
nhật, nên học sinh dễ mắc sai sót coi đó cũng là kết quả của bài toán.
3, Yêu cầu 3: Lời giải phải đầy đủ và mang tính toàn diện
Ngời thực hiện: Lơng Công Tạo Trờng THCS Hải Phúc
7
Sáng kiến kinh nghiệm Rèn kỹ năng giải bài toán bằng cách lập phơng trình
Giáo viên hớng dẫn học sinh không đợc bỏ sót khả năng chi tiết nào. Không đ-
ợc thừa nhng cũng không đợc thiếu, rèn cho học sinh cách kiểm tra lại lời giải xem đã
đầy đủ cha? Kết quả của bài toán đã là đại diện phù hợp cha? Nếu thay đổi điều kiện
bài toán rơi vào trờng hợp đặc biệt thì kết quả vẫn luôn luôn đúng.
Ví dụ :
Một tam giác có chiều cao bằng
3
4
cạnh đáy. Nếu chiều cao tăng thêm 3dm và
cạnh đáy giảm đi 2dm thì diện tích của nó tăng thêm 12 dm
2
. Tính chiều cao và cạnh
đáy?
Hớng dẫn: Giáo viên cần lu ý cho học sinh dù có thay đổi chiều cao, cạnh đáy
của tam giác thì diện tích của nó luôn đợc tính theo công thức:
S =

Vậy chiều dài cạnh đáy là 20 (dm)
Chiều cao là:
3
.20 15( )
4
dm=
4, Yêu cầu 4: Lời giải bài toán phải đơn giản.
Bài giải phải đảm bảo đợc 3 yêu cầu trên không sai sót . Có lập luận, mang tính
toàn diện và phù hợp kiến thức, trình độ của học sinh, đại đa số học sinh hiểu và làm
đợc
Ví dụ: (Bài toán cổ/24 - SGK đại số lớp 8 Tập 2)
Ngời thực hiện: Lơng Công Tạo Trờng THCS Hải Phúc
8
Sáng kiến kinh nghiệm Rèn kỹ năng giải bài toán bằng cách lập phơng trình
'' Vừa gà vừa chó
Bó lại cho tròn
Ba mơi sáu con
Một trăm chân chẵn
Hỏi có mấy gà, mấy chó? ''.
Hớng dẫn
Với bài toán này nếu giải nh sau:
Gọi số gà là x (con) (x > 0, x

N)
Thì số chó sẽ là: 36 -x (con)
Gà có 2 chân nên số chân gà là: 2x (chân).
Chó có 4 chân nên số chân chó là: 4. (36 -x) (chân).
Theo bài ra ta có phơng trình: 2x + 4. (36 -x) = 100
Giải phơng trình ta đợc: x =22 thoả mãn điều kiện.
Vậy có 22 con gà, số con chó là: 36 - 22 = 14 (con)

'
. b
'


AH
2
= BH. CH
Từ đó gọi độ dài của BH là x (x > 0)
Suy ra HC có độ dài là: x + 5,6
Theo công thức đã biết ở trên ta có phơng trình:
x(x + 5,6) = (9,6)2
Giải phơng trình ta đợc: x = 7,2 thoả mãn điều kiện
Vậy độ dài cạnh huyền là: (7,2 + 5,6) + 7,2 = 20 ( m)
6, Yêu cầu 6: Lời giải bài toán phải rõ ràng, đầy đủ, có thể lên kiểm tra lại.
Lu ý đến việc giải các bớc lập luận, tiến hành không chồng chéo nhau, phủ định
lẫn nhau, kết quả phải đúng. Muốn vậy cần rèn cho học sinh có thói quen sau khi giải
xong cần thử lại kết quả và tìm hết các nghiệm của bài toán, tránh bỏ sót nhất là đối
với phơng trình bậc hai.
Ví dụ: ( Giúp học tốt đại số 9)
Một tầu thuỷ chạy trên một khúc sông dài 80 km. Cả đi và về mất 8 giờ 20 phút.
Tính vận tốc của tầu thuỷ khi nớc yên lặng. Biết vận tốc của dòng nớc là 4km/h.
Hớng dẫn giải
Gọi vận tốc của tầu thuỷ khi nớc yên lặng là x km/h (x > 0).
Vận tốc của tầu thuỷ khi xuôi dòng là: x + 4 ( km/h).
Vận tốc của tầu thuỷ khi ngợc dòng là: x - 4 (km/h).
Theo bài ra ta có phơng trình:

80 80 25
4 4 3x x

< 0 là không đảm bảo với điều kiện nên loại). Một bài toán không nhất thiết duy nhất
một kết qủa và đợc kiểm chứng lại bằng việc thử lại tất cả các kết quả đó với yêu cầu
của bài toán.
II. Phân loại dạng toán giải bài toán bằng cách lập phơng trình và các giai
đoạn giải một bài toán:
* Phân loại bài toán giải bằng cách lập phơng trình:
Trong số các bài tập về giải bài toán bằng cách lập phơng trình ta có thể phân
loại thành các dạng nh sau:
1/ Dạng bài toán về chuyển động.
2/ Dạng toán liên quan đến số học.
3/ Dạng toán về năng suất lao động.
4/ Dạng toán về công việc làm chung, làm riêng.
5/ Dạng toán về tỉ lệ chia phần.
6/ Dạng toán có liên quan đến hình học.
7/ Dạng toán có liên quan đến vật lí, hoá học.
III. Các giai đoạn giải một bài toán.
* Giai đoạn 1: Đọc kỹ đầu bài, tự mình biết ghi tóm tắt đề bài, nếu tóm tắt đ-
ợc đề bài là các em đã hiểu đợc nội dung, yêu cầu của bài, từ đó biết đợc đại lợng
nào đã biết, đại lợng nào cha biết, mối quan hệ giữa các đại lợng .
* Giai đoạn 2: Nêu rõ các vấn đề liên quan để lập phơng trình. Tức là chọn ẩn
nh thế nào cho phù hợp, điều kiện của ẩn thế nào cho thoả mãn.
Ngời thực hiện: Lơng Công Tạo Trờng THCS Hải Phúc
11
Sáng kiến kinh nghiệm Rèn kỹ năng giải bài toán bằng cách lập phơng trình
* Giai đoạn 3: Lập phơng trình.
- Khó khăn nhất đối với học sinh là bớc lập phơng trình, các em không
biết chọn đối tợng nào là ẩn, rồi điều kiện của ẩn ra sao? Điều này có thể khắc sâu cho
học sinh là ở những bài tập đơn giản thì thờng thờng bài toán yêu cầu tìm đại lợng
nào thì chọn đại lợng đó là ẩn.
- Muốn lập đợc phơng trình bài toán không bị sai thì một yêu cầu quan

* Giai đoạn 3:
Vì khối lợng khoai gấp 3 lần khối lợng cà nên ta có phơng trình:
x = 3.(480 - x)
* Giai đoạn 4:
Giải phơng trình bậc nhất trên đợc x = 360 (kg)
* Giai đoạn 5:
Đối chiếu nghiệm đã giải với điều kiện đề ra xem mức độ thoả mãn hay không thoả
mãn. ở đây x = 360 > 0 nên thoả mãn:
Từ đó kết luận: Khối lợng khoai đã thu hoạch đợc là 360 (kg)
Khối lợng cà chua đã thu đợc là 480 - 360 = 120 (kg)
* Giai đoạn 6:
Nên cho học sinh nhiều cách giải khác nhau do việc chọn ẩn khác nhau dẫn đến lập
các phơng trình khác nhau từ đó tìm cách giải hay nhất, ngắn gọn nhất nh đã trình bày
ở trên
Có thể từ bài toán này xây dựng thành các bài toán tơng tự nh sau:
- Thay lời văn và tình tiết bài toán giữ nguyên số liệu ta đợc bài toán sau "Một
phân số có tổng tử và mẫu là 480. Biết rằng mẫu gấp ba lần tử số. Tìm phân số đó".
- Thay số liệu giữ nguyên lời văn.
- Thay kết luận thành giả thiết và ngợc lại ta có bài toán sau "Tuổi của cha gấp
ba lần tuổi của con, biết rằng tuổi của con bằng 12. Tìm tổng số tuổi của cả cha và
con"... Bằng cách đó có thể xây dựng cho học sinh có thói quen tập hợp các dạng bài
toán tơng tự và cách giải tơng tự đến khi gặp bài toán học sinh sẽ nhanh chóng tìm ra
cách giải.
Ngời thực hiện: Lơng Công Tạo Trờng THCS Hải Phúc
13

Trích đoạn Dự kiến đóng góp của đề tài:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status