KHAI THÁC, VẬN DỤNG MỐI LIÊN HỆ GIỮA VẬT LÝ, KỸ THUẬT VÀ ĐỜI SỐNG TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG “ DÒNG ĐIỆN XOAY CHIỀU” VẬT LÝ 12 THPT - Pdf 43

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

ĐỖ THỊ THU HẰNG

KHAI THÁC, VẬN DỤNG MỐI LIÊN HỆ GIỮA
VẬT LÝ, KỸ THUẬT VÀ ĐỜI SỐNG TRONG
DẠY HỌC CHƯƠNG “ DÒNG ĐIỆN XOAY
CHIỀU” VẬT LÝ 12 THPT

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

Huế, Năm 2014


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

ĐỖ THỊ THU HẰNG
KHAI THÁC, VẬN DỤNG MỐI LIÊN HỆ GIỮA
VẬT LÝ, KỸ THUẬT VÀ ĐỜI SỐNG TRONG
DẠY HỌC CHƯƠNG “ DÒNG ĐIỆN XOAY
CHIỀU” VẬT LÝ 12 THPT
Chuyên ngành:

Lý luận và phương pháp dạy học môn Vật lý

Mã số:


Thầy giáo PGS.TS. Lê Văn Giáo luôn động viên và tận tình giúp đỡ
tôi trong suốt quá trình làm luận văn;
Ban giám hiệu nhà trường, quý thầy cô giáo Tổ Vật lý trường THPT
Hai Bà Trưng đã nhiệt tình giúp đỡ, trao đổi và tạo điều kiện thuận lợi cho
tôi trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài;
Tập thể học sinh khối 12 trường THPT Hai Bà Trưng đã cộng tác
nhiệt tình trong quá trình thực tập sư phạm, giúp đỡ và góp ý chân thành
trong từng bài giảng của tôi;
Các anh chị học viên lớp LL&PPDH môn Vật lý K21 đã động viên
tinh thần và giúp đỡ tôi rất nhiều trong hai năm học tại trường và đặc biệt
trong quá trình thực hiện đề tài này.
Tác giả
Đỗ Thị Thu Hằng


MỤC LỤC
Trang bìa phụ........................................................................................................................i
Lời cam đoan ......................................................................................................................ii
Lời cảm ơn..........................................................................................................................iii

MỤC LỤC................................................................................................................. 5
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT.................................................................................6
NỘI DUNG.............................................................................................................14
1.4.1. Mục tiêu điều tra............................................................................................29
1.4.2. Kết quả điều tra thực trạng DH các ƯDKT của Vật lí hiện nay.....................30
Kết luận chương 2...................................................................................................67
3.1. Mục đích thực nghiệm......................................................................................68
3.2.2. Nội dung thực nghiệm sư phạm.....................................................................69
3.3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm..................................................................69
3.3.1. Chọn mẫu thực nghiệm..................................................................................69


ĐH

: Đại học

ĐC

: Đối chứng

GD&ĐT

: Giáo dục và Đào tạo

GV

: Giáo viên

HS

: Học sinh

MVT

: Máy vi tính

PPDH

: Phương pháp dạy học

SGK

Bảng 3.4. Bảng phân phối tần suất lũy tích.......................................................
Bảng 3.5. Bảng phân loại theo học lực.............................................................
Bảng 3.6. Bảng tổng hợp các tham số...............................................................
Biểu đồ
Biểu đồ 1.1 : Mức độ vận dụng mối liên hệ Vật lý –kỹ thuật và đời sống
trong dạy học...............................................................................................................
Biểu đồ 3.1. Biểu đồ phân bố điểm của hai nhóm ĐC và TN...........................
Biểu đồ 3.2. Biểu đồ phân phối tần suất điểm của hai nhóm ĐC và TN...........
Biểu đồ 3.3. Biểu đồ phân phối tần suất luỹ tích..............................................
Biểu đồ 3.4. Biểu đồ phân loại theo học lực của hai nhóm...............................
Đồ thị
Đồ thị 3.1. Đồ thị phân phối tần suất................................................................
Đồ thị 3.2. Đồ thị phân phối tần suất lũy tích...................................................
Hình vẽ
Hình 1.1 Các dụng cụ điện................................................................................
Hình 2.1. Cột điện cao thế................................................................................
Sơ đồ
Sơ đồ 1.1. Quy trình vận dụng mối liên hệ Vật lý –kỹ thuật và đời sống trong
dạy học vật lý .......................................................................................................

7


MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài
Giáo dục giữ một vai trò rất quan trọng trong việc đào tạo và phát triển nguồn
nhân lực cho mọi quốc gia. Đại hội Đảng lần thứ XI đã nêu: “Phát triển, nâng cao
chất lượng giáo dục và đào tạo, chất lượng nguồn nhân lực; phát triển khoa học,
công nghệ và kinh tế tri thức. Tập trung giải quyết vấn đề việc làm và thu nhập cho

những quá trình, hiện tượng xảy ra trong cuộc sống thường ngày gần gũi với HS.
Qua đó HS sẽ có điều kiện phân tích, nhận xét, đánh giá các hiện và quá trình một
cách có cơ sở khoa học và giúp các em phát triển tư duy, óc sáng tạo, hình thành
thói quen nghiên cứu. Chỉ có như vậy các em mới thực sự am hiểu các kiến thức vật
lý một cách sâu sắc và biết cách vận dụng kiến thức vào thực tế. Thực tiễn dạy học
ở trường phổ thông cho thấy, HS rất thích thú khi vận dụng kiến thức bài học vào
việc giải quyết những vấn đề của thực tế và đời sống.
Trong xu thế đổi mới và hội nhập của đất nước hiện nay, nhiệm vụ cơ bản
của giáo dục phổ thông là phải đào tạo những con người mới, những người lao động
có tri thức, có năng lực thực hành, tự chủ, năng động, sáng tạo, sẵn sàng tham gia
vào lao động sản suất. Để thực hiện nhiệm vụ đó, Bộ GD&ĐT đã tiến hành xây
dựng chương trình giáo dục phổ thông phù hợp với những yêu cầu của phát triển đất
nước, trong đó có môn Vật lí, môn học liên quan đến nhiều ngành khác nhau trong
nền kinh tế quốc dân và cung cấp kiến thức khoa học cơ sở của nhiều ngành, trong
đó có nành kỹ thuật.
Các mục tiêu và nhiệm vụ của trường phổ thông được thực hiện chủ yếu
thông qua việc dạy học các môn học. Môn Vật lí cũng như các môn khoa học khác
ở nhà trường phổ thông không chỉ trang bị hệ thống kiến thức cơ bản, hiện đại mà
còn góp phần giáo dục và phát triển toàn diện người học sinh, ngoài ra còn giúp học
sinh biết các được ứng dụng của kiến thức từng môn học vào kỹ thuật và đời sống.
Dạy học được hiểu là quá trình hoạt động có mục đích trong sự tương tác thống
nhất, biện chứng giữa giáo viên, học sinh và tư liệu hoạt động dạy học. Dạy học Vật
lí vận dụng mối liên hệ giữa Vật lý, kỹ thuật và đời sống là quá trình giáo viên tổ
chức hoạt động dạy học, định hướng hành động của học sinh sao cho học sinh tự
chủ chiếm lĩnh tri thức Vật lý và vận dụng nó vào thức tiễn đặt trong mối quan hệ
giữa Vât lý, kỹ thuật và đời sống. Tức là không được tách rời mối quan hệ này, hay
thậm chí chỉ dừng lại ở việc nắm được kiến thức vật lý, mà không thấy được vai trò
cuẩ nó trong đời sống và kỹ thuật. Sự phát triển của Vật lí có liên quan mật thiết với
các tư tưởng triết học, nó là cơ sở của nhiều ngành khoa học, kĩ thuật và công nghệ
tiên tiến. Các kiến thức Vật lí còn là một công cụ được con người sử dụng nên để

của nó. Ngoài ra phri kể đến các nghiên cứu Trần Hữu Phước với đè tài (2007):
“Nghiên cứu việc tổ chức ngoại khóa về cơ học chất lưu chuyển động nhằm phát
triển tính tích cực, sáng tạo của học sinh THPT”; của Trương Đức Cường (2007)
“Nghiên cứu xây dựng và tổ chức một số chủ đề ngoại khóa phần điện học lớp
12(THPT) nhằm góp phần giáo dục KTTH cho học sinh”; hay của Ngô Thị Bình
(2009) “Nghiên cứu việc tổ chức hoạt động ngoại khoá về Tĩnh học vật rắn ở lớp 10
10


THPT nhằm phát huy tính tích cực và phát triển năng lực sáng tạo của học sinh “ ,
ở mức độ khác nhau đều đã ít nhiều đề cập đến mối quan hệ giữa vật lý và thức tiễn
đời sống cũng như kỹ thuât. Tuy nhiên xuất phát từ những mục đích nghiên cứu khác
nhau mà các tác giả chưa đi sâu vào nghiên cứu một cách có hệ thống mối liên hệ giữa
Vật lý - kỹ thuật và đời sống trong dạy học vật lý vật lý ở trườn phổ thông.
Như vậy, qua tìm hiểu với những tư liệu chúng tôi đã biết, cho đến nay chưa
có công trình nào nào đi sâu nghiên cứu khai thác, vận dụng mối liên hệ giữa vật lí,
kĩ thuật và đời sống trong dạy học chương Dòng điện xoay chiều vật lí 12 THPT, vì
thế chúng tôi đã chọn đề tài này nghiên cứu.
3. Mục tiêu của đề tài
Đề xuất các biện pháp vận dụng mối liên hệ Vật lý, Kỹ thuật và Đời sống
trong qus trình dạy học và vận dụng vào tổ chức dạy học một số kiến thức chương
“Dòng điện xoay chiều “ Vật lý 12 THPT.
4. Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất được biện pháp vận dụng mối liên hệ giữa Vật lý, Kỹ thuật và
Đời sống và vận dụng vào dạy học vật lý sẽ góp phần phát huy tính tích cực, sáng
tạo của học sinh, qua đó có thể nâng cao hiệu quả dạy học Vật lý ở THPT.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc khai thác vận dụng mối liên hệ giữa Vật
lý, Kỹ thuật và Đời sống trong dạy học vật lí ở các trường THPT.
- Điều tra thực trạng của việc dạy học vận dụng mối liên hệ giữa Vật lý, Kỹ

- Quan sát hoạt động dạy và học của giáo viên và học sinh trong giờ học Vật
lí ở một số trường THPT trên địa bàn Tỉnh Thừa Thiên Huế. Trao đổi trực tiếp với
giáo viên và học sinh.
- Dùng phiếu điều tra về thực trạng dạy học vận dụng mối liên hệ Vật lý –
kỹ thuật và đời sống chương “Dòng điện xoay chiều” Vật lí 12.
8.3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Tiến hành thực nghiệm sư phạm có đối chứng tại một số trường THPT trên
địa bàn Tỉnh Thừa Thiên Huế để đánh giá hiệu quả của đề tài.
8.4. Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lí các số liệu thu được từ kết
quả thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm định giả thuyết thống kê về sự khác biệt trong
kết quả học tập giữa nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng. Từ đó kiểm định giả
thuyết khoa học và đánh giá hiệu quả của đề tài nghiên cứu.
9. Cấu trúc luận văn

12


Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và các danh mục, phần nội
dung chính của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc vận dụng mối liên hệ giữa Vật
lý, Kỹ thuật và Đời sống trong dạy học Vật lý ở trường PT
Chương 2. Vận dụng mối liên hệ giữa Vật lý, Kỹ thuật và Đời sống trong dạy
học chương Dòng điện xoay chiều Vật lý 12 THPT
Chương 3. Thực nghiệm sư phạm

13


NỘI DUNG

chứng kiến một sự tăng trưởng bùng phát của khoa học và công nghệ, cùng với
chính trị, kinh tế,văn hóa.....khoa học đã đặt những dấu ấn quan trọng trong lịch sử
14


nhân loại. Sự phát triển của khoa học thế kỷ XX không những mạnh mẽ mà còn
đồng đều trên nhiều lĩnh vực cả lý thuyết và ứng dụng, một trong ba ngành đạt được
nhiều thành tựu trong sự phát triển khoa học đó là vật lý với những ứng dụng kỹ
thuật liên quan và ứng dụng trong đời sống hằng ngày [24].
Những thập niên đầu thế kỷ XX là thành tựu rực rỡ trong lĩnh vực nghiên
cứu thế giới vi mô. Những công trình của Planck,Einstein, Hese, Bohr, Pauli,
Heiseengerg, Curie…đã xây dựng một hê thống tư duy mới.
Những năm 60 và 70 cuộc chạy đua kinh tế, quân sự, khoa học giữa hai
cường quốc Liên Xô và Mỹ đã mang lại bước tiến lớn cho khoa học vũ trụ: những
vệ tinh nghiên cứu vũ trụ, con người đi vào không gian (1961), lên mặt trăng (1969)
…tiếp đó thập niên 80 và 90 đã chứng kiến cuộc cách mạng mạnh mẽ và rộng rãi
trong lĩnh vực công nghệ thông tin mà cơ sở là sự ra đời và lớn mạnh của kỹ thuật
vật liệu bán dẫn và vi mạch điện tử.
Trong cuộc sống luôn có những việc bất ngờ đến với chúng ta. Trong khoa
học cũng chính từ những bất ngờ mà đã dẫn đến rất nhiều phát minh nổi tiếng của
các nhà khoa học. Và sau này chúng được ứng dụng rất nhiều trong kỹ thuật và đời
sống. Trong thế kỉ 20, những nghiên cứu của các nhà khoa học đã đưa ra nhiều
thuyết vật lý và đã được ứng dụng trong kỹ thuật và đời sống, nhưng sự phát triển
này chưa mạnh mẽ đến khoảng thời gian sau này sự phát triển này mới bùng nổ và
dẫn đến sự phát triển mạnh mẽ như vũ bão của khoa học, mặc dù sự phát triển
ngành vật lý tác động tích cực hàng ngày của nó lên đời sống của chúng ta ngày
càng tăng. Nhiều nhà khoa học cũng nhạy cảm với những vấn đề này. Bằng phương
pháp thí nghiệm, khoa học không còn thụ động quan sát, mà chủ động can thiệp vào
tự nhiên. Nhưng, dù “thí nghiệm là bước đầu tiên để áp dụng kỹ thuật” (Gehlen), thí
nghiệm và áp dụng kỹ thuật vẫn là hai chuyện khác nhau. Kỹ thuật áp dụng kết quả

triển của ngành cơ học thúc đẩy sự phát triển phép tính vi tích phân.
Mặc dù vật lý bao hàm rất nhiều hiện tượng trong tự nhiên, nhưng các nhà
vật lý chỉ cần một số lý thuyết để miêu tả những hiện tượng này. Những lý thuyết
này không những được kiểm tra bằng thực nghiệm rất nhiều lần với kết quả đúng
xấp xỉ trong những phạm vi nhất định mà còn mang lại nhiều ứng dụng cho xã hội.
Ví dụ, cơ học cổ điển miêu tả chính xác chuyển động của những vật vĩ mô lớn
hơn nguyên tử nhiều lần và di chuyển với vận tốc nhỏ hơn nhiều tốc độ ánh
sáng. Những lý thuyết này vẫn còn được nghiên cứu áp dụng cho tới ngày nay, và
một nhánh của cơ học cổ điển là lý thuyết hỗn loạn mới chỉ hình thành từ thế kỷ 20
và ba thế kỷ sau khi cơ học cổ điển ra đời từ những công trình của Isaac
Newton (1642–1727).

16


Bước vào thiên niên kỷ thứ ba, khoa học và kỹ thuật đã trở thành yếu tố cốt
tử của sự phát triển, là lực lượng sản xuất trực tiếp của nền kinh tế toàn cầu. Điều
này được phản ánh rõ trong việc hoạch định các chính sách và chiến lược phát triển
khoa học, kỹ thuật và kinh tế của nhiều nước trên thế giới.
Ngày nay, trong bối cảnh của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại,
công nghiệp hoá gắn liền với hiện đại hoá được xem là nấc thang đánh dấu trình độ
phát triển mới của nền văn minh nhân loại. Chúng ta không thể phủ nhận những
thành tựu về khoa học trên lĩnh vực vật lý. Chẳng hạn, việc sử dụng năng lượng
nguyên tử, năng lượng mặt trời đã làm giảm sự phụ thuộc của con người vào nguồn
năng lượng khoáng sản, việc chế tạo ra các tên lửa với công suất cực lớn dùng nhiên
liệu hoá học, hỗn hợp ở dạng lỏng hoặc rắn. Với hệ thống động lực mới này, con
người đã tạo ra được tốc độ vũ trụ cấp một (7,9km/s), phóngvệ tinh nhân tạo đầu
tiên của trái đất (năm 1957), tốc độ vũ trụ cấp hai (11,2 km/s) phóng các tàu vũ trụ
thám hiểm các hành tinh thuộc hệ mặt trời như mặt trăng, Sao hoả, Sao kim (năm
1959) và đặc biệt là đưa con người đặt chân lên mặt trăng (năm 1981) mở ra kỷ

và vũ trụ phụ thuộc rất nhiều vào thành tựu kỹ thuật. Quan hệ giữa máy hơi nước và
nhiệt động học; máy bay và khí động học.
Qua những thành tựu khoa học trên cho thấy rằng mối liên hệ Vật lý –kỹ
thuật và đời sống rất cần thiết, Vật lý đưa ra những giả thuyết , hiện tượng….và kỹ
thuật sẽ ứng dụng nó một cách đúng đắn nhất để áp dụng vào đời sống để con người
chiếm lĩnh tri thức khoa học, đáp ứng được những nhu cầu xã hội đề ra.
Mối liên hệ giữa Vật lý – kỹ thuật và đời sống chưa bao giờ rõ rệt như ngày
nay, khi khoảng cách thời gian giữa khám phá khoa học và phát minh kỹ thuật được
rút ngắn một cách ngoạn mục. Từ khoa học hạt nhân đến bom nguyên tử cần không
đến sáu năm. Động lực phát minh kỹ thuật gắn liền với thành tựu lý thuyết transitor
và vật lý bán dẫn, kỹ thuật tiên tiến trong chẩn đoán y khoa với vật lý vi mô…
Mối liên hệ Vật lý - kỹ thuật và đời sống, bên cạnh cái nhìn thống quan về
những thành tựu lý thuyết, luôn mang theo mình yếu tố sáng tạo, đột phá, khiến nó.
“Bản thân ý tưởng kỹ thuật không ra đời từ khoa học hay diễn dịch, mà từ trực giác.
Khoa học là trợ thủ chứ không phải là kẻ sáng tạo nên ý tưởng…” (Rudolf Diesel,
nhà phát minh động cơ diesel).
1.2. Mối liên hệ giữa Vật lý - kỹ thuật và đời sống trong dạy học Vật lý
1.2.1 Đặc điểm của mối liên hệ giữa Vật lý - kỹ thuật và đời sống trong dạy học
Vật lý
Kỹ thuật được biết như là sự ứng dụng của các nguyên tắc toán và khoa học
khác vào thực tế để thiết kế, chế tạo và vận hành các cấu trúc, máy móc, quá trình,
hệ thống một cách kinh tế và hiệu quả. Kỹ thuật bao gồm tập hợp những phương
tiện hoạt động của con người và do con người sáng tạo ra. Trong hệ thống sản xuất
xã hội, người ta coi kỹ thuật là những công cụ và phương tiện lao động. Kỹ thuật có
mối liên hệ mật thiết với Vật lý thúc đẩy khoa học Vật lý phát triển.
Dạy học ứng dụng kỹ thuật trong dạy học vật lý nhằm trang bị cho học sinh
những nguyên lí khoa học chủ yếu của những ngành sản xuất chính, rèn luyện kĩ
năng, kĩ xảo sử dụng và điều khiển các công cụ sản xuất cần thiết. Một trong những
18


cuối cùng là làm cho HS lĩnh hội được nội dung học, đồng thời phát triển nhân
cách, năng lực của mình. Quá trình DH xảy ra rất phức tạp và đa dạng, trong đó sự
phối hợp giữa hoạt động dạy của GV và hoạt động học của HS có ý nghĩa quyết
định [10].
19


Hoạt động học là một hoạt động của con người nhằm tiếp thu tri thức, kỹ
năng, kinh nghiệm mà loài người đã tích luỹ được và phát triển những phẩm chất,
năng lực của người học. Hoạt động học làm biến đổi chính bản thân của người học
trong quá trình thực hiện hoạt động. Cấu trúc của hoạt động học cũng gồm nhiều
thành phần, có quan hệ và tác động lẫn nhau như động cơ, mục đích, phương tiện,…
Động cơ học tập kích thích sự tự giác, tích cực, thúc đẩy sự hình thành, duy trì, phát
triển hoạt động học, đưa đến kết quả cuối cùng là thoả mãn được lòng khát khao
mong ước của người học. Muốn thoả mãn động cơ ấy, phải thực hiện lần lượt những
hành động để đạt được những mục đích cụ thể. Cuối cùng mỗi hành động được thực
hiện bằng nhiều thao tác, sắp xếp theo một trình tự xác định. Ứng với mỗi thao tác
trong những điều kiện cụ thể là những phương tiện, công cụ thích hợp.
Dạy học vật lý không chỉ nhằm trang bị cho học sinh những kiến thức kỹ
năng, mà điều quan trọng phải làm cho HS thấy được vai trò của vật lý đối với Kỹ
thuật và đời sống. Do đó việc tăng cường mối liên hệ Vật lý - kỹ thuật và đời sống
trong dạy học vật lý là thực sự cần thiết trong dạy học vật lý ở trường phổ thông
hiện nay.
Vật lý là khoa học về tính chất và các định luật chung nhất của chuyển động
vật chất, là kho vô tận các kiến thức của con người về tự nhiên. Trong khi môn Vật
lý của chương trình dạy học ở các trường phổ thông chỉ thể hiện một phần không
lớn lắm những kiến thức này. Ngoài ra trong hoạt động giảng dạy việc vận dụng
những ứng dụng kỹ thuật và ứng dụng vật lý vào đời sống vẫn còn hạn chế. Vì vậy
trong phương pháp dạy học Vật lý cần thiết phải thực hiện nguyên tắc lựa chọn kiến
thức, xây dựng nội dung dạy học phù hợp với các lứa tuổi khác nhau sao cho những

triển đất nước và hội nhập quốc tế.
1.2.3. Vận dụng những kiến thức đã học để giải thích những hiện tượng
liên quan trong thực tế và đời sống.
Vật lý bắt nguồn từ cuộc sống, phát triển theo sự đòi hỏi của cuộc sống. Các
kiến thức Vật lý được khái quát từ hàng loạt các sự kiện, hiện tượng... đều được vận
dụng vào quá trình lao động sản xuất, vào kỹ thuật và công nghệ... phục vụ cuộc
sống con người. Dạy học Vật lý chính là dạy một khoa học đã, đang tồn tại và phát
triển, một khoa học sống - động gắn với môi trường xung quanh. Do vậy, dạy học
Vật lý không thể tách rời với thực tiễn cuộc sống mà phải luôn tạo cơ sở với những
tình huống xuất phát và giải trình phù hợp, phải dựa trên đặc điểm nhận thức của
học sinh. Để dạy học Vật lý ứng dụng vào đời sống hiệu quả giáo viên cần đưa các
ví dụ cụ thể của đời sống, sản xuất sát với nội dung bài học, ví dụ đó có thể do thầy
giáo hoặc học sinh đưa ra, song phải được phân tích rõ bản chất Vật lý và nguyên lí
kỹ thuật của nó. Cho học sinh tìm hiểu, giải thích các hiện tượng Vật lý - kỹ thuật,
giải các bài toán có nội dung thực tế... không chỉ có tác dụng củng cố kiến thức, rèn
21


luyện kĩ năng mà còn hình thành ý thức, thói quen vận dụng tri thức khoa học vào
sản xuất và đời sống.
Vận dụng thuyết Vật lý vào thực tiễn là giai đoạn rất quan trọng, không dừng
lại sau khi kết thúc giờ học. Việc giải thích những hiện tượng Vật lý có liên quan,
các định luật đã biết sẽ giúp học sinh hiểu sâu, nắm chắc nội dung của thuyết và
nhận thức được giá trị của nó. Cần hướng dẫn và cho học sinh tập luyện, tìm cách lí
giải có căn cứ khoa học dựa trên các nội dung chính của thuyết một cách đầy đủ,
hợp logic. Giáo viên cho học sinh tìm hiểu, giải thích các hiện tượng Vật lý - kỹ
thuật, giải các bài toán có nội dung thực tế... không chỉ có tác dụng củng cố kiến
thức, rèn luyện kĩ năng mà còn hình thành ý thức, thói quen vận dụng tri thức khoa
học vào sản xuất và đời sống.




nhiệt... Các nguyên lí bảo toàn, nguyên lí thế năng cực tiểu, nguyên lí sự nổi, sự
bay... nguyên lí chế tạo, sử dụng công cụ lao động, thiết kế chế tạo dụng cụ thí
nghiệm, các mẫu sản phẩm, vật dụng...[14].
Qua việc nghiên cứu các khả năng, hình thức và phương pháp ứng dụng các
định luật các lí thuyết Vật lý cần chỉ ra cho học sinh hiểu và nắm được nguyên lí
khoa học chung của các quá trình sản xuất chính như: Quá trình sản xuất cơ khí, sản
xuất tự động, quá trình sản xuất gia công vật liệu, sản xuất, truyền tải và sử dụng
điện năng...
Bằng việc thực hiện các thí nghiệm Vật lý, giải quyết các bài toán kỹ thuật,
tổ chức tham quan, ngoại khoá... cần bồi dưỡng tri thức, kĩ năng về tổ chức lao
động khoa học và quản lí kinh tế - kỹ thuật, đồng thời cho học sinh hiểu biết thêm
các nguyên lí kỹ thuật chung, hiểu về đối tượng lao động, công cụ lao động.và sức
lao động trong quá trình sản xuất xã hội.
Các kết quả của việc ứng dụng những kiến thức khái quát của Vật lý, nhất là
những định luật Vật lý vào kỹ thuật để chế tạo những thiết bị, máy móc có tính
năng, tác dụng nhất định, đáp ứng được những yêu cầu của kỹ thuật và đời sống.
Tuy những kiến thức Vật lý là cơ sở để chế tạo các thiết bị, máy móc kỹ
thuật, nhưng không phải một phát minh mới về Vật lý có thể áp dụng được ngay
vào kỹ thuật một cách có hiệu quả, đủ để tạo ra một hiện tượng cần thiết trong kỹ
thuật. Áp dụng các định luật Vật lý, ta có thể tạo ra một hiện tượng nhất định,
nhưng việc làm thế nào để hiện tượng này có thể giải quyết được một nhiệm vụ cụ
thể nào đó trong kỹ thuật thì còn phải nghiên cứu mới có thể đưa ra được một thiết
bị thích hợp. Nghiên cứu các ƯDKT của Vật lý không phải là nghiên cứu xây dựng
một kiến thức Vật lý mới mà là nghiên cứu tìm ra một cơ chế, thiết bị hay máy móc
có thể tạo ra hiện tượng mà kiến thức Vật lý đã dự đoán và vận dụng được nó để
giải quyết một nhiệm vụ nào đó trong kỹ thuật. Việc làm này nhiều khi rất khó
khăn, ngay trong lịch sử khoa học cũng phải mất hàng chục năm.
Việc ứng dụng một kiến thức Vật lý vào kỹ thuật để chế tạo một thiết bị, máy

khí hoá, tự động hoá sản xuất, ứng dụng công nghệ mới...
Cùng với việc chiếm lĩnh các nguyên lí khoa học, kỹ thuật và công nghệ, cần
để cho học sinh lĩnh hội được vấn đề kinh tế - xã hội của kỹ thuật, các phương
hướng cơ bản của tiến bộ khoa học - kỹ thuật, bao gồm:
Các yếu tố và cấu trúc của các hệ kỹ thuật, nguyên tắc và chức năng của kỹ
thuật mới, đó là cơ sở của tiến bộ khoa học và công nghệ, của các phương pháp sản
xuất mới.
Với ứng dụng kỹ thuật như vậy thì trong chương trình Vật lý phổ thông có
nhiều ứng dụng kỹ thuật được nghiên cứu.


Ví dụ như:

- Các máy phát điện, các động cơ điện, Rơ-le điện từ... mà nguyên tắc hoạt
động của nó dựa trên hiện tượng điện từ;
- Máy ảnh, kính hiển vi, kính thiên văn, kính lúp,... ứng dụng quy luật đường
đi của các tia sáng qua lăng kính, gương, thấu kính (sự tạo ảnh qua lăng kính,
24


gương…).
Các ví dụ cụ thể:


Ví dụ 1: Dùng dòng điện xoay chiều để sử dụng rộng rãi trong đời

sống và kỹ thuật, sử dụng trong các nhà máy xí nghiệp, hầu hết là các dụng cụ điện,
các thiết bị máy móc, xí nghiệp đều dùng điện xoay chiều.

Hình 1.1 Các dụng cụ điện


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status