MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa...............................................................................................................i
Lời cam đoan .............................................................................................................ii
Lời cảm ơn ................................................................................................................iii
PHỤ LỤC
1
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Viết tắt
Viết đầy đủ
BTNB
Bàn tay nặn bột
ĐC
Đối chứng
GV
Giáo viên
HS
Học sinh
Số hiệu biểu
Tên biểu
Trang
3
DANH MỤC HÌNH, ĐỒ THỊ, SƠ ĐỒ
Số hiệu hình
Tên hình
Trang
Số hiệu sơ đồ
Tên sơ đồ
Trang
Số hiệu đồ thị
Tên đồ thị
Trang
4
các hiện tượng Vật lí... nhờ đó trực quan hóa, kích thích hứng thú học tập, làm tăng
niềm tin vào khoa học cho HS. Tuy nhiên, trong thực tế nhiều GV bộ môn trong quá
5
trình dạy học sử dụng các phương tiện dạy học một cách độc lập, vẫn chưa biết kết hợp
với phương pháp dạy học nên hiệu quả đạt được không cao.
Dạy học khoa học dựa trên tìm tòi nghiên cứu không quan tâm đến lượng
thông tin được ghi nhớ trong một thời gian ngắn mà ngược lại là những ý tưởng hay
khái niệm dẫn đến sự hiểu biết ngày càng sâu hơn cùng với sự lớn lên của HS. Do
đó việc hình thành cho HS một thế giới quan khoa học và niềm say mê khoa học,
sáng tạo là một mục tiêu quan trọng của giáo dục hiện đại khi mà nền kinh tế tri
thức đang dần dần chiếm ưu thế tại các quốc gia trên thế giới. Bàn tay nặn bột
(BTNB) là một phương pháp dạy học tích cực, thích hợp cho việc giảng dạy các
kiến thức khoa học tự nhiên, đặc biệt là đối với bậc tiểu học và trung học cơ sở, khi
HS đang ở giai đoạn bắt đầu tìm hiểu mạnh mẽ các kiến thức khoa học, hình thành
các khái niệm cơ bản về khoa học. Phương pháp này kích thích tính tò mò, ham
muốn khám phá và say mê khoa học của HS. Ngoài việc chú trọng đến kiến thức
khoa học, phương pháp BTNB còn chú ý nhiều đến việc rèn luyện kỹ năng diễn đạt
thông qua ngôn ngữ nói và viết cho HS[12]. Song BTNB ứng dụng trong dạy học
các môn khoa học ở Việt Nam còn rất hạn chế. Xuất phát từ những lí do trên, chúng
tôi chọn đề tài: “Vận dụng phương pháp bàn tay nặn bột vào dạy học một số kiến
thức chương “Cơ học” Vật Lí 8 THCS với sự hỗ trợ của phương tiện trực quan” với
mong muốn đóng góp một phần vào việc nâng cao chất lượng dạy học môn Vật lí ở
trường phổ thông hiện nay.
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Phương pháp dạy học BTNB là phương pháp dạy học khoa học dựa trên cơ sở
của sự tìm tòi - nghiên cứu, áp dụng cho việc dạy học các môn khoa học tự nhiên.
Phương pháp này được khởi xướng bởi Giáo sư Georges Charpak (Giải Nobel Vật lí
năm 1992). Theo phương pháp BTNB, dưới sự giúp đỡ của GV, chính HS tìm ra
Đề tài tập trung nghiên cứu việc sử dụng phương pháp BTNB với sự hỗ trợ
của PTTQ vào dạy học một số kiến thức chương “Cơ học” Vật Lí 8 THCS cho HS
tại một số trường THCS tỉnh Quảng Nam.
8. Phương pháp nghiên cứu
8.1. Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
- Nghiên cứu các văn kiện của Đảng, các văn bản của nhà nước và của ngành
về đổi mới giáo dục phổ thông, về phương pháp PTTQ;
- Nghiên cứu những cơ sở lí luận, những tài liệu liên quan, các bài báo, tạp chí
và ý kiến của các nhà khoa học giáo dục về phương pháp BTNB và việc sử dụng
PTTQ trong quá trình dạy học cho HS;
- Nghiên cứu nội dung chương trình sách giáo khoa, sách bài tập, tài liệu tham
khảo chương Cơ học” Vật lí 8 THCS.
8
8.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Trao đổi với GV và HS để tìm hiểu thực trạng dạy học phần “Cơ học” Vật lí
8 THCS;
- Thiết kế một số giáo án theo phương pháp BTNB có sự hỗ trợ của PTTQ.
8.3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Tiến hành thực nghiệm sư phạm có đối chứng tại một số lớp của trường THCS
tại tỉnh Quảng Nam để đánh giá hiệu quả của đề tài.
8.4. Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lí các kết quả thực nghiệm sư
phạm nhằm kiểm định giả thuyết thống kê về sự khác biệt trong kết quả học tập của
hai nhóm thực nghiệm và đối chứng.
9. Đóng góp của đề tài
- Xây dựng được cơ sở lí luận của việc tổ chức dạy học theo phương pháp
BTNB với sự hỗ trợ của PTTQ;
Tìm tòi khám phá khoa học đề cập đến những con đường, cách thức khác
nhau, trong đó các nhà khoa học nghiên cứu thế giới tự nhiên và đề xuất các cách
giải thích dựa trên bằng chứng thu được từ hoạt động của mình. Tìm tòi - khám phá
cũng đề cập đến các hoạt động của người học, trong đó họ phát triển các kiến thức
và nhận thức được cách thức phát triển với các kiến thức đó. Trong cách tiếp cận
này, tìm tòi là con đường và khám phá là nơi đến. Tiếp cận tìm tòi - khám phá trong
dạy học nhấn mạnh việc HS tự mình phát hiện ra tri thức mới thông qua điều tra,
khảo sát, tìm tòi và làm thực nghiệm dưới sự định hướng của GV. HS được dạy theo
cách làm thế nào để hiểu biết về cuộc sống hơn là chỉ ghi nhớ các sự kiện, tiếp thu
thông tin một cách thụ động [9]. Như vậy việc học của mỗi cá nhân HS thực sự diễn
ra khi mỗi HS là một thực thể hoạt động kiến tạo kiến thức hơn là chủ động nhồi
nhét thông tin. Lí thuyết kiến tạo nhấn mạnh vai trò HS tự xây dựng kiến thức cho
mình dựa trên những trải nghiệm, sau đó vận dụng vào môi trường học tập của các
em. Ngoài kiến tạo nhận thức, lí thuyết kiến tạo cũng nhấn mạnh vai trò của kiến
tạo xã hội, tại đó môi trường học tập với các mối quan hệ tương tác có tính hợp tác
cũng được đề cao. Qua tương tác, HS kiểm tra, điều chỉnh quá trình tư duy của
mình thông qua việc lắng nghe tranh luận hay hợp tác với người khác. Đôi khi chỉ
lắng nghe ý tưởng của người khác cũng có thể giúp họ sáng tạo ra những ý tưởng
của riêng mình. Bên cạnh đó việc học tập hiệu quả cao đòi hỏi HS phải có khả năng
kiểm soát việc học chính mình. Điều đó có nghĩa rằng HS có thể nhận thức về quá
10
trình học tập của mình và có thể phân tích, thay đổi quan niệm sao cho phù hợp với
bằng chứng thực tế đó. Hay nói cách khác, lí thuyết kiến tạo là một trong những cơ
sở lí thuyết của dạy học theo tiếp cận tìm tòi - khám phá.
Mỗi nhóm lứa tuổi có đặc trưng riêng về chất lượng trí tuệ và được coi là một
giai đoạn phát triển. Các giai đoạn phát triển trí tuệ của HS có sự kế thừa ở giai
đoạn trước và được phát triển ở giai đoạn sau. Đối với HS bậc THCS, đặc biệt ở
những lớp đầu bậc, thao tác cụ thể vẫn đóng vai trò cơ bản. Chất lượng của các thao
kiến thức dưới sự giúp đỡ của GV.
Phương pháp BTNB đề cao vai trò chủ thể tích cực, độc lập sáng tạo của HS,
hình thành cho HS phương pháp học tập đúng đắn. Đặt HS vào vị trí của một nhà
khoa học, các em có thể tự tìm tòi, khám phá ra kiến thức thông qua việc độc lập
tiến hành các thí nghiệm khoa học, trao đổi, thảo luận trong các nhóm với sự giúp
đỡ, hướng dẫn của GV. HS học tập nhờ hành động, cuốn hút mình trong hành động,
học tập tiến bộ dần bằng cách tự nêu những thắc mắc, nghi vấn, hỏi đáp với bạn,
trình bày quan điểm của mình, đối lập với các quan điểm của người khác, tranh
luận, tạo ra môi trường học tập tích cực [18].
Mục tiêu của BTNB là tạo nên tính tò mò, ham muốn khám phá, yêu và say
mê khoa học của HS. Ngoài việc chú trọng đến kiến thức khoa học, BTNB còn chú
ý nhiều đến việc rèn luyện kỹ năng diễn đạt thông qua ngôn ngữ nói và viết cho HS.
Vai trò của GV khi dạy học theo phương pháp BTNB là phải biết kích thích,
tạo hứng thú, giúp cho các em xây dựng kiến thức bằng hành động bên cạnh họ
(hành động đối với mỗi cá nhân HS, mỗi nhóm và cả lớp). GV đề ra các tình huống,
những thách thức mà HS cần phải vượt qua, là người định hướng các hoạt động
giúp các em chiếm lĩnh dần những khái niệm và tiến trình khoa học.
Như vậy, trong phương pháp BTNB, HS hoàn toàn chủ động trong học tập.
HS tự nghiên cứu, tranh luận, trao đổi với nhau. GV cho các em quan sát một sự vật
hay hiện tượng của thế giới thực tại, gần gũi với chúng, từ đó hình thành những
nghi vấn, suy nghĩ và tìm ra hướng giải quyết thuyết phục để trả lời những nghi vấn
đó. Trong quá trình hoạt động, HS trao đổi, lập luận, chia sẻ những ý tưởng của
mình, làm cho họ hiểu lẫn nhau, biết lắng nghe và tôn trọng ý kiến của người khác,
đồng thời biết cách bảo vệ ý kiến của mình.
1.2.2. Các nguyên tắc của phương pháp bàn tay nặn bột
Nội dung cơ bản của phương pháp BTNB được trình bày trong cuốn sách của
Geogres Chapark [10], trong đó có 10 nguyên tắc cơ bản bao gồm 6 nguyên tắc về
tiến trình sư phạm và 4 nguyên tắc về những đối tượng tham gia. Các nguyên tắc đề
cập đến quan điểm giáo dục, phương pháp giáo dục và đề cập đến trách nhiệm xã
hội và gia đình.
Như vậy bạn có thể tổ chức dạy học theo cách này hay cách khác nhưng các
nguyên tắc của phương pháp BTNB, đặc biệt là 6 nguyên tắc đầu cần được tôn
trọng và nó chi phối toàn bộ quá trình tổ chức dạy học. GV xây dựng nội dung
xuyên suốt qua các bài học với điều kiện, nội dung các bài học được lựa chọn phải
13
tạo thuận lợi cho việc thực hiện các nguyên tắc, đặc biệt là nguyên tắc thứ nhất. Vì
thế những nội dung mang tính trừu tượng cao hoặc đi sâu vào cơ chế vi mô thường
không được lựa chọn vì nó không thõa mãn nguyên tắc này. Đây cũng chính là
nguyên tắc lựa chọn nội dung dạy học theo phương pháp BTNB.
1.2.3. Những đặc trưng nổi bật của phương pháp bàn tay nặn bột
Sự ra đời của phương pháp BTNB xuất phát từ những đòi hỏi bức thiết của xã
hội. Trong đó quản lí kinh tế, văn hóa, xã hội đòi hỏi những phương thức mới sang
tạo hơn, tự chủ và mang tính cạnh tranh hơn. Do đó mà công dân thế kỉ XXI cần có
năng lực hòa nhập, kĩ năng sống và làm việc trong mọi trường đa văn hóa và đặt
biệt có năng lực cạnh tranh. Trong xu thế chung, phương pháp BTNB đã đón đầu và
nhắm tới các năng lực này. Dưới đây là một số đặt trưng của phương pháp BTNB.
1.2.3.1. Rèn cho HS tư duy và phương pháp làm việc của nhà khoa học
Hoạt động nghiên cứu có thể được thực hiện với nhiều cách thức khác nhau.
Có nhiều cách để giải quyết một vấn đề khoa học, tùy theo vấn đề cần giải quyết,
tùy theo điều kiện lớp học. Tuy nhiên, trong thực tế, người ta thấy rằng việc kết hợp
các cách thức khác nhau này thường là hữu ích trong hoạt động nghiên cứu khoa
học. Có 4 cách thức chính được thực hiện trong tiến trình nghiên cứu khoa học:
nghiên cứu qua quan sát, nghiên cứu thực nghiệm, nghiên cứu tài liệu, nghiên cứu
qua mô hình. Tiến trình nghiên cứu nhấn mạnh rằng vấn đề trong tình huống phải là
những vấn đề có nghĩa đối với người học, HS phải làm nổi rõ vấn đề cần giải quyết,
diễn đạt vấn đề và tiếp nhận nó và mong muốn giải quyết vấn đề đặt ra
Do đó, 4 nguyên tắc cơ bản sau cần tuân theo trong tiến trình:
- Tình huống làm nảy sinh vấn đề cần phải thách thức các kiến thức đã có của
làm việc tập thể và phải đối mặt với các hiện tượng tự nhiên. Qua tranh luận, người
học học cách bảo vệ quan điểm của mình, biết lắng nghe người khác, biết thừa nhận
ý kiến người khác trên cơ sở lí lẽ, biết làm việc cho mục đích chung trong một
khuôn khổ nhất định.
Sự phát triển ngôn ngữ ở HS phụ thuộc rất lớn vào cách thức tương tác tích
cực của HS và với GV. GV cần quan tâm đến kĩ năng tương tác và giao tiếp của
mình để từ đó có thể mang lại những điều kiện hỗ trợ phát triển ngôn ngữ tốt nhất
cho HS
Trong khi sử dụng ngôn ngữ viết, HS có thể sử dụng các sơ đồ, các hình vẽ…
Điều này đặc biệt quan trọng với sự sáng tạo của HS. Các nhà nghiên cứu tìm ra
rằng sự quan sát cẩn thận khi vẽ được thực hiện bởi não phải, nơi diễn ra các hoạt
động của trực giác và sự sáng tạo. Như vậy, vẽ theo quan sát sẽ phát triển khả năng
15
trực giác của não. Tưởng tượng có nghĩa là trực quan hóa, việc sử dụng các sơ đồ
biểu bảng, bản đồ, các hình vẽ giúp HS phát triển tư duy sáng tạo. Đó cũng là lí do
vì sao BTNB nhấn mạnh đến ngôn ngữ viết.
Như vậy, việc dạy HS phát triển ngôn ngữ và tích lũy vốn từ vựng khi còn nhỏ
là rất quan trọng. Điều đó có thể giúp trẻ làm chủ ngôn ngữ của mình, làm cơ sở cho
sự phát triển năng lực của HS. Làm chủ được ngôn ngữ không chỉ là sự mong đợi
của xã hội, của cha mẹ mà cũng là điểm hướng tới của nền giáo dục nước ta, đó
cũng là một trong những mục tiêu mà phương pháp BTNB.
1.2.3.3. Tạo thuận lợi cho HS bộc lộ và thay đổi quan niệm ban đầu theo con đường
kiến tạo
Dạy học các môn khoa học là cơ hội để khơi dậy sự tò mò, cho phép HS phát
triển tư duy khoa học, tư duy phản biện và lập luận logic. Bước đầu tiên trong tiến
trình nghiên cứu ở lớp học, theo quan điểm của phương pháp BTNB là làm nổi lên
quan niệm của HS về một chủ đề khoa học trước khi giải quyết nó trong lớp học.
Nhưng một khi các quan niệm đã được tính đến, điều quan trọng hơn là làm thế nào
động để kích thích trí tò mò của HS nhưng đồng thời cũng yêu cầu họ tìm kiếm câu
trả lời. Các quan niệm của HS có thể được tiếp nhận theo các cách khác nhau, có
thể qua trao đổi, sau đó ghi lại trên bảng để giữ lại những gì HS đã nói. Phần lớn HS
ít khó khăn khi diễn đạt bằng lời. Tuy nhiên, cách này có hạn chế vì một số HS rụt
rè, thiếu tự tin hoặc sợ người khác đánh giá. HS có thể nêu quan niệm của mình qua
diễn đạt viết. Đó có thể là câu trả lời viết cho câu hỏi mở hoặc đóng hoặc một hình
vẽ, một sơ đồ...
Sử dụng các quan niệm của HS sau đó làm đối đầu các quan niệm. Thú vị nhất
là xuất phát từ vấn đề nổi lên trong lớp học và được diễn đạt bởi chính quan niệm
của người học. Điều này sẽ khuấy động lớp học xung quanh câu hỏi do cả lớp đem
lại, nó thúc đẩy HS ham muốn khám phá. Tiếp theo, GV phải làm đối đầu các quan
niệm của HS để làm rõ ràng sự khác biệt và từ đó làm nổi lên vấn đề, HS sau đó sẽ
đưa ra các dự đoán, giả thuyết để trả lời cho vấn đề. Sự “đối đầu” các quan niệm sẽ
làm phát triển ở HS năng lực sáng tạo, tư duy phản biện và năng lực xã hội cũng
như các kĩ năng phân tích, lập luận [10].
Do vậy, muốn trẻ xây dựng tri thức khoa học, người ta không tìm cách đưa ra
những thông báo chính xác mà cần tìm cách để sao cho người học, mỗi khi họ sai,
họ phải làm tiến triển quan niệm sai tiềm ẩn.
1.2.3.4. Rèn cho HS biết cách sử dụng vở thực hành
Vở thực hành là một công cụ quan trọng của phương pháp BTNB. Nó là nơi
hội tụ của việc dạy học các môn khoa học và nắm bắt ngôn ngữ. HS sử dụng vở
thực hành để ghi chép cá nhân và tập thể ở lớp. Những ghi chép đó có thể là:
17
- Những áp phích để lưu lại những kết luận, kết quả của những hoạt động đã
tiến hành hay đơn giản là công việc đã thực hiện;
- Những gì HS quan sát thấy, các phương án thí nghiệm đề xuất, các ý tưởng
các giải pháp, những lời giải thích... sẽ được ghi lại bằng chính ngôn ngữ của người
học và với sự giúp đỡ của GV;
phương tiện trực quan trong dạy học nhằm giúp HS quan sát và từ đó giúp HS thu
nhận các thông tin về những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ - quan hệ
của những sự vật hiện tượng mà các em đang tìm hiểu. Tuy vậy việc quan sát phải
gắn bó với tư duy trừu tượng, trên cơ sở quát hóa thì nó để lại dấu ấn mạnh mẽ
trong ý thức HS.
Hoạt động nghiên cứu có thể được thực hiện với nhiều cách thức khác nhau.
Có nhiều cách để giải quyết một vấn đề khoa học, tùy theo vấn đề cần giải quyết,
tùy theo điều kiện lớp học. Tuy nhiên, trong thực tế, người ta thấy rằng việc kết hợp
các phương pháp nghiên cứu khác nhau này thường là hữu ích trong hoạt động
nghiên cứu khoa học. Có 4 phương pháp chính được thực hiện trong tiến trình
nghiên cứu khoa học trong phương pháp BTNB: nghiên cứu qua quan sát; nghiên
cứu thực nghiệm; nghiên cứu tài liệu; nghiên cứu qua mô hình.
Các PTTQ được sử dụng xuyên suốt trong các bước của phương pháp BTNB
như máy chiếu, videp clip, tranh ảnh, hình vẽ...
1.3.1.1. Máy chiếu hỗ trợ thí nghiệm tự tạo, thí nghiệm biểu diễn và các hiện tượng
vật lí
a. Thí nghiệm tự tạo
Các thí nghiệm trong phương pháp BTNB là những thí nghiệm tự tạo đơn
giản, không quá phức tạp, với các vật liệu dễ kiếm, gần gũi với HS, HS không cần
phải có phòng thực hành bộ môn riêng biệt. Để thiết kế và chuẩn bị cho các thí
nghiệm như vậy đòi hỏi GV cần phải tìm tòi, sáng tạo, học hỏi kinh nghiệm từ các
đồng nghiệp khác.
GV sử dụng PTTQ như máy chiếu có thể giới thiệu cho học sinh bộ sản phẩm
thí nghiệm tự tạo. Nếu không có sự hỗ trợ PTTQ, HS sẽ khó quan sát và nắm bắt
được dụng cụ thí nghiệm và tiến trình thực hiện, nhất là đối với phương pháp
BTNB, lớp học được chia thành từng nhóm nhỏ.
- Thí nghiệm áp suất phụ thuộc vào độ sâu chất lỏng
Dụng cụ gồm 1 ống tizo dài, 1 tấm cao su có màng mỏng, 1 chậu nước, 1 chậu
nhỏ có đường kính khoảng 15 cm, 1 giá đỡ và 1 thước nhựa dài 30 cm.
19
được lực đẩy Ac-si-mét có độ lớn bằng trọng lượng của phần chất lỏng mà vật
chiếm chổ.
Chuẩn bị: 1 tấm gỗ 20cm x 15cm x 2cm, 1 thanh gỗ 40cm x 4cm x 1cm, 1
thanh gỗ 30cm x 3cm x 1cm, hai đĩa nhựa (đồ chơi trẻ em) , một con ốc vít nhỏ,
một bình tràn, hai chiếc cốc nhỏ, một hòn đá làm vật nặng, một số quả cân, một ít
dây thép nhỏ.
Cách làm: Dùng miếng gỗ làm chân đế; gắn (đóng đinh) đầu dưới thanh gỗ
vào giữa đế làm thân giá thí nghiệm; ở đầu trên dùng đinh vít gắn thanh gỗ để tạo
thành một cái cân thăng bằng (thanh gỗ có thể xoay quanh trục dễ dàng); dùng đoạn
thép gắn vào hai đĩa nhựa làm thành một đôi gióng (đôi quang gánh) rồi treo lên cân
thăng bằng; một bên cân bỏ các quả cân, bên còn lại bỏ một chiếc cốc.
Tiến hành thí nghiệm: Treo vật nặng vào bên cân có chiếc cốc, điều chỉnh sao cho
cân thăng bằng; từ từ cho vật nặng vào bình tràn, ta thấy cân không còn thăng bằng
nữa; đổ lượng nước tràn ra từ bình tràn vào chiếc cốc trên cân ta thấy cân thăng
bằng trở lại.
Giải thích: Khi cho vật nặng vào bình tràn, ta thấy cân không còn thăng bằng
nữa đó là do lực đẩy Ác-si-mét tác dụng lên vật; đổ lượng nước tràn ra từ bình tràn
vào chiếc cốc trên cân, ta thấy cân thăng bằng trở lại, điều đó chứng tỏ độ lớn của
lực đẩy Ác-si-mét bằng trọng lượng của phần chất lỏng bị vật chiếm chổ.
b. Thí nghiệm biểu diễn và hiện tượng vật lí
Nếu không có sự hỗ trợ của PTTQ thì HS rất khó quan sát và nắm bắt được
các hiện tượng vật lí xảy ra khi GV làm thí nghiệm trên mặt phẳng ngang hoặc các
thí nghiệm trên các dụng cụ có kích thước nhỏ.
Phối hợp sử dụng sự hỗ trợ của MVT và máy chiếu đa chức năng với các sơ
21
đồ, hình vẽ, những thiết bị hướng dẫn cần thiết giúp HS tiếp nhận kiến thức một
cách nhanh chóng và đầy đủ hơn.
1.3.1.2. Video clips
23
1.3.2. Đề xuất quy trình tổ chức dạy học vật lí theo phương pháp bàn tay nặn bột
với sự hỗ trợ của phương tiện trực quan
HỌC SINH
GIÁO VIÊN
HS quan sát đoạn video trên máy tính, máyGV
chiếu,
chuẩn
hoặc
bị một
thựctình
hiệnhuấn
thí nghiệm
mở có liên quan đến vấn đề kh
Bước 1:
Làm nảy sinh vấn đề
HS ngạc nhiên đặt ra câu hỏiKiểm soát lời nói, cấu trúc câu hỏi, chính xác hóa từ vự
HS trình bày các ý tưởng của mình,Chính
đối chiếu
xác hóa
vớicác
những
ý tưởng
ý kiếnbằng
sau một
thời gianquan
đủ để
HSđiều
có thể
nghĩ,cứu
khẳng
định lại các ý kiế
3: giả thuyết của mình bằngTập
HS kiểmBước
chứng
một
hợp
hoặc
cáccác
điều
phương
kiện thí
pháp
nghiệm
đã hình
nhằm
dung
kiểm
ở trên
chứng các ý tưởng ng
Thực hiện các nghiên cứu
lợi cho GV trong quá trình lựa chọn tình huống dạy học. Những tình huống này phải
thách thức kiến thức đã có của người học, kích thích hoạt động học sao cho nảy sinh
vấn đề, HS tiếp nhận vấn đề cần giải quyết và bắt tay vào giải quyết.
Khi tổ chức tình huống, đó là một tình huống trong cuộc sống thường ngày,
hoặc một tình huống giả định, đưa ra các tình huống mâu thuẩn tạo nên các cuộc
thảo luận.
Với việc sử dụng PTTQ, cách mở đầu bài học đã có những thuận lợi nhất định.
Trong giai đoạn này, GV có thể sử dụng máy tính hỗ trợ trong việc tóm tắt kiến thức
đã học từ các bài trước, đưa ra các hình ảnh, các đoạn phim về các hiện tượng vật lí
một cách trực quan và yêu cầu HS giải thích các hiện tượng đó. GV cũng có thể sử
dụng PTTQ như các phương tiện hỗ trợ (các loại bảng viết , thiết bị bổ trợ trong
trình chiếu…); các phương tiện ghi chép (giấy, bút…) và các phương tiện khác
nhằm hỗ trợ trong việc đưa ra các hiện tượng mới cần nghiên cứu, đặt ra những tình
huống có vấn đề đối với HS.
Ví dụ sau khi các em chơi với bóng mình dưới ánh mặt trời, các em được mời
vẽ bóng cây và mặt trời vào một tờ giấy. Việc xem xét các hình vẽ khác nhau gợi
nên các tranh cãi tại sao lại như thế, câu hỏi đặt ra tại sao các hình vẽ không giống
nhau ? Tại đây làm nảy sinh vấn đề. Hoặc HS có thể quan sát thí nghiệm, làm thí
nghiệm. Từ tình huống xuất phát đó GV đặt ra câu hỏi nêu vấn đề, làm bộc lộ quan
điểm ban đầu của HS. Câu hỏi nêu vấn đề cần đảm bảo yêu cầu phù hợp với trình
độ, gây mâu thuẫn nhận thức và kích thích tính tò mò, thích tìm tòi, nghiên cứu của
HS nhằm chuẩn bị tâm thế cho HS trước khi khám phá, lĩnh hội kiến thức.
25