TIẾP TỤC ĐỔI MỚI CÔNG TÁC TÔN GIÁO ĐÁP ƯNG YÊU CẦU,
NHIỆM VỤ TRONG TÌNH HÌNH MỚI
Cùng với sự nghiệp đổi mới, trước hết là đổi mới tư duy, Đảng ta đã từng
bước đổi mới về vấn đề tôn giáo và công tác tôn giáo. Trong quá trình đó, tư duy
lý luận của Đảng ta về vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo ngày càng được thể hiện một
cách đầy đủ, hoàn thiện hơn theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh. Chính vì vậy, Đại hội lần thứ XII của Đảng chỉ rõ: "Tiếp
tục hoàn thiện chính sách, phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của
các tôn giáo"1.
Sau 30 năm tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, quan điểm đổi mới của
Đảng ta về vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo ngày càng phát triển hoàn thiện và đi vào
cuộc sống. Bước ngoặt trong sự đổi mới tư duy lý luận của Đảng ta về vấn đề
tôn giáo được đánh dấu bằng sự ra đời Nghị quyết số 24 của Bộ Chính trị ngày
16/10/1990 "Về tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới”. Về nhận
thức lý luận, Đảng ta đã nêu lên "3 luận đề" có tính đột phá về vấn đề tôn giáo,
tín ngưỡng: Một là, tôn giáo là vấn đề còn tồn tại lâu dài; Hai là, tín ngưỡng, tôn
giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân và Ba là, đạo đức tôn giáo
có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới.
Đồng thời nêu lên “3 quan điểm” đổi mới về công tác tôn giáo: Một
là, công tác tôn giáo vừa quan tâm giải quyết hợp lý nhu cầu tín ngưỡng của
quần chúng, vừa cảnh giác kịp thời đấu tranh chống địch lợi dụng tôn giáo phá
hoại cách mạng; Hai là, nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận
động quần chúng và Ba là, công tác tôn giáo là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống
chính trị. Để có được những tư tưởng đổi mới có tính "đột phá” nêu trên, Đảng
ta tìm tòi, trăn trở trên cơ sở vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh về vấn đề tôn giáo vào tình hình tôn giáo ở nước ta. Trong quá
trình đổi mới, tư duy lý luận của Đảng ta về vấn đề tôn giáo tiếp tục được bổ
sung, hoàn thiện trong các chỉ thị, nghị quyết tiếp theo. Chỉ thị 37 của Bộ Chính
trị (2/7/1998) chỉ rõ: "Những giá trị văn hoá, đạo đức tốt đẹp của tôn giáo được
liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo để xâm lược, đô hộ nước ta, hoặc gây mất ổn
định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, phục vụ cho ý đồ đen tối của
chúng. Hiện nay, các thế lực thù địch vẫn sử dụng, lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo
như một thứ vũ khí nhằm thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, phá hoại
công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Với chiêu
bài “tự do tôn giáo”, “nhân quyền”, chúng xuyên tạc, bóp méo đường lối, chính
sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta, âm mưu tạo ra lực
lượng và xây dựng ngọn cờ trong tôn giáo hòng lật đổ Nhà nước xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam.
Tình hình tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam hiện nay, về cơ bản là ổn định, do
nhận thức ngày càng rõ của đại bộ phận tín đồ, chức sắc tôn giáo về đường lối, chính
sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta. Hệ thống quy phạm pháp
luật về tín ngưỡng, tôn giáo được bổ sung, hoàn thiện; công tác vận động quần chúng
và công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo, về an ninh, trật tự ở cơ sở ngày
càng được chú trọng. Ban lãnh đạo các cấp của hầu hết các tổ chức tôn giáo đều đang
hướng các tôn giáo theo hoạt động “đồng hành cùng dân tộc”. Tuy nhiên, còn có
những phần tử xấu, thậm chí phản động trong các tôn giáo lợi dụng các vấn đề nổi
cộm trong hoạt động tôn giáo, trong quan hệ giữa chính quyền và nhân dân địa
phương để kích động, gây rối, hậu thuẫn cho các phần tử chống đối ở trong nước và
nước ngoài. Biểu hiện cụ thể là:
Tình trạng chuyển nhượng, hiến tặng đất, mở rộng cơ sở thờ tự, xây dựng nhà
thờ, nhà nguyện trái pháp luật diễn ra ở nhiều địa phương. Việc dựng tượng Thánh,
tượng Chúa, tượng Phật,... trên đất công vẫn còn diễn ra ở một số nơi.
Các hoạt động tôn giáo trái pháp luật. Tình trạng chức sắc “phong chui”,
“tự nhận” tuy giảm nhưng vẫn tiếp diễn; hoạt động in ấn, xuất bản, nhập từ nước
ngoài và lưu hành kinh sách, ấn phẩm tôn giáo trái phép vẫn diễn ra; hiện tượng
giảng đạo, truyền đạo trái pháp luật tiếp tục diễn ra ở một số vùng đồng bào dân
tộc thiểu số, vùng biên giới.
Kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng ta về tự do tín
ngưỡng, tôn giáo và đoàn kết dân tộc qua các thời kỳ cách mạng, trong công
cuộc đổi mới đất nước, Đảng ta đã có nhiều chủ trương về tín ngưỡng, tôn giáo
và công tác tôn giáo. Nghị quyết số 24/NQ-TW, ngày 16-10-1990, của Bộ Chính
trị khóa VI “Về tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới” đã nêu hai
luận điểm mang tính đột phá: “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của
một bộ phận nhân dân” và “Tôn giáo có những giá trị văn hóa, đạo đức phù hợp
với chế độ mới”. Đặc biệt, tại Hội nghị Trung ương 7 khóa IX, Đảng ta đã thông
qua Nghị quyết số 25-NQ/TW, ngày 12-3-2003, “Về công tác tôn giáo”. Đại hội
XI của Đảng tiếp tục khẳng định: “Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về
tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp với quan điểm của Đảng. Phát huy những giá trị
văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo; động viên các tổ chức tôn giáo, chức
sắc, tín đồ sống tốt đời, đẹp đạo, tham gia đóng góp tích cực cho công cuộc xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc. Quan tâm và tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo
sinh hoạt theo hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công
nhận, đúng quy định của pháp luật. Đồng thời, chủ động phòng ngừa, kiên quyết
đấu tranh với những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để mê hoặc, chia rẽ,
phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc”(1).
Quan điểm, chủ trương của Đảng ta về tín ngưỡng, tôn giáo và công tác
tôn giáo thể hiện tập trung ở những nội dung chủ yếu: Xây dựng hệ thống chính
sách, pháp luật để bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân;
thống nhất quyền lợi, nghĩa vụ của công dân để các chức sắc, nhà tu hành, tín đồ
tôn giáo sống “tốt đời, đẹp đạo”; phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp
của các tôn giáo trong xây dựng xã hội mới; công tác vận động chức sắc, tín đồ
tôn giáo là một nhiệm vụ quan trọng của cả hệ thống chính trị; kiên quyết đấu
tranh làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng và sử dụng tôn giáo
để chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân; xây dựng bộ máy làm công tác tôn
giáo của Đảng, Nhà nước, các đoàn thể nhân dân năng động, hoạt động hiệu
tôn giáo, thời hạn công nhận là tổ chức tôn giáo; quản lý đối với trường đào tạo
tôn giáo trong việc tuyển sinh; đăng ký hiến chương, điều lệ sửa đổi (nếu có)
của tổ chức tôn giáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền; hoạt động tôn giáo
tại cơ sở được xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh; phân loại
các công trình tín ngưỡng, tôn giáo, công trình phụ trợ và yêu cầu về cấp phép
xây dựng nhằm bảo đảm tuân thủ pháp luật về xây dựng; sinh hoạt tôn giáo của
người nước ngoài tại cơ sở tôn giáo của Việt Nam; các cơ quan quản lý nhà
nước có liên quan trong việc quản lý hoạt động tôn giáo; tiếp nhận và xử lý hồ
sơ của các tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động tôn giáo, số lượng hồ sơ gửi
đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền, thời hạn trả lời các tổ chức, cá nhân tôn
giáo, tiếp nhận hồ sơ;...
Một số văn bản pháp luật khác là Chỉ thị số 01/2005/CT-TTg, ngày 04-22005, của Thủ tướng Chính phủ về một số công tác đối với đạo Tin Lành; Chỉ
thị số 1940/CT- TTg, ngày 31-12-2008, của Thủ tướng Chính phủ về nhà đất
liên quan đến tôn giáo; Thông tư số 01/2013/TT-BNV, ngày 25-3-2013, của Bộ
Nội vụ “Ban hành và hướng dẫn sử dụng biểu mẫu và thủ tục hành chính trong
lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo”. Bên cạnh đó, Quốc hội đã thông qua nhiều đạo
luật, nghị quyết điều chỉnh các mối quan hệ nảy sinh trong hoạt động tín
ngưỡng, tôn giáo, như Bộ luật Hình sự, Luật Đất đai, Nghị quyết số
23/2003/QH11, ngày 26-11-2003, “Về nhà đất do Nhà nước đã quản lý, bố trí sử
dụng trong quá trình thực hiện các chính sách quản lý nhà đất và chính sách cải
tạo xã hội chủ nghĩa trước ngày 01 tháng 7 năm 1991”,...
Công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo
Trong thời kỳ đổi mới đất nước, quan điểm, chính sách nhất quán của
Đảng, Nhà nước ta về tự do tín ngưỡng, tôn giáo được thực hiện cởi mở hơn,
nhất là từ khi thực hiện Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo (năm 2004) đến nay, đã
tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo. Các lễ
trọng của các tôn giáo hằng năm, các đại hội nhiệm kỳ của các tổ chức tôn
giáo,... được tổ chức trọng thể, trang nghiêm, an toàn, với quy mô ngày càng lớn
tôn giáo khác là chuyện thường xuyên; việc tự nguyện đóng góp, giúp đỡ của tín
đồ tôn giáo này cho tín đồ tôn giáo khác và những người không theo tôn giáo trở
nên khá phổ biến, thể hiện tinh thần đoàn kết, gắn bó giữa các tôn giáo, giữa đạo
và đời.
Nhiều hoạt động tôn giáo quốc tế lớn được tổ chức trọng thể, thành công
ở nước ta thời gian qua được dư luận thế giới đánh giá cao, là minh chứng sinh
động về chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam. Điển hình là các hoạt
động: Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc (Vesak) năm 2008; Hội nghị Nữ giới Phật
giáo thế giới lần thứ XI (năm 2009 - 2010); Lễ Khai mạc Năm Thánh của Giáo
hội Công giáo năm 2009; Hội nghị Liên Hội đồng Giám mục Á châu lần thứ X
(năm 2012);... Nhìn chung, các hoạt động tôn giáo quốc tế nói trên đều thành
công tốt đẹp, đạt được mục tiêu. Nhờ có sự giúp đỡ của Nhà nước ta, các hoạt
động đó đều tuân thủ pháp luật, an toàn, hoành tráng, giàu bản sắc dân tộc Việt
Nam, gây ấn tượng với bạn bè quốc tế.
Một số vấn đề đặt ra trong đổi mới công tác tôn giáo trước tình hình mới
Thứ nhất, sửa đổi một số nội dung của Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo,
tiến tới xây dựng Luật Tín ngưỡng, tôn giáo. Hiện nay, vấn đề “thể nhân” và
“pháp nhân” của các tổ chức tôn giáo chưa rõ ràng. Các tổ chức tôn giáo được
công nhận, được đăng ký hoạt động, song lại không có quyền pháp nhân, như
các hội đoàn, các tổ chức phi chính phủ,… (Trong Luật Dân sự chưa quy định
chỗ đứng cho các tổ chức tôn giáo). Đây là vấn đề đặc biệt quan trọng mà các
tôn giáo và người làm công tác quản lý nhà nước về tôn giáo đang lúng túng
trong việc xử lý.
Nhiều mối quan hệ của tín ngưỡng, tôn giáo chưa có quy phạm pháp luật
điều chỉnh, do đó, chưa đáp ứng được yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế (chẳng hạn, chưa có quy
định về “tà đạo”, về hoạt động của các giáo hội tôn giáo Việt Nam ở nước ngoài;
hoặc quy định chưa đầy đủ về các hoạt động xã hội của tôn giáo, về hoạt động,
điểm xử lý các vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo, làm cho mọi người dân thấy rằng,
đổi mới quan điểm, chính sách, quan hệ với các tín ngưỡng, tôn giáo là một
trong những đổi mới quan trọng của quá trình đổi mới toàn diện đất nước.
Phải xem xét các vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo trên quan điểm lịch sử - cụ
thể để xử lý một cách biện chứng. Chủ động phát hiện nguyên nhân các vấn đề
có thể nảy sinh trong tín ngưỡng, tôn giáo để chủ động xử lý, không để bùng
phát thành “điểm nóng”, ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự xã hội và quan
hệ quốc tế, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội. Nếu đã nảy sinh các vụ,
việc về tín ngưỡng, tôn giáo thì chủ động xử lý tại cơ sở, không để lây lan trên
diện rộng. Phải hình thành tư tưởng “chủ động trong công tác tôn giáo”.
Thứ tư, hình thành nguyên tắc, phương châm trong công tác tôn giáo. Cần
quán triệt sâu sắc đường lối của Đảng về lực lượng quần chúng cách mạng, về
tín ngưỡng, tôn giáo, về vấn đề dân tộc. Phải thấy được rằng, giải quyết vấn đề
tôn giáo là giải quyết vấn đề lực lượng cách mạng; công tác tôn giáo phải là
công tác của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của
Đảng. Trong công tác tôn giáo, luôn bảo đảm nguyên tắc: Giải quyết vấn đề tôn
giáo phải dựa trên yêu cầu, nhiệm vụ chính trị là chính; phải vận dụng đường lối
của Đảng về vấn đề dân tộc, tôn giáo, quốc tế một cách sáng tạo trong khi áp
dụng các biện pháp pháp luật. Giải quyết vấn đề tôn giáo phải nhằm đạt được
kết quả toàn diện, lâu dài. Đồng thời, cần quán triệt phương châm: Luôn luôn sử
dụng các yếu tố tín ngưỡng, tôn giáo, dân tộc để giải quyết các vấn đề tín
ngưỡng, tôn giáo; phải vừa tranh thủ, vừa đấu tranh khi giải quyết các vấn đề tín
ngưỡng, tôn giáo, lấy tranh thủ là chính.
Thứ năm, chú trọng công tác đối ngoại tôn giáo. Cần nghiên cứu, xem xét
mở rộng mặt trận đối ngoại thông qua con đường tôn giáo (bao gồm cả đối ngoại
nhân dân và đối ngoại nhà nước) nhằm phục vụ công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ
quốc và hội nhập quốc tế, trong đó chú trọng quan hệ với Va-ti-can, các quốc gia
có đông tín đồ Hồi giáo ở Trung Đông, Đông Nam Á và các quốc gia có đông
quan, biến lực lượng tự nhiên thành huyền bí và khiến cho con người trở thành
nô lệ của nó. Tôn giáo là sản phẩm của con người, do con người sáng tạo ra và
đến lượt nó lại quay trở lại thống trị con người về tinh thần. Theo Mác: “Tôn
giáo là sự tự ý thức và sự tự cảm giác của con người chưa tìm được bản thân mình
hoặc đã lại để mất bản thân mình một lần nữa”2; còn Lênin cho rằng: trong “xã hội
1
2
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb CTQG, H. 2016, tr 73
C.M¸c vµ Ph.¡ngghen, Toµn tËp, Nxb CTQG, H.1995, TËp 1, tr 569.
hiện đại hoàn toàn xây dựng trên sự bóc lột của một thiểu số không đáng kể dân
cư, thuộc các giai cấp địa chủ và tư bản, đối với quảng đại quần chúng giai cấp
công nhân”3, thì “sự áp bức công nhân về mặt kinh tế nhất định gây nên và đẻ ra
mọi hình thức áp bức chính trị đối với quần chúng, làm cho địa vị xã hội của quần
chúng thấp kém đi, làm cho đời sống tinh thần và đạo đức của quần chúng mê muội
và tối tăm”4. Chính “sự bất lực của giai cấp bị bóc lột trong cuộc đấu tranh chống
bọn bóc lột tất nhiên đẻ ra lòng tin vào một cuộc đời tốt đẹp hơn ở thế giới bên kia,
cũng giống y như sự bất lực của ngời dã man trong cuộc đấu tranh chống thiên
nhiên đẻ ra lòng tin vào thần thánh, ma quỷ, vào những phép màu,...”5.
Hơn nữa, tín ngưỡng, tôn giáo luôn được các giai cấp áp bức bóc lột lợi
dụng để thực hiện sự thống trị của mình. Do đó, tín ngưỡng, tôn giáo đã tồn tại
và gây ảnh hưởng hết sức tiêu cực đến đời sống xã hội nói chung và đời sống
tinh thần của quân nhân Quân đội ta nói riêng.
Sự ảnh hưởng tiêu cực của tín ngưỡng, tôn giáo đến đời sống tinh thần
của quân nhân Quân đội ta hiện nay là tất yếu khách quan, nó xuất phát từ
những nguyên nhân cơ bản sau đây:
Thứ nhất, xuất phát từ mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội;
mối quan hệ giữa các hình thái ý thức xã hội.
khng hong ca ch ngha t bn ang din ra nhiu nc, do s tng trng
v kinh t ó khụng ngn cn c s suy thoỏi v mt xó hi. Chớnh iu ny
ó lm tng thờm tõm lý bt món ca qun chỳng nhõn dõn v khin h i tỡm
con ng thoỏt khi ni kh trn gian.
S sp ca h thng cỏc nc xó hi ch ngha ó lm o ln nghiờm
trng i sng vt cht, tinh thn ca nhõn dõn cỏc nc ú. c bit, nú ó lm
v nim tin ca mt b phn ụng o nhõn dõn vo lý tng xõy dng cuc
sng tt p trờn trn th.
V mt khoa hc cụng ngh: mc dự cú bc phỏt trin nh v bóo ó
gúp phn nõng cao nhn thc, nng lc lm ch ca con ngi, nhng nhỡn
chung vn cũn nhiu vn phc tp m con ngi cha lý gii v lm ch
c. Hng lot cỏc vn ang tip tc ny sinh, e do n sinh mng con
ngi nh: nguy c xy ra chin tranh ht nhõn, vn ụ nhim mụi trng sinh
thỏi, bnh tt, súng thn, l lt, st l t... Nhng iu ú ó lm cho nhiu
ngi tin vo s phn, tin vo ngy tn th. Do ú, tõm lý, tỡnh cm, nim tin tớn
ngng, tụn giỏo vn tip tc tn ti, thm chớ cũn cú s gia tng.
Nc ta ang trong thi k quỏ , t mt xó hi vi nn kinh t ph bin
l sn xut nh, t cung, t cp, b qua ch t bn ch ngha tin lờn ch
ngha xó hi. Trong xó hi cũn tn ti nhiu tn d ca ch c, c bit t nc
6
Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị đại biểu giữa nhiệm kỳ khoá VII, Nxb
CTQG, H.1994, tr 49.
lại trải qua nhiều năm chiến tranh tàn phá, để lại những hậu quả hết sức nặng nề.
Do đó, đã làm nảy sinh và phát triển nhu cầu về đời sống tâm linh ở quần chúng
nhân dân.
Trong những năm đổi mới vừa qua, mặc dù chúng ta đã thu được những
thành tựu về kinh tế - xã hội hết sức quan trọng và có ý nghĩa lịch sử, bộ mặt của
vấn đề hết sức phức tạp và nhạy cảm.
Thứ ba, do những hạn chế, thiếu sót trong công tác giáo dục chính trị tư
tưởng cho quân nhân.
Việc thực hiện chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta và chăm lo
xây dựng các tổ chức trong đơn vị và xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện của
một bộ phận cán bộ các cấp chưa làm tốt, chất lượng hiệu quả còn kém, mất
đoàn kết thống nhất trong đơn vị... nó đã làm cho ảnh hưởng tiêu cực của tín
ngưỡng, tôn giáo càng gia tăng trong đời sống tinh thần của cán bộ, chiến sĩ.
Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng mà trực tiếp là thực hiện chính sách
tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta ở các đơn vị trong quân đội còn nhiều hạn
chế, bất cập. Chính điều đó đã làm cho hệ tư tưởng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh chậm được xác lập và chiếm lĩnh trong đời sống tinh thần
của một bộ phận quân nhân có tín ngưỡng, tôn giáo; các lĩnh vực cơ bản trong
đời sống vật chất và đời sống tinh thần của cán bộ, chiến sĩ chưa được xây dựng
vững chắc, nhu cầu văn hoá, tinh thần của cán bộ, chiến sĩ chưa được quan tâm
đúng mức... Đó chính là nguyên nhân cơ bản để cán bộ, chiến sĩ tìm đến và chịu
ảnh hưởng tiêu cực của tín ngưỡng, tôn giáo.
Việc tiến hành công tác tôn giáo cũng còn những hạn chế nhất định, đây là
một trong những nguyên nhân trực tiếp làm gia tăng ảnh hưởng tiêu cực của tín
ngưỡng, tôn giáo đến đời sống tinh thần của cán bộ, chiến sĩ. Hiện nay, vẫn còn
một số cán bộ, chiến sỹ nhận thức chưa đầy đủ còn lúng túng trong tiến hành
công tác tôn giáo. Đặc biệt, việc tham gia tiến hành xử lý các công việc liên
quan đến công tác tôn giáo còn thiếu chủ động, thiếu sự thống nhất, việc lựa
chọn, bồi dưỡng lực lượng cốt cán trong số quân nhân theo đạo còn nhiều hạn
chế, thiếu hiệu quả. Cá biệt có đơn vị do chưa quán triệt đầy đủ về nhiệm vụ tiến
hành công tác tôn giáo, nên vẫn còn để xảy ra tình trạng phân biệt đối xử, ngại
tiếp xúc, ngại tuyển quân là công dân theo đạo. Chính điều đó, cũng góp phần
làm cho ảnh hưởng tiêu cực của tín ngưỡng, tôn giáo đến đời sống tinh thần của
cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội ta.
7
Tôn giáo ở Việt Nam, Nxb QĐND, H 1998, tr 222 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb CTQG, H
1995, tập 4, tr 9).
8
V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb Tiến bộ, M. 1979, Tập 12, tr 175.
điểm mới phù hợp với hoàn cảnh lịch sử mới. Đó cũng là yêu cần mới đặt ra cho
các nhà lý luận và hoạch định đường lối chính sách đối với tôn giáo, tín ngưỡng
thời đại mới. Bên cạnh đó, việc lợi dụng tin ngưỡng, tôn giáo để chống phá cách
mạng là âm mưu cố hữu không ba giờ từ bỏ của các thế lực thù địch đôi với
nước ta. Mục tiêu cơ bản và xuyên suốt của các thế lực thù địch trong lợi dụng
tôn giáo là nhằm phá hoại nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta
dưới sự lãnh đạo của Đảng vì một nước Việt Nam độc lập và chủ nghĩa xã hội.
Thời gian tới, để đấu tranh làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch lợi
dụng tín ngưỡng, tôn giáo để chống phá cách mạng nước ta, các đơn vị cần thực
hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân
cư”; xây dựng cuộc sống của đồng bào tôn giáo “tốt đời, đẹp đạo”, góp phần giữ
vững an ninh, chính trị vừng đồng bào tôn giáo trên địa bàn đóng quân.