xây dựng đội ngũ công nhân thái bình đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh - Pdf 23

Đại học quốc gia hà nội
đại học khoa học xã hội và nhân văn
*
Lê Lan Anh

Xây dựng đội ngũ công nhân Thái Bình
đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện
đại hóa ở tỉnh
luận văn thạc sỹ khoa học triết học
Hà Nội 2006

Đại học quốc gia hà nội
đại học khoa học xã hội và nhân văn
*
Lê Lan Anh

Xây dựng đội ngũ công nhân Thái Bình
đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh
luận văn thạc sỹ khoa học triết học
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học
Mã số : 50103
Ngời hớng dẫn: Tiến sỹ Dơng Văn Duyên
Hà Nội 2006

Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng
tôi dới sự hớng dẫn của Tiến sỹ Dơng Văn Duyên. Các số liệu và kết quả đ-
ợc nêu trong luận văn là trung thực và có xuất xứ rõ ràng.
Ngời cam đoan
Lê Lan Anh


công lao động khu vực và quốc tế. Thông qua hội nhập để xuất khẩu lao động,
tham gia các hợp đồng xuất khẩu, đồng thời nhập khẩu lao động kỹ thuật cao, các
công nghệ mới, các phát minh sáng chế mà đất nớc ta cha có nhằm tiếp cận với
nền khoa học công nghệ hiện đại, tranh thủ thời cơ đi tắt đón đầu để phát triển
một số ngành kinh tế mũi nhọn, có lợi thế cạnh tranh. Đây cũng là cơ hội tốt để
giai cấp công nhân Việt Nam có điều kiện học tập, nâng cao trình độ học vấn, tay
nghề, trình độ tổ chức quản lý. Tuy nhiên, toàn cầu hoá cũng đặt cách mạng nớc
ta trớc những thách thức không thể xem thờng: trình độ văn hoá, ngoại ngữ, tin
học, trình độ khoa học công nghệ, kỹ năng nghề nghiệp, tính tổ chức, tính kỷ

luật, tác phong công nghiệp còn những bất cập trớc những đòi hỏi cao của quy
trình sản xuất gắn với khoa học, công nghệ tiên tiến.
Đứng trớc những thách thức của thời đại, Việt Nam từ một nền sản xuất
nhỏ, năng suất lao động thấp, muốn vợt qua thách thức phải thực hiện thắng lợi sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá . Hội nghị Trung ơng lần thứ 7 khoá VII
của Đảng Cộng sản Việt Nam xác định :
Quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh
doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế xã hội, từ sử dụng thủ công là chính sang
sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghiệp, phơng tiện
và phơng pháp tiên tiến hiện đại, dựa trên s phát triển của công nghệ và
tiến bộ khoa học tạo ra năng suất lao động xã hội cao[7,42]
Muốn thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc
chúng ta cần phải tiến hành nhiều việc, quan trọng nhất là phải xây dựng công
nhân phát triển về số lợng, giác ngộ về giai cấp, vững vàng về chính trị, t tởng,
có trình độ học vấn, tay nghề cao, có năng lực tiếp thu và sáng tạo công nghệ
mới, lao động đạt năng suất, chất lợng, hiệu quả cao, vơn lên làm tròn sứ mệnh
lịch sử của mình
Hoà chung với đất nớc, là một bộ phận của giai cấp công nhân Việt Nam,
đội ngũ công nhân Thái Bình bên cạnh những đặc điểm chung của giai cấp công
nhân cả nớc, còn có những đặc điểm riêng mang tính đặc thù của một tỉnh nông

cứu Công nhân và Công đoàn, Nhà xuất bản lao động, Hà Nội 2004.
Một số bài viết đã đợc đăng ở các tạp chí chuyên ngành nh:
Để giai cấp công nhân tiếp tục đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nớc của Hoàng Trung Hải, Tạp chí Cộng sản số 4+5 tháng
12/2003 trang 55.
Đội ngũ công nhân Thái Bình thực trạng và giải phápcủa Nguyễn Đức
Hợp, Tạp chí Nghiên cứu lý luận số tháng 3/1997 trang 19.
Giai cấp công nhân trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất n-
ớc của Khổng Doãn Hợi, Tạp chí Cộng sản số 3 tháng 2/1998 trang 27.
Trí thức hoá giai cấp công nhân nớc ta hiện nay của Cù Thị Hậu, Tạp
chí Cộng sản số 13 tháng 7/2001 trang 8
Những công trình trên đã khảo sát thực tế trình độ và phân tích thực trạng
giai cấp công nhân trớc yêu cầu của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nớc, đồng thời đa ra những kiến nghị và giải pháp để xây dựng đội ngũ công nhân
ngày càng lớn mạnh.
Tuy các công trình đó có quy mô và khảo sát ở các tỉnh khác nhau, song
có những điểm chung là: Khẳng định vai trò của đội ngũ công nhân nớc ta trong
quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc và sự cần thiết xây dựng phát
triển giai cấp công nhân về mọi mặt.
Cùng với các công trình trên, có nhiều bài viết đề cập gián tiếp tới vấn đề
mà đề tài nghiên cứu đã đợc đăng trên các tạp chí nh: Tạp chí Nghiên cứu lý luận,
Tạp chí Cộng sản, Tạp chí Thông tin lý luận chủ nghĩa xã hội- lý luận và thực
tiễn
Những công trình và bài viết trên đợc tác giả luận văn nghiên cứu, kế thừa
và vận dụng trong khi thực hiện luận văn của mình.
Vấn đề này cũng đã có một số tác giả nghiên cứu, song qua luận văn tác
giả muốn làm rõ hơn thực trạng đội ngũ công nhân Thái Bình để từ đó đề xuất
một số giải pháp nhằm xây dựng đội ngũ công nhân lực lợng đi đầu trong sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Tỉnh .


nhân và những yêu cầu xây dựng đội ngũ công nhân trong giai đoạn hiện nay .
* Về thực tiễn: Từ kết quả nghiên cứu, luận văn có thể trở thành tài liệu
tham khảo cho các cơ quan Đảng, cơ quan quản lý Nhà nớc đa ra các chính sách
xây dựng giai cấp công nhân ngày càng vững mạnh. Các doanh nghiệp, các cơ
quan nghiên cứu, các tổ chức Công đoàn có thể sử dụng kết quả nghiên cứu của
luận văn trong việc xây dựng đội ngũ công nhân ở cơ sở mình cho phù hợp với
yêu cầu hiện nay của Thái Bình
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, đề
tài gồm 3 chơng với 7 tiết . NộI DUNG
Chơng1: Công nghiệp hoá, hiện đại hoá và xây dựng đội
ngũ công nhân ở Thái Bình
1.1 Công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam
1.1.1 Khái niệm công nghiệp hoá, hiện đại hoá :
Trong mấy trăm năm, khởi đầu từ cuộc cách mạng công nghiệp diễn ra ở
Anh ( cuối thế kỷ XVII ), trên thế giới đã có nhiều nớc tiến hành công nghiệp hoá
(sau Anh là Hà Lan, Pháp , Đức, Italia). Đã có nhiều nớc khá thành công, hội
nhập vào thế giới văn minh công nghiệp, song cũng không ít nớc bị thất bại trở
thành con nợ phụ thuộc vào nớc ngoài và rơi vào tình trạng khủng hoảng triền
miên.
Thực ra, cuộc cách mạng công nghiệp ở Anh cũng nh trên thế giới, đều là
kết quả của quá trình phát triển lâu dài không ngừng của sản xuất. Con ngời luôn
cải tiến công cụ lao động, cải tiến t liệu sản xuất để nâng cao hiệu quả của quá
trình chinh phục thiên nhiên, nâng cao năng suất lao động. Nhng nhiều thế kỷ
qua, ở nhiều nớc quá trình thay đổi diễn ra khá chậm chạp, công cụ lao động vẫn
là thủ công, nông nghiệp vẫn là ngành sản xuất chính.
Nền sản xuất t bản chủ nghĩa bắt đầu từ thời phong kiến ( thế kỷ XV- XVI)

Công nghiệp hoá là một quá trình phát triển kinh tế trong đó một bộ phận
nguồn lực quốc gia ngày càng lớn đợc huy động để xây dựng cơ cấu kinh
tế nhiều ngành với công nghệ hiện đại để chế tạo ra các phơng tiện sản
xuất, hàng tiêu dùng, có khả năng đảm bảo một nhịp độ tăng trởng cao
trong toàn nền kinh tế và đảm bảo sự tiến bộ về kinh tế xã hội[31,100-
101]
Đối với nớc ta, bỏ qua chế độ t bản chủ nghĩa tiến thẳng lên chủ nghĩa xã
hội, từ một nớc nông nghiệp lạc hậu, nghèo nàn với nền kinh tế chậm phát triển,
hậu quả chiến tranh nặng nề, lại phải tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lợc:
xây dựng và bảo vệ tổ quốc, Đảng ta sớm nhận thức đợc vị trí, vai trò của công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc. Mục tiêu Dân giàu nớc mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh mà nhân dân ta đang hớng tới sẽ chủ yếu tuỳ thuộc vào
tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa.
Bởi vì công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc là quá trình chuyển biến theo quy
luật từ xã hội nông nghiệp lạc hậu sang xã hội công nghiệp văn minh. Đó là quá
trình cải biến toàn diện cả về phơng thức sản xuất, kiến trúc thợng tầng, cả quan
hệ xã hội và cơ cấu xã hội, là quá trình xã hội hoá dới hình thức thị trờng, tuỳ
theo điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của mỗi nớc. Trong lịch sử phát triển của các n-
ớc trên thế giới, dù ở những thời kỳ lịch sử khác nhau, với trình độ phát triển khác
nhau, nhng tất cả những nớc ở trình độ phát triển cao đều phải trải qua quá trình
công nghiệp hoá, nghĩa là quá trình chuyển biến một nền kinh tế nông nghiệp
thành một nền kinh tế công nghiệp hiện đại. Đối với nớc ta, chỉ có đẩy mạnh
công nghiệp hoá, hiện đại hoá mới có khả năng thoát khỏi nguy cơ tụt hậu xa hơn
với các nớc trong khu vực và trên thế giới, mới đảm bảo an ninh, ổn định chính trị
- xã hội, giữ vững độc lập và định hớng xã hội chủ nghĩa.
Thực ra t tởng về công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã đợc Đảng ta xác định là
nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, từ Đại hội lần
thứ III. Đại hội IV,V của Đảng đã tiếp tục khẳng định, cụ thể hoá và hiện thực
hoá từng bớc t tởng trên. Tuy nhiên, có thể nói suốt thời gian dài (từ 1960 đến
1968) quan niệm và cách tiến hành công nghiệp hoá ở nớc ta hầu nh không thay

lồng ghép bổ sung cho nhau tạo nên sự phát triển toàn diện về kinh tế và xã hội.
Trên tinh thần đó, Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ơng khoá VII xác
định, công nghiệp hoá, hiện đại hoá là :
Quá trình chuyển đổi căn bản toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh
doanh , dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động thủ công là
chính, sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ,
phơng tiện và phơng pháp tiện tiến hiện đại, dựa trên sự phát triển của
công nghệ và tiến bộ khoa học công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội
cao[7,42]
Sau 10 năm thực hiện đờng lối đổi mới toàn diện và 5 năm thực hiện Nghị
quyết Đại hội Đảng lần thứ VII, đất nớc ta đã vợt qua những thử thách thu đợc

những thành tựu to lớn, có ý nghĩa quan trọng. Đại hội lần thứ VIII của Đảng trên
cơ sở đánh giá một cách khách quan, khoa học những tiền đề đợc tạo ra sau 10
năm đổi mới đã nhận định: nớc ta đã thoát khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội và đã
chuyển sang thời kỳ phát triển mới- thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại
hoá. Mục tiêu cơ bản đợc Đảng ta xác định:
Xây dựng nớc ta thành một nớc công nghiệp có cơ sở vật chất- kỹ thuật
hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình
độ phát triển của lực lợng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao,
quốc phòng, an ninh vững chắc, dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng,
văn minh. Từ nay đến năm 2020, ra sức phấn đấu đa nớc ta cơ bản trở
thành một nớc công nghiệp[8,80]
Xuất phát từ tình hình hiện nay và yêu cầu phát triển đất nớc trong thời kỳ
mới, đờng lối kinh tế của Đảng đợc xác định tại Đại hội IX là:
Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá xây dựng nền kinh tế độc lập,
tự chủ, đa nớc ta trở thành một nớc công nghiệp, u tiên phát triển lực lợng
sản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định hớng xã
hội chủ nghĩa, phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn lực bên
ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, có hiệu

cho việc xây dựng giai cấp công nhân và tạo điều kiện cho việc củng cố, tăng c-
ờng khối liên minh công- nông- trí thức.
Chính quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá sẽ làm thay đổi t duy, trí tuệ,
t chất, nhân cách con ngời, kích thích tính năng động, sáng tạo và tạo cho con ng-
ời khả năng thích ứng với những thay đổi của xã hội.
1.1.2 Những nội dung cơ bản của công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam
Trong quá trình đổi mới, Đảng ta xác định công nghiệp hoá, hiện đại hoá
nông nghiệp, nông thôn là một trong những nội dung cơ bản của công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nớc. Vào những năm đầu của thời kỳ đổi mới, để đa đất nớc
thoát khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội, Đại hội VI của Đảng chủ trơng: phải thật
sự tập trung sức ngời, sức của vào việc thực hiện cho đợc ba chơng trình mục tiêu
về lơng thực- thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu[6,47] và nhấn mạnh
các chơng trình mục tiêu trên là cụ thể hoá nội dung chính của công nghiệp hoá
xã hội chủ nghĩa trong chặng đờng đầu tiên đã đợc Đại hội lần thứ V của Đảng
xác định[6,48]. Khi đất nớc đã khắc phục đợc một bớc rất quan trọng tình trạng
khủng hoảng kinh tế-xã hội và đang tạo ra những tiền đề đa đất nớc chuyển dần
sang một thời kỳ phát triển mới, thời kỳ đẩy tới một bớc công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nớc, Đảng ta lại chủ trơng phải rất quan tâm đến công nghiệp hoá,
hiện đại hoá nông nghiệp và kinh tế nông thôn. Trong thời kỳ mới của cách mạng,
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc, Đảng ta khẳng định phải
Đặc biệt coi trọng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông
thôn[8,86]. Từ sau Đại hội IX, mục tiêu tổng quát và lâu dài của công nghiệp
hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn là:
Xây dựng một nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá lớn, hiệu quả và bền
vững, có năng suất, chất lợng và sức cạnh tranh cao trên cơ sở ứng dụng
các thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến, đáp ứng nhu cầu trong nớc và
xuất khẩu, xây dựng nông thôn ngày càng giàu đẹp, dân chủ, công bằng,
văn minh,có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất phù hợp, kết cấu hạ
tầng kinh tế- xã hội ngày càng phát triển hiện đại[10,44-45]
Những nội dung cụ thể:

nghiệp, dịch vụ, du lịch, tăng cờng xây dựng kết cấu hạ tầng.
Hai là: Phát triển công nghiệp theo hớng u tiên, phát triển các ngành chế
biến lơng thực, thực phẩm, sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu, công nghiệp
điện tử và công nghệ thông tin. Xây dựng có chọn lọc một số cơ sở công nghiệp
nặng trong những ngành trọng yếu mà nhu cầu đòi hỏi bức bách và có điều kiện
về vốn, công nghệ thị trờng để phát huy tác dụng nhanh và có hiệu quả ( năng l-
ợng, nhiên liệu, vật liệu xây dựng, cơ khí chế tạo, đóng và sửa chữa tàu thuỷ,
luyện kim hoá chất).
Ba là: Cải tạo, mở rộng, nâng cấp và xây dựng mới có trọng điểm kết cấu
hạ tầng vật chất ở những khâu đang cản trở sự phát triển. Trong đó, cải tạo, mở
rộng, nâng cấp là chính, việc xây dựng mới chỉ có mức độ và phải tập trung vào
những khâu ách tắc nhất. Có nh vậy mới tạo điều kiện cho việc mở rộng đầu t
phát triển, nhất là việc thu hút vốn đầu t từ bên ngoài.

Bốn là: Phát triển nhanh du lịch, các dịch vụ hàng không hàng hải, bu
chính viễn thông, tài chính ngân hàng, kiểm toán, bảo hiểm, công nghệ, pháp lý,
thông tin và các dịch vụ phục vụ cuộc sống của nhân dân. Khôi phục, phát triển
từng bớc hiện đại hoá các ngành nghề tiểu, thủ công truyền thống có thị trờng
tiêu thụ rộng lớn trong và ngoài nớc. Từng bớc đa nớc ta trở thành một trung tâm
du lịch, thơng mại, dịch vụ có tầm cỡ trong khu vực.
Năm là: Phát triển hợp lý các vùng lãnh thổ
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng, lãnh thổ trên cơ sở khai thác triệt để các
lợi thế, tiềm năng của từng vùng, liên kết hỗ trợ nhau, làm cho tất cả các vùng
đều phát triển. Trong những năm trớc mắt phải tập trung thích đáng nguồn lực
cho các lĩnh vực, các địa bàn trọng điểm có điều kiện sớm đa lại hiệu quả cao,
đồng thời phải hỗ trợ những nơi khó khăn, đẩy mạnh hợp tác phát triển, bảo đảm
cho các vùng, các lãnh thổ và các thành phần dân c đều có lợi ích và đều đợc h-
ởng thành quả của sự phát triển các thành phần kinh tế. Kết hợp phát triển và
quản lý theo vùng theo lãnh thổ.
Sáu là: Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại

đất nớc.
Diện tích đất tự nhiên: 1.542,24km
2
, chiếm 0,5% diện tích đất đai cả nớc. Từ
Tây sang Đông dài 54km, từ Bắc xuống Nam dài 49km.[2,14]
Dân số trung bình năm 2005 của Tỉnh dự kiến 1849 nghìn ngời tăng 0,35%
so với năm 2004, trong đó nữ chiếm 52% dân số, dân số khu vực thành thị chiếm
7,4%, nông thôn 92,6%.
Tỷ suất sinh thô năm 2005 dới 1,5%. Số ngời chuyển ra khỏi Tỉnh khoảng
20 nghìn ngời, trong đó xuất khẩu lao động khoảng 2000 ngời
Dự kiến 13000 ngời đợc giải quyết việc làm trong sáu tháng đầu năm 2005
Dự kiến năm 2005 tỷ lệ hộ nghèo giảm 0,4% so với năm 2004[39,5]
Nói đến Thái Bình là nói đến điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội rất đặc tr-
ng:
Thái Bình là một Tỉnh nông nghiệp, vùng đất giàu truyền thống cách
mạng, trong các thời kỳ lịch sử của cách mạng nớc ta. Đảng bộ và nhân dân Thái
Bình đã có nhiều đóng góp to lớn vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và
xây dựng đất nớc. Nông dân Thái Bình không những có truyền thống cách mạng
kiên cờng mà còn có truyền thống thâm canh lúa từ lâu đời. Trong kháng chiến,
Thái Bình đã có nhiều phong trào dẫn đầu cả nớc nh: cánh đồng 5 tấn/ha thóc
thừa cân, quân vợt mức là Tỉnh đầu tiên của miền Bắc xã hội chủ nghĩa đạt 5
tấn thóc/ha vào năm 1966, ghi dấu ấn về trình độ thâm canh của nông dân Thái
Bình và luôn giữ đợc truyền thống dẫn đầu cả nớc về năng suất lúa 8,9 tấn, 10 tấn
và đến nay là 12,7 tấn/ha [53,13]
Trong thời kỳ đổi mới, cùng với cả nớc, những năm qua Thái Bình tiếp tục
phát huy truyền thống, tập trung đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại
hoá nông nghiệp, nông thôn, đa nền kinh tế của Tỉnh phát triển toàn diện trên các
lĩnh vực và đã đạt đợc những thành tựu khá quan trọng.
Thực hiện đờng lối đổi mới đo Đảng ta khởi xớng và lãnh đạo, từ năm
1986 đến nay, đặc biệt là những năm gần đây, kinh tế Thái Bình đã có những bớc

năm 1994), tăng 21,9% so với năm 2000, giá trị sản xuất 1ha canh tác đạt 38 triệu
đồng ( mục tiêu Đại hội Đảng bộ Tỉnh lần thứ XVI đề ra là 35 triệu đồng)[13,2]
Việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi đợc đẩy mạnh, đã hình thành
một số vùng và nhiều mô hình sản xuất đạt hiệu quả kinh tế cao, chuyển giao ứng
dụng, tiến bộ khoa học- kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp đợc coi trọng, nhất là
về giống cây trồng, vật nuôi và phơng thức canh tác. Kinh tế gia trại, trang trại có
bớc phát triển, toàn Tỉnh có 543 trang trại và 8000 gia trại[13,2]
Cơ cấu giống lúa chuyển đổi tăng diện tích lúa ngắn ngày, lúa chất lợng
cao. Năm 2005, năng suất lúa đạt 117,28 tạ/ha, mặc dù diện tích cấy lúa giảm
2500ha nhng sản lợng lơng thực vẫn đạt trên một triệu tấn. Diện tích cây vụ đông
năm 2003 và 2004 đạt 32 nghìn ha/năm chiếm 36% diện tích canh tác với 3 cây
chủ lực là ngô, khoai tây, đậu tơng và một số cây rau quả xuất khẩu. Toàn Tỉnh
chuyển gần 6000 ha cấy lúa, làm muối kém hiệu quả sang nuôi trồng các cây, con
có hiệu quả kinh tế cao hơn. Việc xây dựng cánh đồng 50 triệu đợc triển khai ở
nhiều cơ sở, có 251 xã, phờng, thị trấn đã xây dựng đợc 1.138 cánh đồng đạt giá
trị sản xuất 50 triệu đồng trở lên/ha với diện tích 11.268ha (chiếm 12,3% tổng

diện tích đất canh tác), trong đó có 2 xã đạt 50 triệu đồng/ha trên toàn bộ diện
tích đất canh tác ( Quỳnh Hải- Quỳnh Phụ, Thuỵ An- Thái Thuỵ)[13,2]
Chăn nuôi chuyển dần từ quy mô nhỏ lẻ bằng thức ăn tận dụng sang nuôi
tập trung theo phơng pháp công nghệ, mô hình gia trại, trang trại gắn với thị trờng
tiêu thụ sản phẩm. Giá trị sản xuất ngành chăn nuôi tăng bình quân 10,2%/ năm.
Năm 2005 đạt 1.220 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 32% trong cơ cấu nông nghiệp (năm
2000 là 21,3%)[13,2]
Nuôi trồng thuỷ, hải sản đợc mở rộng, từng bớc chuyển từ nuôi quảng
canh là chính sang bán thâm canh. Một số vùng nuôi trồng thuỷ, hải sản đợc quy
hoạch, đầu t, xây dựng kết cấu hạ tầng. Giá trị sản xuất thuỷ sản tăng bình quân
10,9%/ năm. Năm 2005, sản lợng thuỷ, hải sản đạt 60,7 nghìn tấn, tăng 10,7
nghìn tấn so với mục tiêu Đại hội Đảng bộ Tỉnh lần thứ XVI đề ra.
Rừng phòng hộ ven biển đợc quan tâm đầu t, tăng cờng công tác quản lý.

Dịch vụ vận tải tăng nhanh về phơng tiện và doanh số, bu chính viễn thông
có bớc phát triển, năm 2005 đạt 4,5 máy điện thoại/ 100 dân, tất cả các xã đều có
điểm bu điện, văn hoá hoặc điểm bu điện [13,6]
Công tác quản lý tài chính có bớc chuyển biến tích cực, tổng thu 5 năm đạt
3.338 tỷ đồng tăng 30,5%/năm. Chi ngân sách địa phơng 5 năm đạt 6.881 tỷ đồng
tăng 18,8%/năm, trong đó chi đầu t phát triển 2.352 tỷ đồng chiếm 34,2%[13,4]
Về đầu t phát triển: Tổng vốn đầu t cho phát triển toàn xã hội 5 năm đạt
11.416 tỷ đồng, vợt 906 tỷ đồng so với mục tiêu Đaị hội Đảng bộ Tỉnh lần thứ
XVI, gấp 2,61 lần giai đoạn 1996-2000[13,4]
Đã hoàn thành xây dựng hệ thống điện, đờng, trờng, trạm, chỉnh trang đô
thị đa thị xã Thái Bình lên đô thị loại 3 và trở thành thành phố.
Việc sắp xếp, đổi mới, chuyển đổi hình thức sở hữu các doanh nghiệp nhà
nớc cơ bản hoàn thành. Các hợp tác xã cơ bản đợc chuyển đổi theo luật hợp tác
xã. Một số hợp tác xã đầu t đổi mới công nghệ, thiết bị, tạo sản phẩm mới, một số
hợp tác xã vơn lên tổ chức tiêu thụ nông sản cho nông dân. Doanh nghiệp thuộc
khu vực kinh tế t nhân phát triển nhanh, mở rộng, hình thức hoạt động đa dạng.
Đến nay, toàn Tỉnh có 1.143 doanh nghiệp gấp 3 lần so với năm 2000, có 16 DN
có vốn đầu t nớc ngoài [13,5]
Quy mô giáo dục tiếp tục đợc mở rộng, các loại hình trờng lớp phát triển
đa dạng ở các cấp học, ngành học. Hoạt động khoa học, công nghệ tập trung phục
vụ các chơng trình phát triển kinh tế - xã hội trọng điểm của Tỉnh. Nhiều tiến bộ
khoa học kỹ thuật và công nghệ mới đợc ứng dụng có hiệu quả.
Công tác chăm sóc sức khoẻ của nhân dân đợc nâng lên cao hơn mức bình
quân chung cả nớc, đến nay toàn tỉnh có 120 xã đạt chuẩn quốc gia về y tế xã.
Sự nghiệp văn hoá, thông tin, báo chí, phát thanh truyền hình, văn học,
nghệ thuật có nhiều tiến bộ, đến nay toàn Tỉnh có 56,5% gia đình đạt chuẩn văn
hoá, gần 30% thôn, làng đạt chuẩn văn hoá [13,6]
Chơng trình việc làm và đào tạo nghề cho ngời lao động đợc quan tâm
thực hiện, mỗi năm giải quyết trên 22,4 nghìn lao động, vợt 12% so với mục tiêu
Đại hội Đảng bộ Tỉnh lần thứ XVI, xuất khẩu 2,5 nghìn lao động, dạy nghề cho

phẩm, thực hiện và thu hút thêm nguồn vốn đầu t nớc ngoài trong tơng lai.
Những nét cơ bản về công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Thái Bình nêu trên
đã chi phối, tác động rất lớn đến sự phát triển của đội ngũ công nhân Thái Bình
trong những năm vừa qua.
1.2.2 Những yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Thái Bình
Xuất phát từ một Tỉnh nông nghiệp, do vậy yêu cầu công nghiệp hoá, hiện
đại hoá của Thái Bình trong những năm tới đây nh sau:
Thứ nhất: Thái Bình phải tập trung thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại
hoá nông nghiệp nông thôn nhằm đa nông thôn Thái Bình ngày càng phát triển.
Muốn thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, tr-
ớc tiên Tỉnh cần tập trung phát triển cơ sở hạ tầng bao gồm: Tiếp tục mở rộng đ-
ờng giao thông nông thôn nhằm có điều kiện thu hút vốn đầu t trong và ngoài n-
ớc, xây dựng những công trình thuỷ lợi đảm bảo tới tiêu chủ động, có nh vậy mới
có điều kiện nâng cao hiệu quả sản xuất, mới thực hiện đợc chuyển đổi cây trồng
vật nuôi, thực hiện thâm canh tăng vụ. Tăng cờng đầu t xây dựng cơ sở hạ tầng
cho các dịch vụ nh : tín dụng ngân hàng, bu chính viễn thông, hệ thống điện phục
vụ sản xuất và dân sinh.
Thực hiện chuyển đổi cây trồng vật nuôi, chuyển từ cây con có năng suất
thấp sang các loại cây có năng suất cao. Thái Bình phải tập trung khai thác hơn

nữa kinh tế biển và kinh tế ven biển, đẩy mạnh việc nuôi trồng thuỷ sản, đẩy
mạnh thâm canh để giải quyết việc làm cho lao động tại chỗ.
Thực hiện xây dựng những khu sản xuất chuyên canh nhằm từng bớc tạo
ra những điều kiện cho việc xây dựng công nghiệp chế biến nông, hải sản nhằm
nâng cao giá trị của các mặt hàng nông hải sản. Muốn xây dựng những khu vực
sản xuất chuyên canh, bà con nông dân phải thực hiện việc dồn điền, đổi thửa
mỗi gia đình sản xuất trên một khoảng đất nhất định, phải nhanh chóng khắc
phục tình trạng phân tán hiện nay. Tỉnh cần có những nghiên cứu khoa học để xây
dựng những khu chuyên canh các loại sản phẩm sao cho có hiệu quả cao nhất.
Quy hoạch các khu chuyên canh phải gắn với công nghiệp chế biến. Có nh vậy


Thời đại ngày nay là thời đại khoa học công nghệ, khoa học công nghệ đã
đi vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Do vậy, muốn phát triển ngành nghề
truyền thống của Thái Bình cần nhanh chóng đa khoa học tiên tiến nhằm nâng
cao chất lợng sản phẩm và hiệu quả sản suất của các mặt hàng thủ công mỹ nghệ.
Thông thờng trớc đây, các làng nghề truyền thống thờng gắn liền với
những khu dân c sinh sống, thờng đợc tiến hành trong từng gia đình. Điều đó gây
ra những hậu quả ô nhiễm môi trờng không khí, môi trờng nớc, đồng thời với việc
sản xuất không thận trọng, dễ gây ra tình trạng cháy nổ Để thích ứng với thời
kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Thái Bình cần xây dựng những khu
vực tập trung, thực hiện tách khu vực sản xuất với khu dân c. Có nh vậy mới có
điều kiện đa khoa học công nghệ mới vào sản xuất và từng bớc hình thành tác
phong công nghiệp, nâng cao ý thức tổ chức kỷ luật, nâng cao trình độ tay nghề
cho công nhân.
Thứ t: Trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá chuyển dịch cơ cấu
lao động, phân công lao động dẫn tới phân hoá giàu nghèo. Tỉnh cần có những
chính sách xã hội cụ thể không chỉ đối với khu vực hành chính sự nghiệp, khu
vực doanh nghiệp mà còn phải đợc áp dụng ở khu vực nông thôn, cho nông dân.
Thứ năm: Công nghiệp hoá đòi hỏi phải kết hợp nghiên cứu khoa học, đào
tạo nguồn nhân lực để phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Cần
có những chuyên gia giỏi, những công nhân lành nghề trong mọi ngành, mọi
thành phần kinh tế.
1.3 Xây dựng đội ngũ công nhân Thái Bình
1.3.1 Quá trình xây dựng đội ngũ công nhân Thái Bình
Năm 1890, theo Quyết định của toàn quyền Đông Dơng, Tỉnh Thái Bình
thuộc trấn Sơn Nam Hạ đợc thành lập. Thái Bình là một Tỉnh đồng bằng không có
nguồn tài nguyên phong phú lại tơng đối xa các trung tâm công nghiệp, trung tâm
chính trị của đất nớc, cho nên các ngành công nghiệp ở Thái Bình trớc ngày miền
Bắc đợc giải phóng gần nh không phát triển.
Năm 1930, thực dân Pháp đã xây dựng ở thị xã Thái Bình một trạm biến

Thái Bình chỉ có một số nhà máy sản xuất nhỏ, lẻ nh chế biến nông sản và một số
lĩnh vực khác chủ yếu là phục vụ đời sống cho nhân dân.
Công nhân Thái Bình trong những năm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền
Bắc và sau này là thời kỳ vừa xây dựng, vừa chiến đấu, cũng chủ yếu nhằm phục
vụ quốc kế dân sinh, phục vụ cho nông nghiệp phát triển nh công nhân xây dựng,
công nhân trong ngành điện, ngành cấp thoát nớc, ngành xăng dầu, cầu đờng, bu
chính viễn thông, thuỷ lợi Nếu so với các trung tâm công nghiệp thì công nhân
Thái Bình chiếm một tỷ lệ nhỏ trong dân c, thiếu một đội ngũ công nhân lao động
trong những lĩnh vực công nghiệp có trình độ cao.
Trong những năm 80 đầu những năm 90, trong quá trình chuyển đổi nền
kinh tế từ cơ chế hành chính quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trờng, cùng với sự
đổ vỡ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nớc Đông Âu, nhiều mặt hàng
truyền thống của Thái Bình mất thị trờng hoặc thị trờng bị thu hẹp, do vậy công
nhân gặp rất nhiều khó khăn, nhiều công nhân phải nghỉ việc.
1.3.2 Một số đặc điểm đội ngũ công nhân của tỉnh Thái Bình.
Công nhân ở Thái Bình là một bộ phận của giai cấp công nhân Việt Nam,
cho nên có đầy đủ các đặc điểm của giai cấp công nhân Việt Nam. Tuy nhiên do
ra đời và phát triển trong một Tỉnh nông nghiệp, nên công nhân của Tỉnh Thái
Bình có những đặc điểm sau:
Thứ nhất: Số lợng công nhân ít, chủ yếu làm việc ở khu vực ngoài kinh tế
Nhà nớc, trong công nghiệp chế biến.

Tới nay Thái Bình vẫn là tỉnh nông nghiệp, nông dân chiếm 69%, cao hơn
so với cả nớc (57,9%). Năm 2005 tổng sản phẩm GDP của Tỉnh đạt 6.455 tỉ đồng
(tính theo giá 1994), trong đó giá trị công nghiệp và xây dựng ớc tính 3.258 tỉ
đồng, thành phần kinh tế Nhà nớc đóng góp 612 tỉ [51,10], còn lại là đóng góp
của kinh tế ngoài khu vực kinh tế Nhà nớc. Nh vậy có thể nói lực lợng công nhân
ở Thái Bình làm trong khu vực kinh tế Nhà nớc còn rất nhỏ bé so với tỉ lệ dân c
nói chung, so với đội ngũ công nhân ở Thái Bình nói riêng. Ví dụ nh tính tới năm
2004 số đoàn viên Công đoàn thuộc các doanh nghiệp Nhà nớc trong toàn tỉnh có

Theo thống kê của Liên đoàn Lao động Tỉnh Thái Bình năm 2003, lơng
của công nhân trong các doanh nghiệp có việc làm thờng xuyên từ 600.000 đến

700.000 đ/ngời/tháng, 64% số doanh nghiệp lơng bình quân của công nhân từ
350-400.000 đ/ngời/tháng. Số còn lại không ít doanh nghiệp dới 300.000đ /ng-
ời/tháng.
Với mức thu nhập trên công nhân lại phải tự thuê nhà, sống ở các thành
phố, trung tâm công nghiệp quả là một khó khăn rất lớn đối với họ. Vì vậy có thể
nói công nhân Thái Bình sẽ rất khó khăn trong học tập nâng cao trình độ mọi mặt.
Thứ năm: Công nhân Thái Bình thờng sống phân tán trong các vùng nông
thôn.
Lực lơng công nhân ở Thái Bình làm trong các nhà máy lớn, những khu
công nghiệp tập trung ở thành phố là rất ít, đa số lao động ở các xí nghiệp vừa và
nhỏ ở các vùng nông thôn thuộc các huyện trong Tỉnh, một số lợng rất lớn những
ngời lao động làm những ngành nghề thủ công trong 173 làng nghề truyền thống.
Do vậy tuyệt đại bộ phận công nhân sống ở các vùng nông thôn. Điều đó tạo điều
kiện trong việc xây dựng khối liên minh công nông. Song do sống trong điều kiện
gia đình ở nông thôn, vì vậy công nhân Thái Bình còn mang rất nặng ý thức tác
phong của ngời sản xuất nhỏ, hạn chế việc phát triển tác phong công nghiệp, có ý
thức tổ chức kỷ luật cha cao, thiếu nhạy bén với cơ chế thị trờng.
Thứ sáu: Công nhân Thái Bình cha thật gắn bó với nghề nghiệp, hoạt động
của tổ chức Đảng và các đoàn thể khác gặp khó khăn.
Hiện nay mức thu nhập của công nhân ở Thái Bình còn thấp so với nhiều
tỉnh thành khác, hơn nữa tình trạng thiếu việc làm của một số doanh nghiệp sản
xuất có trình độ công nghệ thấp đã làm cho một bộ phận công nhân trong Tỉnh
cha thật sự thiết tha với nghề nghiệp. Có một bộ phận công nhân, khi nào lao
động công nghiệp có thu nhập cao hơn trong lĩnh vực nông nghiệp thì họ lao
động công nghiệp, ngợc lại họ lại trở về lao động nông nghiệp. Chính điều đó đã
làm cho một bộ phận công nhân không thật sự tâm huyết sống chết với nghề
nghiệp.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status