i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng
của tôi. Số liệu và kết quả nghiên cứu là trung thực và chưa từng được sử
dụng trong bất cứ một học vị nào.Tài liệu tham khảo và số liệu thống kê trích
dẫn có nguồn gốc rõ ràng.
Tôi xin cam đoan và chịu trách nhiệm về lới cam đoan của mình trước
các qui định của nhà trường và pháp luật
Tác giả luận văn
Nguyễn Đức Tiến
ii
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ
rất nhiệt tình và có hiệu quả các thầy cô giáo, các cấp, các ngành, gia đình,
đồng nghiệp để hoàn thành luận văn Thạc sĩ của mình.
Qua đây cho tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban giám hiệu,
Khoa đào tạo sau đại học - Trường Đại học Lâm nghiệp cùng với các thầy cô
giáo đã nhiệt tình truyền đạt những kiến thức quí báu trong suốt quá trình học
tập và hoàn thành luận văn Thạc sĩ.
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Tiến sĩ Phạm Xuân Phương, người đã nhiệt
tình hướng dẫn trực tiếp, giúp đỡ tôi trong việc hoàn thành Luận văn này.
Nhân dịp này cho phép tôi được gửi lời cảm ơn đến Ủy ban nhân dân
huyện Quảng Xương, các phòng ban chuyên môn của huyện, Chi cục thống
kê huyện huyện, đã tạo điều kiện giúp đỡ trong quá trình nghiên cứu, tổng
hợp, hỗ trợ cung cấp số liệu để hoàn thành Luận văn.
Mặc dù bản thân đã rất cố gắng nhưng luận văn không tránh khỏi
hộ sản xuất hàng hóa trong xây dựng nông thôn mới ..................................... 14
1.1.5. Những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế hộ nông dân sản xuất
hàng hóa trong xây dựng nông thôn mới ........................................................ 18
1.2. Cơ sở thực tiễn phát triển kinh tế hộ nông dân trên thế giới và ở Việt Nam .... 23
1.2.1. Kinh nghiệm trong và ngoài nước ............................................................. 23
1.2.2. Những bài học rút ra kinh tế hộ nông dân sản xuất hàng hóa ở Việt Nam ... 27
1.3. Tổng quan các vấn đề nghiên cứu liên quan đề đề tài ............................. 32
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU ................................................................................................ 34
iv
2.1. Đặc điểm cơ bản của địa bàn nghiên cứu ................................................ 34
2.1.1. Điều kiện tự nhiên ................................................................................. 34
2.1.2. Điều kiện kinh tế ................................................................................... 41
2.1.3. Dân số và lao động ................................................................................ 48
2.1.4. Tình hình phát triển ngành Nông nghiệp và thủy sản ........................... 49
2.1.5. Những thuận lợi và khó khăn về điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội tác
động đến kinh tế hộ nông dân sản xuất hàng hóa ........................................... 51
2.2. Phương pháp nghiên cứu .......................................................................... 52
2.2.1. Những vấn đề đặt ra trong nghiên cứu .................................................. 52
2.2.2. Chọn điểm nghiên cứu, khảo sát ........................................................... 53
2.2.3. Phương pháp thu thập số liệu ................................................................ 54
2.2.4. Phương pháp phân tích xử lý, tổng hợp số liệu .................................... 54
2.3. Hệ thống chỉ tiêu sử dụng trong nghiên cứu ............................................ 54
2.3.1. Chỉ tiêu phản ánh về chủ hộ nông dân .................................................. 54
2.3.2. Chỉ tiêu phản ánh điều kiện sản xuất kinh doanh của hộ ...................... 55
2.3.3. Chỉ tiêu phản ánh trình độ và kết quả sản xuất hàng hoá của hộ nông
dân ................................................................................................................... 55
vi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
Nguyên nghĩa
BQ
Bình quân
BQNK
Bình quân nhân khẩu
BQLĐ
Bình quân lao động
CTBQ
Chỉ tiêu bình quân
CPSX
Chi phí sản xuất
CC
LĐNN
Lao động nông nghiệp
NLN
Nông lâm nghiệp
NN
Nông nghiệp
NTTS
Nuôi trồng thủy sản
NTHS
Nuôi trồng hải sản
SXHH
Sản xuất hàng hóa
TB
Trung bình
THCS
DVTM
Dịch vụ thương mại
vii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Tên bảng
STT
2.1
2.2
2.3
2.4
2.5
Hiện trạng sử dụng đất đai huyện Quảng Xương phân theo
mục đích sử dụng năm 2012
Tổng giá trị sản xuất của các ngành kinh tế huyện Quảng
Xương năm 2010 – 2012
Cơ cấu giá trị sản xuất của huyện Quảng Xương giai đoạn
2010-2012
Tình hình dân số và lao động qua 3 năm 2010- 2012
Tình hình phát triển kinh tế ngành nông nghiệp thủy sản của
huyện năm 2010 – 2012
qua 3 năm 2010 – 2012
62
3.4
Số đầu gia súc, gia cầm của huyện qua các năm 2010 – 2012
64
3.5
Sản lượng THS của huyện qua các năm 2010 – 2012
64
3.6
3.7
Tỷ trọng số lượng hộ nông dân sản xuất hàng hóa theo vùng
trên địa bàn huyện Quảng Xương
Tình hình lao động và trình độ lao động trong các nhóm hộ
điều tra
66
68
3.8
3.17
3.18
Vốn bình quân của nông hộ điều tra năm 2013 theo vùng
nghiên cứu
TLSX chủ yếu bình quân của hộ nông dân năm 2013 theo
quy mô sản xuất hàng hoá
Kết quả sản xuất nông nghiệp, thủy sản ở hộ điều tra năm
2013
Giá trị hàng hóa và tỷ lệ hàng hóa các ngành của hộ điều tra
Tỷ lệ hàng hóa của một số sản phẩm của hộ sản xuất hàng
hóa điều tra năm 2013
Quy mô và cơ cấu CPSX nông nghiệp – thủy sản của 1 hộ
nông dân SXHH năm 2013
Tổng thu nhập bình quân từ Nông nghiệp, thủy sản của 1 hộ
sản xuất hàng hóa
Phương thức tiêu thụ một số sản phẩm hàng hóa của hộ
nông dân vùng nghiên cứu năm 2013
74
76
78
80
81
83
ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tính cấp thiết của đề tài
Theo định hướng phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước, kinh tế hộ
nông dân và nền kinh tế nhiều thành phần tồn tại lâu dài trong quá trình Công
nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Sau hơn 20 năm thực hiện
chính sách đổi mới, kinh tế nước ta đã đạt được những thành tựu đáng kể.
Năm 2011, nước ta có khoảng 22 triệu hộ gia đình, trong đó có 15,5 triệu hộ
sống ở nông dân và có 9,56 triệu hộ nông lâm ngư nghiệp. Trong công cuộc
đổi mới, Đảng và Nhà nước đã đề ra những chủ trương và quyết sách nhằm
giải phóng hộ nông dân khỏi sự trói buộc của cơ chế cũ, để họ làm chủ quá
trình sản xuất kinh doanh của mình, trực tiếp đối mặt với cơ chế thị trường...
Điều này đã trở thành động lực để khơi dậy những tiềm năng trong mỗi hộ
nông dân, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế nông nghiệp làm cho bộ
mặt nông thôn trong những năm đổi mới có nhiều khởi sắc.
Trong những năm gần đây, kinh tế hộ gia đình đã phát triển mạnh và có
bước đột phá mới với những mô hình, hình thức đa dạng, phù hợp với điều
kiện phát triển của địa phương đã đem lại lợi nhuận đáng kể, cải thiện rõ rệt
đời sống người dân. Thông qua việc phát triển kinh tế hộ gia đình không chỉ
giải quyết được công ăn việc làm tại chỗ cho người dân, đem lại lợi ích cả về
gia đình, môi trường và trật tự an toàn xã hội, mà còn làm cho đời sống người
dân được nâng lên đáng kể, việc xoá đói giảm nghèo và vươn lên làm giàu
chính đáng là vấn đề được toàn xã hội quan tâm hiện nay.
Là một huyện đồng bằng ven biển có diện tích đất tự nhiên 227,63
km2, Quảng Xương đã từ lâu được coi là trọng điểm lúa của tỉnh. Với chiều
dài bờ biển gần 18km, Quảng Xương là một trong những huyện có tiềm năng
về thuỷ, hải sản, Kinh tế của huyện vào diện khá của tỉnh, GDP liên tục tăng
2
3
- Đánh giá đúng thực trạng phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng
sản xuất hàng hoá ở huyện Quảng Xương
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế hộ nông dân
theo hướng sản xuất hàng hoá trong quá trình xây dựng nông thôn mới ở
huyện Quảng Xương trong những năm tới .
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Là những vấn đề có tính lý luận và thực tiễn về kinh tế hộ, sự phát triển
kinh tế hộ nông dân trong những năm qua, phương hướng và giải pháp chủ
yếu để đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản
xuất hàng hoá ở huyện Quảng Xương - tỉnh Thanh Hóa
3.2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
a) Phạm vi về không gian
Đề tài nghiên cứu ở các xã huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa gồm
có 02 vùng; Vùng 1 là vùng đồng bằng, vùng 2 là vùng ven biển.
b) Phạm vi về thời gian
Các tài liệu được thu thập trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2012
và số liệu điều tra hiện trạng của năm 2013.
c) Nội dung nghiên cứu
- Cơ sở lý luâ ̣n và thực tiễn về phát triển kinh tế hộ nông dân theo
hướng sản xuất hàng hóa trong quá trình xây dựng nông thôn mới, như: hệ
thống hóa một số khái niệm về hộ, hộ nông dân, kinh tế hộ nông dân. Vấn đề
sản xuất hàng hoá và vai trò của nó trong nông nghiệp. Phát triển kinh tế hộ
nông dân sản xuất hàng hoá và vai trò của kinh tế hộ sản xuất hàng hóa thời
kỳ xây dựng nông thôn mới…
- Khái quát chung về kinh tế hộ nông dân huyện Quảng Xương từ năm
2010 đến nay; tình hình phát triển sản xuất hàng hóa của hộ nông dân huyện
nhà chỉ đạo thực tiễn đã thảo luận về hộ, đặc biệt là cuộc hội thảo tại Hà Lan
năm 1980 các đại biểu nhất trí rằng “hộ là một đơn vị cơ bản của xã hội có
liên quan đến sản xuất, tái sản xuất đến tiêu dùng và các hoạt động khác xem
như là một đơn vị kinh tế [15].
Nhìn từ góc độ khác Harris (1981) ở Viện nghiên cứu phát triển trường
Đại học Tổng hợp Susex (London - Anh) cho rằng: "Hộ là đơn vị tự nhiên tạo
nguồn lao động". Và trên góc độ này, nhóm các đại biểu thuộc trường phái
‘Hệ thống thế giới” (Mỹ) là Wallerstan (1982), Wood (1981 - 1982), Smith
(1985), Martin và Bellhel (1987) bổ sung thêm: "Hộ là một đơn vị đảm bảo
quá trình tái sản xuất nguồn lao động thông qua việc tổ chức nguồn thu nhập
chung”. Còn nhóm các nhà nhân chủng học (Waller (Áo) 1982, Wood (Mỹ)
1982) lại cho rằng: "Hộ là một đơn vị đảm bảo quá trình tái sản xuất lao động
tiếp theo trong quá trình tổ chức nguồn thu nhập nhằm chi tiêu cho cá nhân và
đầu tư cho sản xuất".
6
Giáo sư T.G Me Gee (1989) Giám đốc Viện nghiên cứu châu Á thuộc
Đại học tổng hợp Britiali Columbia và các đồng nghiệp, khi khảo sát quá trình
phát triển ở một số nước châu Á đã nêu lên rằng: “hộ là một nhóm người cùng
chung huyết tộc hay không cùng chung huyết tộc trong cùng chung trong môt
mái nhà, ăn chung một mâm cơm và có chung một ngân quỹ” và đã lưu ý
thêm rằng: các thành viên của hộ không nhất thiết phải sống cùng nhà, họ có
thể sống khá xa gia đình, nhưng đóng góp vào phần thu nhập của hộ thì họ
được coi là một thành viên của hộ. Tuy nhiên đây chỉ là ý kiến thiên về khía
cạnh nguồn thu nhập của hộ.
Về phương diện thống kê, Liên hợp quốc cho rằng: "Hộ là những người
cùng sống chung dưới một mái nhà, cùng ăn chung, cùng làm chung và có
chung một ngôn ngữ" [10]
Như vậy, hộ là 1 tập hợp những người có chung huyết thống, có quan
hệ mật thiết với nhau trong quá trình tạo ra vật phẩm để bảo tồn chính bản
thân họ và cộng đồng.
1.1.1.2. Khái niệm về hộ nông dân
Về hộ nông dân, tác giả Frank Ellis định nghĩa "Hộ nông dân là
các hộ gia đình làm nông nghiệp, tự kiếm kế sinh nhai trên những mảnh
đất của mình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất,
thường nằm trong hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu đặc trưng bởi
sự tham gia cục bộ vào các thị trường và có xu hướng hoạt động với mức
độ không hoàn hảo cao" [25].
Nhà khoa học Traianốp cho rằng "Hộ nông dân là đơn vị sản xuất rất
ổn định" và ông coi "hộ nông dân là đơn vị tuyệt vời để tăng trưởng và phát
triển nông nghiệp" [18, 8,10,11,15].
Luận điểm trên của ông đã được áp dụng rộng rãi trong chính sách
nông nghiệp tại nhiều nước trên thế giới, kể cả các nước phát triển.
Đồng tình với quan điểm trên của Traianốp, hai tác giả Mats
Lundahl và Tommy Bengtsson bổ sung và nhấn mạnh thêm "Hộ nông
dân là đơn vị sản xuất cơ bản" [18, tr.5].
8
Ở nước ta, có nhiều tác giả đề cập đến khái niệm hộ nông dân. Theo
nhà khoa học Lê Đình Thắng (năm 1993) cho rằng: "Nông hộ là tế bào kinh tế
xã hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn" [25, 5].
Đào Thế Tuấn (1997) cho rằng: “Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động
nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động
phi nông nghiệp ở nông thôn”. Còn theo nhà khoa học Nguyễn Sinh Cúc,
trong phân tích điều tra nông thôn năm 2001 cho rằng: "Hộ nông nghiệp là
những hộ có toàn bộ hoặc 50% số lao động thường xuyên tham gia trực tiếp
bán) chỉ có thể diễn ra từ việc tích tụ vốn ở từng hộ nông dân. Nếu không có
sự tích tụ đó thì những khoản tiền dư thừa do hoạt động kinh tế của hộ nông
dân tạo nên sẽ biến thành của cải tích trữ hoặc bị lãng phí vào những công
việc khác không được sử dụng vào mục đích tái sản xuất để tăng sản phẩm
cho hộ nông dân và xã hội, đó chưa kể đến tiềm năng lao động, kinh nghiệm
sản xuất được coi là những nguồn vốn sẽ bị lãng phí.
- Là đơn vị cơ sở để phân công lao động xã hội.
Với tư cách là đơn vị cơ sở tích tụ vốn, kinh tế hộ nông dân có điều
kiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế làm chuyển dịch lao động và trở thành đơn vị
kinh tế cơ sở thực hiện sự phân công lao động xã hội. Phát huy tối đa lợi thế
so sánh về vị trí địa lý, đất đai, thời tiết khí hậu, trình độ lao động,để sản xuất
chuyên môn hoá một loại nông sản để lao động có tính chuyên môn hoá.
- Là đơn vị kinh tế cơ sở tiếp nhận khoa học kỹ thuật –công nghệ.
Kinh tế hộ nông dân sản xuât nông sản hàng hoá theo cơ chế thị trường
phải chú ý đến vấn đề lợi nhuận là hiệu quả của sản xuất kinh doanh. Điều đó
buộc các hộ nông dân phải tìm mọi biện pháp để tăng năng suất lao động và
hạ giá thành sản phẩm để có khả năng cạnh tranh.
- Là đơn vị kinh tế cơ bản đấp ứng nhu cầu của thị trường và là đơn vị
tiêu dùng xã hội.
Là đơn vị kinh tế tự chủ sản xuất kinh doanh nông sản hàng hoá, các hộ
nông dân sản xuất ra sản phẩm cần phải bán nhưng phải căn cứ vào nhu cầu
của thị trường từ đó lên phương án, kế hoạch sản xuất, bên cạnh đó để đáp
12
ứng sản xuất thì các hộ nông dân cũng phải cần nhu cầu vật tư, công cụ cho
sản xuất. Vô hình chung mỗi hộ nông dân đã trở thành một đơn vị cân đối
cung - cầu thị trường. Hộ nông dân vừa là nơi cung cấp toàn bộ lương thực,
thực phẩm cho toàn xã hội cũng là nơi tiêu thụ các sản phẩm công nghiệp và
cao với những khoảng thời gian trống cho phép tạo ra sự di chuyển nhân công
nông nghiệp theo thời vụ. Mặt khác, lực lượng lao động trong nông nghiệp
nước ta còn chiếm đại bộ phận lao động xã hội, diện tích đất canh tác bình
quân đầu người vào loại thấp; sản xuất chủ yếu là độc canh cây lúa. Vì vậy
khi chuyển sang sản xuất nông sản hàng hoá để tăng thu nhập thì hộ hộ nông
dân phải đổi mới cơ cấu sản xuất của mình hướng tăng nhanh tỷ trọng hàng
hoá phù hợp với nhu cầu thị trường, chuyên canh kết hợp với đa canh để đa
dạng sản phẩm, đa dạng hoá ngành nghề. Hộ nông dân có thể tổ chức hoạt
động sản xuất kinh doanh trong nhiều lĩnh vực kinh tế nông nghiệp, với nhiều
loai hình sản xuất và mọi nguồn lực có được.
1.1.3.3. Kinh tế hộ nông dân có khả năng điều chỉnh theo sự vận động của cơ
chế thị trường, dưới sự quản lý của nhà nước trong xây dựng nông thôn mới.
Trong công nghiệp việc di chuyển tư bản và sức lao động từ lĩnh vực
này sang lĩnh vực khác khó khăn. Ngược lại đối với nông nghiệp nếu việc sản
xuất và tiêu thụ một loại nông sản nào đó gặp khó khăn thì kinh tế hộ nông
dân có thể chuyển nhanh sang loại nông sản khác. Tuy nhiên khả năng điều
chỉnh của kinh tế hộ nông dân còn phụ thuộc vào các yếu tố tự nhiên (cây,
con, thời tiết, khí hậu...) của từng vùng, vào lực lượng lao động, vào tư liệu
sản xuất, vốn và trình độ kỹ thuật của từng hộ nông dân, mặt khác chi phí sản
xuất sản phẩm tỷ lệ nghịch với quy mô sản xuất, trình độ công nghệ và tổ
chức sản xuất còn ở hộ nông dân trình độ công nghệ sản xuất nhỏ bé và lạc
hậu, tổ chức sản xuất không hợp lý, quy mô sản xuất hạn hẹp nên chi phí sản
xuất cao làm cho hiệu quả sản xuất hạn chế cho nên kinh tế hộ nông dân chỉ
mang tính sản xuất hàng hoá nhỏ, để phù hợp với kinh tế thị trường hiện nay
14
thì quá trình vận động từ sản xuất hàng hoá nhỏ sang sản xuất hàng hoá lớn
(kinh tế trang trại) có quy mô sản xuất lớn, trình độ công nghệ hiện đại và tổ
vận dụng trên cả nước. Có thể quan niệm: “Mô hình nông thôn mới là tổng
thể những đặc điểm, cấu trúc tạo thành một kiểu tổ chức nông thôn theo tiêu
chí mới, đáp ứng yêu cầu mới đặt ra cho nông thôn trong điều kiện hiện nay,
là kiểu nông thôn được xây dựng so với mô hình nông thôn cũ (truyền thống,
đã có) ở tính tiên tiến về mọi mặt”.
b. Xu hướng phát triển kinh tế hộ thời kỳ xây dựng nông thôn mới
- Kinh tế hộ nông dân chuyển mạnh từ sản xuất tự cung tự cấp sang
sản xuất hàng hóa.
Trong quá trình điều chỉnh lại quan hệ sản xuất, hộ nông dân được giao
quyền sử dụng ổn định và lâu dài ruộng đất, được mua sắm tư liệu sản xuất,
hộ nông dân thực sự trở thành đơn vị sản xuất tự chủ, nhiều chính sách kinh tế
mới được ban hành đã tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy nông nghiệp và nông
thôn phát triển. Một bộ phận hộ nông dân có vốn, có kiến thức và kinh
nghiệm sản xuất, năng động sớm thích ứng cơ chế thị trường đã tìm mọi biện
pháp để phát triển sản xuất, từ chỗ đưa những sản phẩm nông sản dư thừa ra
trao đổi trên thị trường, các hộ nông dân đã tìm kiếm để lựa chọn những sản
phẩm mà thị trường cần để sản xuất và đáp ứng cho thị trường. Đối với những
hộ nông dân cư trú ở vùng có lợi thế so sánh (vùng cây đặc sản, vùng sản xuất
nguyên liệu). Xu thế phát triển kinh tế hộ nông dân ở các sản phẩm có lợi thế
so sánh đó để tạo ra sản phẩm hàng hóa có chất lượng.
- Xu hướng mở rộng quy mô sản xuất theo mô hình trang trại.
Đối với một số hộ nông dân có trình độ sản xuất khá, chủ hộ có kiến
thức có ý chí làm giàu, họ muốn có diện tích đất đai lớn hơn để tiến hành tổ
chức sản xuất, thành lập các trang trại sản xuất theo hướng sản xuất hàng hóa.
Sự phát triển kinh tế hộ nông dân sang sản xuất trang trại đang phát triển rộng
khắp ở các vùng trung du, miền núi, đồng bằng và ven biển. Việc chuyển kinh tế
16