BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
--------------------
LA ÁNH DƯƠNG
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM BIẾN DỊ VÀ KHẢ NĂNG DI TRUYỀN
VỀ SINH TRƯỞNG VÀ MỘT SỐ CHỈ TIÊU CHẤT LƯỢNG
THÂN CÂY TẠI CÁC VƯỜN GIỐNG THẾ HỆ 2 KEO LÁ TRÀM
(Acacia auriculiformis A. Cunn. ex Benth)
Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 60.62.60
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
1. TS. HÀ HUY THỊNH
2. TS. PHÍ HỒNG HẢI
HÀ NỘI, 2012
i
LỜI NÓI ĐẦU
Luận văn được hoàn thành theo chương trình đào tạo Cao học hệ chính quy
Mục lục ...…………………………………………………………………..............ii
Danh mục các từ viết tắt ............................................................................................ iv
Danh mục các bảng ....................................................................................................v
Danh mục các hình ................................................................................................... vii
ĐẶT VẤN ĐỀ ............................................................................................................1
Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU .............................................3
1.1 Thông tin chung về loài Keo lá tràm........................................................ 3
1.2 Các nghiên cứu về cải thiện giống Keo lá tràm trên thế giới ..................... 5
1.3 Các nghiên cứu về cải thiện giống Keo lá tràm tại Việt Nam .................... 8
Chương 2: MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ....14
2.1 Mục tiêu nghiên cứu ............................................................................. 14
2.2 Nội dung nghiên cứu ............................................................................ 14
2.3 Phương pháp nghiên cứu ...................................................................... 14
2.3.1. Luận tổng quan .......................................................................................14
2.3.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể .............................................................15
Chương 3: ĐỊA ĐIỂM, VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU VÀ ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC
NGHIÊN CỨU .........................................................................................................22
3.1. Địa điểm và vật liệu nghiên cứu ........................................................... 22
3.1.1. Địa điểm nghiên cứu ...............................................................................22
3.1.2 Vật liệu nghiên cứu ..................................................................................22
3.2 Điều kiện khí hậu khu vực nghiên cứu................................................... 23
3.3. Đặc điểm đất đai khu vực nghiên cứu ................................................... 24
Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ..................................27
4.1. Biến dị gia đình và nguồn hạt giống trong các vườn giống .................... 27
4.1.1. Vườn giống Keo lá tràm thế hệ 2 tại Ba Vì - Hà Nội ..............................27
iii
4.1.2. Vườn giống Keo lá tràm thế hệ 2 tại Nam Đàn – Nghệ An. ...................35
GĐ
Gia đình
VG
Vườn giống
D1,3
Đường kính tại 1,3 m
Hvn
Chiều cao vút ngọn
Vol
Thể tích thân cây
Dtt
Độ thẳng thân
Dnc
Độ nhỏ cành
Ptn
L.sd
Khoảng sai dị đảm bảo
TBVG
Trung bình vườn giống
h2
Hệ số di truyền
CVa
Hệ số biến động di truyền lũy tích
σ2a
Phương sai di truyền lũy tích
v
DANH MỤC CÁC BẢNG
Tên bảng
TT
Trang
lá tràm tại Nam Đàn - Nghệ An.
Chất lượng thân cây của các gia đình trong vườn giống thế hệ 2 Keo
lá tràm tại Nam Đàn - Nghệ An
28
33
35
36
39
Sinh trưởng và chất lượng của cây hậu thế từ các nguồn hạt giống
4.6
khác nhau trong vườn giống thế hệ 2 Keo lá tràm tại Nam Đàn -
40
Nghệ An.
4.7
4.8
4.9
Sinh trưởng và tỷ lệ sống của các gia đình vườn giống thế hệ 2 Keo
lá tràm tại Qui Nhơn - Bình Định.
Chất lượng thân cây của các gia đình trong vườn giống thế hệ 2 Keo
4.19
Hệ số di truyền của các chỉ tiêu sinh trưởng và chất lượng thân cây
Keo lá tràm tại Ba Vì - Hà Nội. (4 tuổi)
Tương quan giữa các tính trạng trong vườn giống Keo lá tràm tại Ba
Vì - Hà Nội theo kiểu gen và kiểu hình (4 tuổi)
Hệ số di truyền của các chỉ tiêu sinh trưởng và chất lượng thân cây
Keo lá tràm tại Nam Đàn - Nghệ An. (3 tuổi)
Tương quan giữa các tính trạng trong vườn giống Keo lá tràm tại
Nam Đàn - Nghệ An theo kiểu gen và kiểu hình (3 tuổi)
Hệ số di truyền của các chỉ tiêu sinh trưởng và chất lượng thân cây
Keo lá tràm tại Qui Nhơn - Bình Định. (3 tuổi)
Tương quan giữa các tính trạng trong vườn giống Keo lá tràm tại
Qui Nhơn - Bình Định theo kiểu gen và kiểu hình (3 tuổi)
Sinh trưởng của 20 cá thể tốt nhất trong vườn giống Keo lá tràm
thế hệ 2 tại Ba Vì - Hà Nội.
Sinh trưởng của 20 cá thể tốt nhất trong vườn giống Keo lá tràm
thế hệ 2 tại Nam Đàn - Nghệ An.
Sinh trưởng của 20 cá thể tốt nhất trong vườn giống Keo lá tràm
thế hệ 2 tại Qui Nhơn - Bình Định.
Tương quan di truyền hoàn cảnh Keo lá tràm thế hệ 2 tại Ba Vì,
Nam Đàn, Qui Nhơn.
49
50
53
54
Vườn giống thế hệ 2 Keo lá tràm tại Ba Vì - Hà Nội, (tuổi 4)
30
4.2
Vườn giống thế hệ 2 Keo lá tràm tại Nam Đàn - Nghệ An, (tuổi 3)
41
4.3
Vườn giống thế hệ 2 Keo lá tràm tại Qui Nhơn - Bình Định, (tuổi 3)
44
4.4
4.5
4.6
4.7
4.8
4.9
Biểu đồ hiệu ứng chọn lọc các tính trạng sinh trưởng tới độ thẳng
Việt Nam từ những năm 1960, và là loài cây sinh trưởng nhanh, có khả năng thích
ứng với nhiều điều kiện sống khác nhau, đặc biệt với các dạng lập địa bị thoái hoá
hoặc đất trống đồi trọc (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2003) [16]. Gỗ Keo lá tràm có tỷ
trọng tương đối cao (0,5-0,7 g/cm3), thớ mịn, vân và màu sắc đẹp, nên được dùng
phổ biến làm gỗ xẻ đóng đồ gia dụng và đồ thủ công mỹ nghệ (Pinyopusarerk,
1990) [37]. Đến nay Keo lá tràm đã trở thành một trong những loài cây trồng rừng
chủ lực trong các chương trình trồng rừng tập trung và trồng rừng phân tán ở nước
ta. Tổng diện tích rừng trồng Keo lá tràm ở Việt Nam khoảng 90.000 ha, tương
đương với 4,5% tổng diện tích rừng trồng trong cả nước (Lê Đình Khả, 2003) [12]
Chương trình cải thiện giống Keo lá tràm, do Trung tâm nghiên cứu giống
cây rừng – Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam – tiến hành, được bắt đầu từ
những năm 1980 bằng việc xây dựng các khảo nghiệm loài và xuất xứ trên một số
vùng sinh thái chính trong cả nước. Từ đó, các xuất xứ như Mibini (PNG), Coen
River (Qld), Kings Plains (Qld), Wenlock R. (Qld), Halroyed (Qld) và Morehead
(PNG) đã được khẳng định là những xuất xứ sinh trưởng nhanh nhất của Keo lá
tràm ở Việt Nam (Lê Đình Khả, 2003) [12]. Để đáp ứng được mục tiêu dài hạn, một
chương trình cải thiện giống Keo lá tràm khoa học và bài bản đã được thiết kế và
thực hiện từ năm 1996, dưới sự hợp tác chặt chẽ với CSIRO Australia. Kết quả là
cho tới nay nhiều khảo nghiệm hậu thế thế hệ 1, thế hệ 2, và khảo nghiệm dòng vô
tính quy mô lớn đã được xây dựng. Các khảo nghiệm này đã trở thành những quần
thể chọn giống có tính đa dạng di truyền cao nhằm cung cấp các thông tin di truyền
cần thiết cho các chương trình chọn giống, và có thể chuyển hóa thành các vườn
giống, và chọn lọc các dòng ưu việt cho trồng rừng trong tương lai.
Ba vườn giống hữu tính thế hệ 2 được xây dựng tại Ba Vì (Hà Nội), Nam
Đàn (Nghệ An), Qui Nhơn (Bình Định), gồm từ 80 -100 cá thể tốt trong những gia
đình ưu việt được chọn lọc từ vườn giống thế hệ 1 xây dựng trong giai đoạn 1996-
2
et al., 1997) [28].
Keo lá tràm (A. auriculiformis A.Cun. ex Benth), có nơi còn gọi là Tràm
bông vàng (vì chúng có lá giống lá cây Tràm và có hoa màu vàng), là loài cây sinh
trưởng nhanh và thường xanh [1]. Keo lá tràm phân bố tự nhiên ở Australia, Papua
New Guinea và Indonesia (Hình 1). Ở Australia loài cây này phân bố chủ yếu ở các
vùng phía Bắc bang Northern Territory với độ cao 400 m (nằm giữa vĩ độ 110 đến
140 Nam và kinh độ 1300 đến 1350 Đông), Cape York Peninsula, Queesland và trên
đảo Torres Strait ở độ cao 150 m (100 đến 160 vĩ nam và 1420 đến 1450 kinh đông).
Ở Papua New Guinea Keo lá tràm bắt gặp chủ yếu ở phía Tây, từ vùng giáp ranh
Irian Jaya đến vùng sông Oriomo. Tại Indonesia loài keo này phân bố gần Papua
New Guinea và trên đảo Kai Island, chủ yếu ở độ cao từ 5 đến 20 m
(Pinyopusarerk. K, 1984). Sau khi nhập nội, Keo lá tràm đã được gây trồng rộng rãi
ở hầu hết các địa phương ở nước ta. Đây là loài cây thích ứng khá rộng với các
4
vùng sinh thái khác nhau, từ vùng cát ven biển tương đối khô hạn miền Trung đến
vùng núi thấp dưới 400 m ở Tây nguyên. (Lê Đình Khả et al., 2001) [11].
Hình 1.1: Phân bố tự nhiên của Keo lá tràm trên thế giới (Pinyopusarerk, 1990)
Gỗ Keo lá tràm có tỷ trọng từ 0,5 đến 0,6 (thậm chí 0,7), nhiệt lượng cao
(4800 đến 4900 kcal/kg), trong gỗ chứa 48 - 50,5% cellulose; 23,5 - 25,5% lignin và
19,6 - 22,7% pentosan (Lê Đình Khả ,1999) [10]. Gỗ lõi mầu vàng sáng tới mầu đỏ
thẫm, thớ gỗ thẳng. Sợi gỗ ngắn, với chiều dài khoảng 0.85 mm và chiều rộng là 0.2
micron. Các tính chất cơ lý gỗ rất tốt và tương đương với gỗ Tếch (Tectona
grandis). Gỗ Keo lá tràm dễ gia công chế biến, tuy nhiên ván xẻ hay bị vỡ hai đầu
(Pinyopusarerk, 1990) [37].
Giống như các loài keo, Keo lá tràm cũng là loài cây có nốt sần ở rễ chứa cả
1.2 Các nghiên cứu về cải thiện giống Keo lá tràm trên thế giới
Biến dị di truyền về tính trạng sinh trưởng (chiều cao, đường kính và thể
tích), độ thẳng thân, các tính trạng cành (góc phân cành và độ dày cành) và các tính
chất gỗ (tỷ trọng, độ co rút gỗ, độ uốn tĩnh và độ uốn đứt gãy) đã được nghiên cứu
và ghi nhận rất sớm từ những chương trình cải thiện giống các loài Keo. Biến dị di
truyền đã được nghiên cứu hầu hết ở các mức độ xuất xứ, khá ít các nghiên cứu tiến
6
hành ở mức độ gia đình. Tuy nhiên, các kết quả đã chỉ ra rằng các biến dị này có thể
đóng góp tích cực trong các chương trình chọn giống.
Các nghiên cứu về di truyền quần thể tự nhiên Keo lá tràm tại Queensland và
Papua New Guinea (Moran et al., 1989) cho thấy rằng loài Keo lá tràm có tỷ lệ thụ
phấn chéo khá cao và quần thể tại Northern Territory có tỷ lệ tự thụ phấn cao nhất
so với các xuất xứ khác (Wickneswari & Norwati, 1993).
Các khảo nghiệm xuất xứ được xây dựng ở một số nước khẳng định biến dị
giữa các xuất xứ là khá lớn về các tính trạng sinh trưởng, và có sự khác biệt rõ ràng
giữa 3 vùng phân bố chính cũng như giữa các xuất xứ trong 1 vùng của Keo lá tràm
(Nghia, 2003; Kamis et al., 1994) [16]. Nói chung, các xuất xứ từ Queensland và
PNG sinh trưởng hơn hẳn các xuất xứ từ Northern Territory (Otsamo et al., 1996).
Biến động vĩ độ của các khu phân bố loài này cũng ảnh hưởng rõ rệt tới sinh trưởng
của các xuất xứ trong các khảo nghiệm ở nhiều nước (Khasa et al., 1995). Khi trồng
tại cùng một lập địa, các xuất xứ phía Bắc, đặc biệt các xuất từ Papua New Guinea
(vĩ độ thấp) sinh trưởng tốt hơn các xuất xứ ở phía Nam (vĩ độ cao).
Song song với các khảo nghiệm loài và xuất xứ, trong khoảng 10 năm gần
đây các kỹ thuật di truyền phân tử cũng đã được áp dụng rộng rãi trong nghiên cứu
chọn giống cây rừng. Các nghiên cứu di truyền phân tử được dùng để đánh giá mức
độ đa dạng di truyền trong quần thể và giữa các quần thể, và tỷ lệ giao phấn chéo
nhiều so với ảnh hưởng của điểm bão hòa nước của gỗ (Sekhar et al., 1967).
Rất ít các nghiên cứu biến dị di truyền về các tính chất cơ lý gỗ. Chí phí
nghiên cứu về các tính chất cơ lý gỗ quá cao, và số lượng mẫu nghiên cứu lớn có
thể là những nguyên nhân mà rất ít các nghiên cứu biến dị di truyền về tính chất cơ
lý gỗ. Đến này, các nghiên cứu biện di về tính chất gỗ Keo lá tràm đã khẳng định có
sự sai khác rõ ràng giữa các xuất xứ (Nor Aini et al., 1997; Hazani, 1994), giữa các
cây và giữa các chiều cao của cây (Aggarwal et al., 2002; Kumar et al., 1987;
Chomchran et al., 1986; Keating & Bolza, 1982)
8
1.3 Các nghiên cứu về cải thiện giống Keo lá tràm tại Việt Nam
Nhờ có nhiều ưu điểm nên Keo lá tràm nhanh chóng trở thành một trong
những loài cây chủ yếu để trồng rừng sản xuất ở nước ta. Hoạt động cải thiện giống
Keo lá tràm đã được tập thể cán bộ, công nhân viên của Phòng Nghiên cứu Giống
thuộc Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam (tiền thân của Trung tâm Nghiên cứu
Giống cây rừng hiện nay) thực hiện từ những năm 1990 trở lại đây thông qua một
loạt các đề tài và dự án. Từ năm 1991 - 1995 đề tài cấp Nhà nước “Xây dựng cơ sở
khoa học cho việc cung cấp nguồn giống cây rừng được cải thiện - mã số KN 03 03” và kế tiếp từ 1996 - 2000 là đề tài cấp Nhà nước “Chọn giống và nhân giống
cho một số loài cây rừng chủ yếu - mã số KH 08 - 04” đều do GS.TS Lê Đình Khả
làm chủ nhiệm đã nghiên cứu từng bước có hệ thống về lĩnh vực cải thiện giống
Keo lá tràm. Hiện nay lĩnh vực này vẫn được kế tục bằng đề tài cấp Bộ “Nghiên cứu
chọn tạo giống có năng suất và chất lượng cao cho một số loài cây trồng rừng chủ
yếu” kéo dài 5 năm (2011 - 2015) do TS. Hà Huy Thịnh làm chủ nhiệm. Ngoài ra
còn phải kể đến các dự án và các cơ quan khoa học ở nước ngoài, như: SIDA SAREC và SKOG - FORSK của Thuỵ Điển, CSIRO và ACIAR của Australia, v.v...
cũng hợp tác với các đề tài trong lĩnh vực cải thiện giống Keo lá tràm. Quá trình kể
trên có thể tóm tắt như sau:
Trong các năm 1982 - 1984, một số lô hạt của một số loài Keo vùng thấp,
trong đó có Keo lá tràm, đã được đưa vào trồng thử có tính chất thăm dò ở một số
Ba Vì, Wondo Village (Qld) cho Đông Hà, Morehead (PNG) cho Bầu Bàng. Trong
đó, xuất xứ Coen River là xuất xứ sinh trưởng tốt cho tất cả các vùng khảo nghiệm.
Riêng nòi địa phương Đồng Nai thuộc nhóm sinh trưởng trung bình và kém ở cả ba
nơi khảo nghiệm. Kết quả khảo nghiệm cũng cho thấy trong các lô hạt của xuất xứ
Coen River thì lô hạt số 16142 là có sinh trưởng và hình dáng thân cây khá nhất.
Điều này chứng tỏ rằng các quần thể khác nhau và lô hạt khác nhau của cùng một
địa phương vẫn có sinh trưởng rất khác nhau (Lê Đình Khả và cộng sự, 2001) [11].
Kết quả khảo nghiệm xuất xứ trong nhiều năm ở nước ta cho thấy trong hàng
chục xuất xứ Keo lá tràm chỉ có một số ít là có sinh trưởng nhanh rõ rệt. Nòi địa
phương Keo lá tràm được nhập trước đây tuy có khả năng chịu đựng khá tốt đối với
10
hoàn cảnh khắc nghiệt, nhưng sinh trưởng kém hơn nhiều xuất xứ khác, và lại có
nhiều cành nhánh (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 1997) [15]. Chính vì vậy việc chọn những
cá thể ưu trội sinh trưởng nhanh, chất lượng thân cây đẹp, cùng với việc tiến hành
khảo nghiệm dòng vô tính để xác định tính ổn định di truyền của chúng là một trong
những biện pháp góp phần nâng cao năng suất và chất lượng rừng trồng loài cây
này.
Đặc biệt trong các năm từ 1996 - 1999 dự án FORTIP (Regional Project on
Forest Tree Impovement) về cải thiện giống cây rừng do Trung tâm Nghiên cứu
Giống cây rừng thuộc Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam hợp tác với CSIRO
của Australia đã trồng 8 ha vườn giống Keo lá tràm tại Cẩm Quỳ (Ba Vì - Hà Nội)
và Chơn Thành (Bình Phước). Vật liệu để xây dựng vườn giống là hạt giống được
thu từ các cây trội đã được chọn lọc tại Papua New Guinea (PNG), các bang
Queesland (QLD), Northern Territory (NT) của Australia và Sakaerat của Thái Lan.
Các vùng lấy giống là những xuất xứ đã được đánh giá là tốt nhất từ các khảo
nghiệm trước đây tại Việt nam và Thái Lan. Hạt của mỗi xuất xứ được lấy từ một số
cây trội nhất định, đó là những cây trội thụ phấn tự do nên được coi là những gia
sinh trưởng. Việc sử dụng các cá thể Keo lá tràm ưu việt có tính chất gỗ tốt ở cả loài
bố và mẹ trong các phép lai có thể sẽ trở nên hiệu ích nhằm tạo ra các dòng Keo lai
mới có các tính chất gỗ tốt hơn và tăng khả năng chống chịu đổ gãy ở những lập địa
thường có gió lớn.
Những thông tin và khuyến nghị cho xây dựng chiến lược cải thiện giống
Keo lá tràm ở Việt Nam cũng đã được thảo luận. Cụ thể là ở thế hệ 1 hoặc 2,
chương trình cải thiện giống cho Keo lá tràm nên tập trung cải thiện năng suất của
các giống chọn tạo (đặc biệt là đường kính) và chất lượng thân cây (cải thiện độ
thẳng thân và độ duy trì trục thân) nhằm tăng tỷ lệ thành khí cho gỗ xẻ Keo lá tràm
cũng như giảm chi phí khai thác cho gỗ giấy. Chỉ số chọn lọc trong chọn giống dựa
vào đường kính, tỷ trọng và độ co rút toàn phần theo cả hai chiều xuyên tâm và tiếp
tuyến, và kết hợp với những giá trị giới hạn của độ thẳng thân và độ duy trì trục
thân nên được xây dựng để cải thiện cả về năng suất, chất lượng thân cây, tỷ trọng
gỗ và độ co rút gỗ cho các giống mới tạo ra từ chương trình chọn giống Keo lá tràm.
Việc hạn chế số lượng tính trạng và sự nới lỏng giá trị giới hạn trong chọn lọc dòng
ở quần thể chọn giống hạn chế là hết sức cần thiết để tìm ra đủ số lượng dòng phù
12
hợp với tiêu chí chọn lọc và công tác trồng rừng dòng vô tính Keo lá tràm. Mặc
khác, để quản lý tốt tương tác di truyền – hoàn cảnh, các dòng ưu việt nhất tại từng
lập địa phải được chọn lọc nhằm tối ưu hóa tăng thu di truyền và cũng cần được xây
dựng từng quần thể chọn giống cho từng lập địa.
Các nghiên cứu chọn lọc dòng vô tính Keo lá tràm có sinh trưởng tốt, hình
dạng thân đẹp và tính chất gỗ phù hợp cho gỗ xẻ cũng đã được tiến hành từ năm
1996 trong khuôn khổ đề tài KH 08- 04. Bước đầu đã xác định được một số dòng có
triển vọng ở Ba Vì (Hà Nội) là các dòng BVlt81, BVlt 82, BVlt 83, BVlt 84 BltV85
và BVlt25. Trong những dòng vô tính này, một số dòng ưu trội (như BVlt83,
BVlt84, BVlt85 và BVlt25) đã được công nhận là giống tiến bộ kỹ thuật đầu tiên
Từ chương trình chọn giống Keo lá tràm, nhiều dòng vô tính Keo lá tràm ưu
việt đã được công nhận để phục vụ trồng rừng sản xuất. Nhiều dòng có năng suất
cao và chất lượng gỗ cao đáp ứng yêu cầu cho nền công nghiệp chế biến đồ gỗ xuất
khẩu của nước ta.
14
Chương 2
MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định được mức độ biến dị và khả năng di truyền của các tính trạng sinh
trưởng và một số chỉ tiêu chất lượng của Keo lá tràm tại các vườn giống thế hệ hai.
- Xác định được mối quan hệ tương tác di truyền - hoàn cảnh làm cơ sở khoa
học cho các bước nghiên cứu cải thiện giống tiếp theo.
- Tuyển chọn được một số cá thể và gia đình Keo lá tràm có năng suất và
chất lượng cao.
2.2 Nội dung nghiên cứu
1. Đánh giá mức độ biến dị về sinh trưởng và một số chỉ tiêu chất lượng thân
cây giữa các gia đình Keo lá tràm trong các vườn giống Ba Vì - Hà Nội,
Nam Đàn - Nghệ An, Qui Nhơn - Bình Định.
2. Xác định hệ số di truyền, ước lượng tăng thu di truyền lý thuyết và tương
quan di truyền cho các tính trạng nghiên cứu, hiệu ứng chọn lọc tính trạng
sinh trưởng tới độ thẳng thân
3. Xác định mối tương tác di truyền hoàn cảnh giữa các chỉ tiêu sinh trưởng và
chất lượng thân cây.
4. Chọn lọc các cá thể tốt trong các gia đình tốt
2.3 Phương pháp nghiên cứu
Điều tra các chỉ tiêu phản ánh chất lượng thân cây:
- Độ thẳng thân (Dtt): Được xác định bằng mục trắc và cho điểm theo 5 cấp từ 1-5
điểm (Lê Đình Khả, 2003) [12].
+ Thân cây rất cong: 1 điểm
16
+ Thân cây cong: 2 điểm
+ Thân cây tương đối thẳng: 3 điểm
+ Thân cây thẳng: 4 điểm
+ Thân cây rất thẳng: 5 điểm
- Độ nhỏ cành (Dnc): Được xác định bằng phương pháp mục trắc và cho điểm theo
5 cấp từ 1-5 điểm (Lê Đình Khả, 2003) [12]
+ Cành rất lớn: đường kính gốc cành ≥ 1/2 đường kính thân tại vị trí phân
cành: 1 điểm
+ Cành lớn: đường kính gốc cành 1/2 – 1/4 đường kính thân tại vị trí phân
cành: 2 điểm
+ Cành trung bình: đường kính gốc cành 1/4 - 1/8 đường kính thân tại vị trí
phân cành: 3 điểm
+ Cành nhỏ: đường kính gốc cành 1/8 - 1/10 đường kính thân tại vị trí phân
cành: 4 điểm
+ Cành rất nhỏ: Đường kính gốc cành < 1/10 đường kính thân tại vị trí phân
cành: 5 điểm
- Phát triển ngọn (Ptn): Được xác định bằng phương pháp mục trắc, cho điểm theo 5
cấp từ 1-5 điểm (Lê Đình Khả, 2003) [12]
+ Cây mất ngọn, cụt ngọn: 1 điểm
+ Cây có nhiều ngọn cùng phát triển, tán dạng hình elip phát triển theo chiều
rộng (ngang): 2 điểm
+ Có ngọn chính phát triển, ngọn phát triển lệch, tán lệch hay tán dạng hình
Gia
D1.3
Hvn
đình
(cm)
(m)
1
1
1
1
1
1
1
1
2
2
…
…
…
…
…
Người đánh giá:...........
Dtt
Dnc
Ptn
Sk
(điểm) (điểm) (điểm) (điểm)
Ghi
chú