ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư tuyến giáp là loại ung thư chiếm tỷ lệ thấp trong tổng số ung thư nói
chung với tỷ lệ khoảng 1%, song là loại ung thư phổ biến của hệ nội tiết với tỷ lệ
trên 90% các loại ung thư của hệ nội tiết [7]. Tỷ lệ mắc ung thư tuyến giáp khoảng
0,5-10/100.000 dân, tỷ lệ này cũng tùy theo mỗi vùng miền, quốc gia, bệnh ở nữ
giới cao hơn nam giới 2-3 lần. Ung thư tuyến giáp gặp ở mọi lứa tuổi song nhóm
tuổi hay gặp nhất là 7-20 tuổi và 40-65 tuổi [34],[36]. Ở Việt Nam theo số liệu
thống kê cho thấy tại Hà Nội tỷ lệ ung thư tuyến giáp là 1,9/100.000 dân, tỷ lệ ở nữ
cao hơn nam giới là 2,6 lần, còn lại tại Thành phố Hồ Chí Minh tỷ lệ ung thư tuyến
giáp là 1,5/100.000 dân đối với nam và 2,8/100.000 dân đối với nữ [12]. Các yếu tố
nguy cơ được nhắc đến trong ung thư tuyến giáp như tiền sử tiếp xúc với tia xạ vùng
đầu cổ, những người có tiền sử gia đình có bệnh đa bướu nội tiết, những người sống
trong vùng bị ảnh hưởng bức xạ hạt nhân…
Ung thư tuyến giáp thường phát triển âm thầm, chủ yếu phát triển tại chỗ và
di căn hạch vùng cổ. Các yếu tố ảnh hưởng đến tiên lượng xấu là sự xâm lấn các cấu
trúc xung quanh, di căn hạch, di căn xa, bệnh nhân có tiền sử tiếp xúc tia xạ và tùy
thuộc vào loại mô bệnh học ung thư [29]. Việc đánh giá một u giáp không đơn giản
nhất là đối với những u nhỏ chưa có biểu hiện trên lâm sàng. Vì vậy khi đánh giá
một u giáp cần phải kỹ lưỡng, phối hợp giữa lâm sàng, cận lâm sàng. Ngày nay có
nhiều phương pháp, thiết bị hiện đại để giúp chẩn đoán một u giáp như siêu âm,
chụp xạ hình tuyến giáp, xạ hình toàn thân, chụp cộng hưởng từ, các xét nghiệm tế
bào học, xét nghiệm nồng độ hormon… giúp các nhà lâm sàng có thể chẩn đoán
tương đối chính xác đó là một u giáp lành hay ác tính trong đó việc kết hợp giữa lâm
sàng, siêu âm và tế bào học đóng một vai trò quan trọng. Việc phát hiện sớm các
khối u giáp qua đó giúp các nhà lâm sàng có thể đưa ra những chỉ định điều trị kịp
thời nhằm hạn chế tiến triển và những tai biến của ung thư tuyến giáp.
Những phương pháp điều trị ung thư tuyến giáp như phẫu thuật, điều trị bằng
Iod phóng xạ, xạ trị ngoài và điều trị hormon thay thế… Trong đó phương pháp
1
điều trị cơ bản là phẫu thuật kết hợp điều trị Iod phóng xạ. Trước đây việc đánh giá
và điều trị ung thư tuyến giáp thường do các bác sĩ Nội tiết, Ngoại khoa đảm nhiệm,
thư tuyến giáp. Đầu những năm 1960 Abramor, MgrenC, Nilsson L.R, Crile G đã
dùng phương pháp chọc hút kim nhỏ làm tế bào học để chẩn đoán các bệnh tuyến
giáp [30].
Sau hội nghị quốc tế chống ung thư tại Genever năm 1968 phương pháp tế
bào học được coi là phương pháp quan trọng nhất trong chẩn đoán các khối u tuyến
giáp. Sau đó có rất nhiều tác giả nghiên cứu và xây dựng tiếu chuẩn chẩn đoán trong
lĩnh vực này như: Nikitina N.M năm 1970, Zaza M năm 1974, Kriksk và cộng sự
năm 1976… Những năm trở lại đây nhiều tác giả vẫn tiếp tục nghiên cứu về tiêu
chuẩn chẩn đoán tế bào học cho những typ mới hoặc biến thể mới của các khối u
tuyến giáp như: J.K.C Chan năm 1995, John Macdonald và CS năm 1995 – 2000,
Bruce M.Wening & cộng sự năm 1997, Leonard Wartosky và cộng sự năm
2001[35].
Về mô bệnh học, ngoài những nghiên cứu tỷ lệ mắc bệnh tại các vùng khác
nhau trên thế giới (G.Riccacbona năm 1969, 1974, 1981, 1990; Jonh Wurzel năm
3
1997…), tỷ lệ mắc bệnh ở hai giới (Maria L.Carcagiu năm 1996, G.Riccacbona năm
1998…) còn có nhiều nghiên cứu về tỷ lệ các typ mô bệnh học của ung thư tuyến
giáp. Theo J.Macdonald, ung thư biểu mô tuyến giáp thể nhú, nang chiếm từ 81 –
87%, ung thư biểu mô tuyến giáp thể tủy chiếm khoảng 6 – 8 %, các loại ung thư
không biệt hóa, kém biệt hóa chiếm khoảng 5%. Theo Steven A.Schroeder, ung thư
biểu mô tuyến giáp thể nhú chiếm 61%, thể nang chiếm 18%, thể không biệt hóa
chiếm 15% và thể tủy chiếm 6%. Theo Lesli J.Degroot và cộng sự (2000), ung thư
biểu mô tuyến giáp thể nhú chiếm 62%, thể nang chiếm 18%, thể tủy 6%, thể không
biệt hóa khoảng 10%, một số tác giả khác cũng cho kết quả tương tự [18],[20],[35].
Ngày nay, có nhiều nghiên cứu chuyên sâu về ung thư tuyến giáp, các
phương pháp thăm dò, chẩn đoán như: chụp đồng vị phóng xạ, siêu âm, chụp cắt lớp
vi tính, chụp cộng hưởng từ…, các phương pháp sinh hóa, chọc hút tế bào bằng kim
nhỏ, sinh thiết tuyến giáp được ứng dụng khá rộng rãi trong việc chẩn đoán và điều
trị ung thư tuyến giáp.
Về điều trị, Kocher là người tiên phong phẫu thuật tuyến giáp và tới năm
Tuyến giáp là một tuyến nội tiết nằm ở phần trước khí quản cổ gồm hai thùy:
thùy phải và thùy trái, hai thùy này được nối với nhau bởi eo tuyến giáp. Đôi khi có
một phần tuyến giáp hình tam giác gọi là thùy tháp, kéo dài từ bờ trên eo tuyến giáp
lên trên. Thùy tháp nằm lệch sang trái so với đường giữa và nối với xương móng
bằng một dải xơ là dấu vết của ống giáp lưỡi.
Eo tuyến giáp nằm bắt ngang phía trước vòng sụn khí quản thứ 2, 3, 4 gồm
hai bờ trên và dưới. Dọc theo bờ trên eo giáp có nhánh nối giữa hai động mạch giáp
trên hai bên, bờ dưới eo giáp có các nhánh tĩnh mạnh giáp dưới thoát ra. Liên quan
của eo tuyến giáp ở phía trước từ nông vào sâu gồm: da, cơ bám da cổ, tĩnh mạch
cảnh trước, lá nông của mạc cổ, các mạc cơ dưới móng, cơ giáp móng, cơ ức giáp.
Liên quan phía sau là mạc trước khí quản và khí quản.
5
.
Hình 1.1. Tuyến giáp nhìn từ trước [2]
Mỗi thùy bên tuyến giáp có hình tháp, dài 5 – 6 cm, dày 1 – 2,5 cm, rộng 2 –
4 cm, trọng lượng trung bình tuyến giáp từ 30 – 40g. Mỗi thùy bên gồm một đỉnh,
một đáy, ba mặt và hai bờ.
Đỉnh: hướng lên trên, ra ngoài, tới ngang mức đường chếch của sụn giáp. Liên
quan với động mạch giáp trên, được che phủ bởi cơ ức giáp và ức móng.
Đáy: ở ngang mức vòng sụn khí quản 5, 6 phía trên bờ trên cán ức khoảng 1
-2 cm, liên quan với bó mạch giáp dưới và ống ngực.
Ba mặt gồm: mặt ngoài, mặt trong và mặt sau ngoài
Mặt ngoài: được phủ từ nông vào sâu bởi bụng trên cơ vai móng, cơ ức
móng và cơ ức giáp.
Mặt trong: liên quan với thanh quản, khí quản, thực quản, nhánh ngoài của
thần kinh thanh quản trên và thần kinh thanh quản quặt ngược.
Mặt sau ngoài: liên quan với bao cảnh.
6
Hai bờ gồm: bờ trước và bờ sau; bờ trước liên quan nhánh của động mạch
giáp trên, bờ sau liên quan với các tuyến cận giáp, động mạch giáp dưới và nhánh
gần cực trên. Thần kinh thanh quản quặt ngược thường đi cùng các nhánh của động
mạch giáp dưới khi đi trong rãnh khí thực quản.
Hình 1.2.Tuyến giáp, mạch máu tuyến giáp nhìn từ trước [2]
8
Ngoài ra, tham gia cung cấp máu cho tuyến giáp còn có thể có động mạch giáp
dưới cùng tách ra từ thân động mạch cánh tay đầu hoặc cung động mạch chủ, từ
nguyên ủy động mạch giáp dưới cùng đi lên trên trước khí quản vào eo tuyến giáp.
- Tĩnh mạch của tuyến giáp:
Các tĩnh mạch của tuyến giáp tạo nên một đám rối ở mặt trước ngoài mỗi thùy
bên tuyến giáp, từ đó xuất phát các tĩnh mạch giáp trên và tĩnh mạch giáp giữa đổ vào
tĩnh mạch cảnh trong, tĩnh mạch giáp dưới đổ vào thân tĩnh mạch cánh tay đầu.
- Dẫn lưu bạch huyết của tuyến giáp:
Dẫn lưu bạch huyết cho tuyến giáp phần lớn các mạch bạch huyết đổ vào các hạch
bạch huyết cổ ngang, nhóm gai, nhóm cảnh, nhóm cạnh khí quản và trước khí quản.
- Thần kinh chi phối tuyến giáp:
Chi phối thần kinh cho tuyến giáp là các sợi giao cảm tách ra từ các sợi giao cảm cổ
trên, giữa, dưới.
1.2.3. Liên quan giải phẫu ứng dụng của tuyến giáp [17],[23]
1.2.3.1. Liên quan tuyến cận giáp
Mỗi người có thể có từ 2 đến 6 tuyến cận giáp nhưng thường là có 4 tuyến,
mỗi bên có 2 tuyến, một ở trên, một ở dưới của mặt sau mỗi thùy tuyến giáp. Tuyến
cận giáp có hình dạng dẹt, hình quả lê, đôi khi hình bầu dục dẹt, màu nâu vàng, cam
hay lục nhạt. Tuyến có kích thước: dài 5_10 mm, rộng 3_4 mm, dày 1_2 mm, trọng
lượng trung bình 40_50 mg.
Tuyến cận giáp được cung cấp máu chủ yếu bởi các động mạch giáp dưới,
đôi khi các nhánh nhỏ của động mạch giáp trên cũng tham ra cung cấp máu cho
tuyến cận giáp.
Tuyến cận giáp trên thường nằm ở giữa hoặc cao hơn ở bờ sau tuyến giáp,
ngay mức bờ dưới sụn nhẫn.
Tuyến cận giáp dưới có thể nằm ở trong bao tuyến, phía dưới động mạch
- Nhóm Ia: Tam giác dưới cằm. Giới hạn là bụng trước cơ nhị thân và xương móng.
- Nhóm Ib: Tam giác dưới hàm. Giới hạn là thân xương hàm dưới, bụng
trước và bụng sau cơ nhị thân.
Nhóm II: Nhóm hạch cảnh trên
Giới hạn trước: bờ ngoài cơ ức móng. Phía sau: bờ sau cơ ức đòn chũm. Phía trên:
nền sọ. Phía dưới: ngang mức xương móng (mức phân đôi của động mạch cảnh chung).
Nhóm này được chia ra IIa, IIb bởi thần kinh XI. Mốc lâm sàng phía trên cơ nhị
thân và xương móng. Mốc phẫu thuật là chỗ phân đôi của động mạch cảnh chung.
Nhóm III: Hạch cảnh giữa
Giới hạn trước: bờ ngoài cơ ức móng. Phía sau: bờ trước cơ ức đòn chũm.
Phía trên: ngang mức xương móng. Phía dưới: cơ vai móng.
Nhóm IV: Nhóm cảnh thấp
Giới hạn trên: cơ vai móng. Phía dưới: xương đòn. Phía trước: bờ ngoài cơ ức
móng. Phía sau: bờ sau cơ ức đòn chũm.
11
- Nhóm IVa: Dọc theo tĩnh mạch cảnh trong và sâu dọc đầu ức của cơ ức đòn chũm.
- Nhóm IVb: Dọc theo đầu đòn của cơ ức đòn chũm.
Hạch nhóm II, III, IV gọi là nhóm cảnh gồm các hạch gắn với tĩnh mạch cảnh
trong, mỡ và tổ chức liên kết ở phía trong và phía sau của cơ ức đòn chũm. Đặc biệt
nhóm II liên quan mật thiết với thần kinh XI.
Nhóm V: Nhóm hạch của tam giác sau
Gồm những hạch khu trú dọc theo nửa thấp của thần kinh XI và động mạch cổ
ngang.
Giới hạn trước: bờ sau cơ ức đòn chũm. Phía sau: bờ trước cơ thang. Phía dưới
xương đòn. Bụng dưới cơ vai móng chia nhóm V làm:
- Nhóm Va: hạch chạy dọc theo thần kinh XI.
- Nhóm Vb: hạch chạy dọc động mạch cổ ngang.
Nhóm VI: nhóm hạch Delphilan
Gồm hạch trước khí quản, trước sụn nhẫn, quanh khí quản.
Giới hạn ngoài: bao cảnh. Phía trên: xương móng. Phía dưới: hõm thượng đòn.
điều hòa khi có sự thay đổi nồng độ Iod vô cơ, hữu cơ trong tuyến giáp [10],[22]
1.3.3. Tác dụng của Calcitonin
Calcitonin có tác dụng làm giảm nồng độ calci huyết do cơ chế tăng lắng
đọng calci ở xương bởi sự hạn chế hoạt động và hình thành các tế bào tủy xương.
Calcitonin đặc biệt có ý nghĩa ở giai đoạn dậy thì nhằm đáp ứng với tốc độ thay đổi
xương tạo nên tầm vóc của cơ thể [10].
1.3.4. Cơ chế hình thành kháng thể Thyroglobulin (Tg) và Anti
Thyroglobulin (Anti Tg)
Thyroglobulin là một chất được tổng hợp bởi tế bào tuyến giáp và được tiết
vào lòng nang tuyến. Bình thường Tg không tiếp xúc với các thành phần khác của
cơ thể nên hệ miễn dịch không biết đến nó. Trong trường hợp bị tổn thương các
nang tuyến giáp Tg được giải phóng vào máu và được cơ thể coi như là một chất lạ
sẽ kích thích hệ liên võng nội mô sản xuất ra tự kháng thể kháng lại Tg (Anti Tg).
[10],[16].
1.4. BỆNH HỌC UNG THƯ TUYẾN GIÁP
1.4.1. Dịch tễ
Ung thư tuyến giáp chiếm khoảng 1% các loại ung thư và là loại ung thư phổ
biến nhất của các tuyến nội tiết với tỷ lệ chiếm khoảng 90%[7].
Tại Mỹ ung thư tuyến giáp được chẩn đoán 45/1000.000, chiếm 1,3% các
bệnh ác tính và 0,4% các bệnh ung thư gây chết người [16].
Tỷ lệ mắc bệnh ít có sự khác biệt giữa các vùng miền trên thế giới, tuy nhiên
tỷ lệ này cao hơn ở một vài cộng đồng dân cư như Hawail, phụ nữ ở quần đảo
Pacific Polynesia, một số vùng của Nhật Bản (Hiroshima, Nagasaki) [16].
Ung thư tuyến giáp gặp ở mọi lứa tuổi với hai đỉnh cao là 7 – 20 và 40 – 65
tuổi, tỷ lệ nam trên nữ xấp xỉ 1:3[16],[34],[36].
Ở Việt Nam, các số liệu thống kê năm 2000 cho thấy tỷ lệ mắc ung thư tuyến
giáp là 0,9% ở nam và 2,5 % ở nữ. Ở Hà Nội tỷ lệ mắc bệnh ở nam là 0,8/100.000 dân,
ở nữ là 2,5/100.000 dân, ở Thành phố Hồ Chí Minh tỷ lệ mắc bệnh ở nam là
14
1,5/100.000 dân và ở nữ là 2,8/100.000 dân. Tỷ lệ mắc ung thư tuyến giáp trung bình
đứng tuổi, nhiều ở vùng thiếu Iod và bướu cổ lưu hành, tiến triển chậm, giai đoạn
cuối có thể di căn theo đường máu đến xương, phổi và hệ thần kinh trung ương.
• Ung thư biểu mô tuyến giáp thể tủy:
Chiếm khoảng 5 – 10% các loại ung thư tuyến giáp, bệnh tiến triển chậm, sàng
lọc định kỳ bằng định lượng nồng độ Calcitonin cho phép chẩn đoán sớm ung thư
tuyến giáp thể tủy.
• Ung thư biểu mô tuyến giáp không biệt hóa:
Chiếm khoảng 10% các trường hợp ung thư tuyến giáp.
• Ung thư tế bào Hurthle:
Ít gặp, thường được xếp vào với ung thư tuyến giáp thể nang vì có đặc điểm và
tiên lượng tương đối giống nhau.
Các loại ung thư khác như: ung thư tổ chức liên kết (sarcom), lympho, và do di
căn từ các cơ quan khác đến chiếm tỷ lệ thấp (<1%).
Ung thư biểu mô tuyến giáp thể nhú – nang được xếp vào loại ung thư biểu mô
tuyến giáp thể nhú.
1.4.4. Lâm sàng ung thư tuyến giáp
1.4.4.1. Triệu chứng cơ năng [8]
Giai đoạn đầu: Triệu chứng cơ năng thường nghèo nàn, ít giá trị. Đa số bệnh
nhân đến khám vì xuất hiện hiện tượng nuốt vướng, nuốt nghẹn, đôi khi có khàn
tiếng hoặc khó thở, trong một số trường hợp bệnh nhân đến khám vì thấy xuất hiện
khối sưng phồng vùng cổ…, điều quan trọng cần ghi nhận là hoàn cảnh, thời gian
phát hiện các dấu hiệu đó.
Khối u lớn nhanh gợi ý là ung thư (đặc biệt gần đáy tuyến) nhưng lưu ý
những u tuyến và nang cũng có thể to nhanh.
Trong trường hợp xuất huyết trong u thường gây đau cấp tính và to
nhanh thường ở thể giả viêm của ung thư tuyến giáp.
Giai đoạn muộn: Khối u lớn, xâm lấn, bệnh nhân thường có biểu hiện
16
nuốt vướng, khó thở, khàn tiếng. Ung thư thể không biệt hóa có thể phát triển
nhanh, u to dính vào mô xung quanh, xâm lấn khí quản gây nghẹt thở.
- Định lượng Calcitonin, CEA (Carcino embryoniv antigen)
Bình thường trong máu Calcitonin gần như không có.
Nồng độ Calcitonin, CEA tăng cao trong trường hợp ung thư tuyến giáp thể tủy.
1.4.5.2. Siêu âm tuyến giáp và vùng cổ [9],[31],[39]
Siêu âm là phương tiện chẩn đoán có lợi điểm an toàn, không độc hại, rẻ tiền
và rất hiệu quả để đánh giá cấu trúc của tuyến giáp.
Siêu âm có thể giúp phát hiện các khối u tuyến giáp nhỏ,ở vị trí sâu dễ bị bỏ
sót trong thăm khám lâm sàng.
Siêu âm có thể giúp xác định dạng tổn thương của u tuyến giáp là nang hay
nhân, hay dạng hỗn hợp nang nhân, một hay nhiều nhân. Tổn thương nhân có nguy
cơ ác tính hóa khoảng 20%, dạng hỗn hợp nang nhân có nguy cơ ác tính hóa cao
khoảng 30%, ngược lại ổn thương nang có nguy cơ ác tính hóa thấp.
Siêu âm có thể giúp đánh giá kích thước, thể tích của khối u và của tuyến giáp.
Siêu âm giúp theo dõi về sự thay đổi kích thước, mật độ của u tuyến giáp trong
điều trị nội khoa, sớm phát hiện được nhân tiềm tàng hay tái phát.
Siêu âm có thể giúp đánh giá mức độ chèn ép mạch máu, khí quản, thực quản
và đánh giá hạch cổ.
Siêu âm giúp định hướng chính xác đường đi của kim trong chọc hút tế bào học.
Siêu âm có thể giúp gợi ý một số yếu tố nguy cơ ác tính như: xâm lấn, phá vỡ
vỏ bao giáp, vi vôi hóa bên trong u giáp, có viền bất thường, tăng sinh mạch trong
khối u trên phổ Doppler, có hạch vùng cổ.
* Trong hội nghị khoa học về ung thư tuyến giáp tháng 10 năm 2004 tại
Washington DC các nhà khoa học Mỹ đã đưa ra một số vấn đề trong đó có giá trị
18
tính năng của siêu âm trong ung thư tuyến giáp [39]:
Siêu âm Độ nhạy Độ đặc hiệu
Giá trị chẩn đoán
dương tính
Calci hóa vi thể 26.1-59.1% 85.8-95.0% 24.3-70.7%
Có giảm âm 26.5-87.1% 43.4-94.3% 11.4-68.4%
* Ung thư biểu mô tuyến giáp thể nhú
Tế bào u thuộc loại biểu mô hình tròn, đơn dạng, nhân to ra, tăng sắc, màng
nhân dày và không đều, bào tương sáng, ưa acid trong khi nhân lại nhạt màu, lì đi
giống hình “ thủy tinh mờ”. Mức độ bất thường của tế bào u biểu hiện vừa phải,
chúng sắp xếp thành từng ổ nhỏ, đám đặc hay cấu trúc nhú, hợp bào nhiều nhân,
chất keo chủ yếu ở ngoài tế bào, đôi khi ở giữa nhú.
* Ung thư biểu mô tuyến giáp thể nang
Tế bào u hình tròn hay bầu dục, tỷ lệ nhân trên bào tương tăng, nhân to ra tăng
sắc, màng nhân dày không đều, lưới nhiễm sắc thô, hạt nhân nổi rõ, đôi khi có góc
cạnh, múi, hiếm hình nhân chia. Tế bào u đứng riêng rẽ, xếp thành ổ nhỏ hay đám đặc.
* Ung thư biểu mô tuyến giáp thể tủy
Tế bào u hình tròn hay đa diện, có khi hình thoi, có thể đứng rải rác hay xếp
thành bè, dây, ổ nhỏ. Tế bào có nhân lệch một bên khá rõ với một số lớn tế bào chứa
từ 2 – 4 nhân, hạt nhân nhiều, to, nổi rõ, hạt nhân khổng lồ bắt màu kém, đường
kính nhân to hơn so với tế bào bình thường
* Ung thư biểu mô tuyến giáp thể không biệt hóa
Tế bào ung thư dày đặc, có nhiều hình nhân quái nhân chia với các hạt nhân
phì đại.
1.4.5.4. Sinh thiết tức thì
20
Là phương pháp chẩn đoán giải phẫu mô bệnh học tức thì trong phẫu thuật,
rất có giá trị để giúp phẫu thuật viên có hướng xử trí, quyết định phương pháp phẫu
thuật. Kết quả sinh thiết tức thì gồm lành tính, ác tính và nghi ngờ. [14].
1.4.5.5. Sinh thiết khối u sau mổ
Là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán chính xác mô bệnh học của khối u.
Đặc điểm mô bệnh học của ung thư tuyến giáp [14]:
* Ung thư biểu mô tuyến giáp thể nhú
Đại thể: u là một khối không đau, đôi khi nhận rõ trong một số trường hợp u
phát triển thầm lặng và dấu hiệu đầu tiên là hạch cổ to do di căn.
Vi thể: u bao giờ cũng có cấu trúc nhú, hình ảnh chiếm ưu thế là các nhú gồm
Đại thể: Đa số bệnh nhân đã bị tổn thương lan rộng làm thành những khối u
lớn thấy rõ khi sờ nắn.
Vi thể: u quá kém biệt hóa để có thể giống bất kỳ loại ung thư nào khác, trường
hợp điển hình u được cấu tạo với những tỷ lệ khác nhau của tế bào hình thoi, tế bào
khổng lồ, thường ngụy trang như một sarcom. Thường có sự pha trộn nhiều cấu
trúc, thành phần kể cả tế bào Malpighi.
* Ung thư tế bào Hurthle
Đại thể: thường có kích thích lớn hơn các loại u khác. Chúng có màu nâu sáng
đặc trưng trên mặt cắt và thường là u đặc đơn độc. Ngoài ra còn hay thấy hình ảnh
hoại tử, chảy máu và xơ hóa ở vùng trung tâm. Ranh giới u có thể rõ hay không rõ
tùy thuộc giai đoạn phát triển của u.
Vi thể: cấu trúc và tế bào u gần giống như u tuyến tế bào ưa acid tuy nhiên
trong nhiều trường hợp ung thư tế bào Hurthle, lượng bào tương ít hơn do đó tỷ lệ
nhân trên bào tương tăng lên. Phần lớn các tế bào u có hình trụ cao hoặc hình khối.
Có thể thấy một vài nhân quái, thấy nhiều hình nhân chia và nhân kiềm tính hơn so
với tế bào bình thường.
1.4.5.6. Chụp xạ hình tuyến giáp và xạ hình toàn thân
22
* Chụp xạ hình tuyến giáp [21],[32]
Xạ hình cho thấy hình ảnh, chức năng của tuyến giáp và nhân giáp. Phần lớn
ung thư tuyến giáp không bắt xạ và biểu hiện bằng hình ảnh nhân lạnh, nhưng phần
lớn nhân lạnh là u lành, nang tuyến vì vậy chụp xạ hình tuyến giáp ít có giá trị xác
định bản chất u và còn có thể bỏ sót các khối u có kích thước nhỏ.
* Chụp xạ hình toàn thân [15]
Rất có ích trong việc phát hiện di căn xa, tái phát sau điều trị.
1.4.5.7. Chụp cắt lớp điện toán và cộng hưởng từ [31]
Chụp cắt lớp điện toán (Computerized Tomography –CT) và chụp cộng
hưởng từ (Magnetic Resonance Imaging –MRI) là phương tiện để đánh giá sự lan
rộng ung thư tuyến giáp vào cấu trúc lân cận và di căn hạch. CT có tiêm chất cản
quang iod cho thấy hình ảnh chi tiết tuyến giáp và đánh giá di căn hạch tốt hơn
M1: Có di căn xa
Phân loại giai đoạn bệnh theo AJCC (American Joint Committee on
Cancer) (1997).
Ung thư biểu mô thể nhú hoặc thể nang
Giai đoạn Bệnh nhân < 45 tuổi Bệnh nhân > 45 tuổi
Giai đoạn I
Giai đoạn II
Giai đoạn III
Giai đoạn IV
T bất kỳ, N bất kỳ, Mo
T bất kỳ, N bất kỳ, M1
-
-
-
T1, No, Mo
T2, T3, No, Mo
T4, No, Mo
T bất kỳ, N1, Mo
T bất kỳ, N bất kỳ, M1
Ung thư tuyến giáp thể tủy
Giai đoạn I
Giai đoạn II
Giai đoạn III
Giai đoạn IV
T1, No, Mo
T2 – T4, No. Mo
T4, No, Mo
T bất kỳ, N1, Mo
T bất kỳ, N bất kỳ, M1
Ung thư tuyến giáp không biệt hóa, tất cả mọi trường hợp đều giai đoạn IV
khả năng phẫu thuật ở thời điểm chẩn đoán có chăng chỉ là mở khí quản để duy trì
đường thở.
1.4.7.2. Điều trị bằng I
131
[1],[5],[28]
25